Thiền Cốc Số 5


Lem Nhem Tạp Nhạp

Lẩn thẩn tâm Kinh

 




Thiền Mỗ : Tháng trước đứa con trai đem lên cho Thiền Mỗ quyển Lăng Già Tâm Kinh và Quyển Duy Ma Cật Sở Thuyết Kinh. Sau đó vài tuần, cô em gái lại tặng cho bức tượng Bồ Đề Đạt Ma bằng đồng thật rất đẹp. Không biết có phải đó là cái cơ duyên hay không ?

Lem Nhem Thiền Sư : Nếu đó là cái cơ duyên thì Huynh phải cạo đầu, khổ luyện Tâm Kinh và đem cái gì Huynh hiểu được truyền lại cho đời.

Anh Học Trò : Cạo đầu xong phải chích 9 dấu nhang trên cái sọ dừa của ông đó!

TM : Thôi đi ! không truyền cái gì cả. Trí óc ta kém cỏi làm sao hiểu được bộ kinh Lăng Già này ? Hơn nữa ta đã quen ăn tục nói phét từ lâu rồi.

Lem Nhem Thiền Sư :Có thư của Đại Sư huynh gởi tới này. Các huynh đệ nghe này :

Tây phương cực lực, chủ nhật 16-11-2008 dl.

Đề tài nói chuyện trong khi điểm tâm giữa anh và bạn đời của anh thường được bắt đầu bằng câu hỏi: " Sáng nay anh ngồi thiền có thấy gì không ? "
Sau đây là câu trả lời mà trong đó có mấy câu thành kệ anh muốn gởi vào "chùa không cửa" của Thủy để tá túc trong trần thế. Mong vị chủ trì chùa không cửa hoan hỉ thọ nhận.
chuyện rằng:
Vợ hỏi:
- Sáng nay anh ngồi thiền có thấy gì không ? "
Chồng trả lời:
-Trong khi anh tịnh tọa, bao nhiêu chuyện đến từ cuộc sống chung đụng hằng ngày trở lại trong trí rõ ràng hơn bao giờ hết. Có nhiều chuyện phức tạp không giải được ngay đang khi gặp, trong đó có sức khỏe ở tuối về chiều, kế đến là chuyện không còn sức sống theo luật thành trụ hoại diệt. Nhờ thân định trí thông mà anh thấy rõ nguyên nhân của phức tạp và giải được vấn đề như người gỡ thế cờ bí sau một hồi suy nghĩ kỷ. Anh định xã thiền sớm để vào ngồi trước máy tiếp tục học làm cái mình muốn, thì có 3 ông sư áo vàng không biết từ đâu đến. Ông to cao nhất, tướng mạo phương phi, đôi mắt sáng quắc đứng giữa, lên tiếng hỏi anh như sư tử hống: " Nhà ngươi không phải hóa thân của Duy Ma Cật, mà sao nhà người không lật đật? Ngồi yên chi đây thì có khác chi người đi tu ?" anh đọc kệ thế câu trả lời. Sau khi nghe kệ xong thì cả 3 ông đồng biến mất. Anh rời tọa cụ để tiếp tục đem thiền vào đời mà em là người có duyên nghe kệ trước tiên sau 3 ông sư ấy.
Kệ rằng:

HÀNH ĐẠO
Thân là chùa.
Tâm là chánh điện.
Người là sư.
Sống là hành đạo.

TrầnThế

Anh học trò : Ông Duy Ma Cật là ai vậy ?

Lem Nhem Thiền Sư : Duy Ma Cật là một nhà tu tại gia. Ông ta đánh đổ hết tất cả những biện thuyết của các đại đệ tử của Phật. Một ngày ông ta ngã bệnh, Phật truyền đệ tử đến thăm viếng ông ta, nhưng đệ tử nào cũng ngại vì đã gặp ông Duy Ma Cật một lần.

TM : Tập kinh Duy Ma Cật cũng khó hiểu lắm, bởi vì dùng câu chuyện ở trong thế nhị nguyên để diễn tả một điều nằm ngoài cái thế nhị nguyên này, hay bao trùm luôn cả cái nhị nguyên trong đó.
Cũng như ngôn từ dùng để diễn tả một tình cảm, nhưng tình cảm đó có thật hay không thì người nghe phải có chứng. Thí dụ cái đẹp của một cành hoa, cái đẹp của một đêm trăng sáng, hay cái đẹp của một bản nhạc, tuy hình tướng đẹp khác nhau , nhưng cái đẹp là do sự cảm nhận trong tâm hồn của mỗi người nằm bên trong. Ai cũng biết điều này, nhưng phải dùng văn tự giới hạn bên ngoài đễ diễn tả cái bên trong. Nhưng cái "đẹp" nằm ở đâu ? Nó vừa nằm bên ngoài ( trên cành hoa ) hay nằm bên trong ( do con mắt nhin thấy ) hay vừa trong vừa ngoài ( nhân - hành ) hay có thể là " Không ở bên trong, không ở bên ngoài, không ở khoảng giữa " ?

Anh Học Trò : Tức là khi ông Thiền Mỗ nói " Ta yêu nàng " , tức là ba chữ " Ta - yêu - nàng " là cái bên ngoài; còn tình yêu chân thật của ông thì nằm bên trong. Nhưng nó nằm bên trong thì làm sao ông truyền ra bên ngoài cho cô gái được ông yêu ? Chẳng lẽ tình của ông lại là Tình câm nín sao ? Mà không chuyển ra bên ngoài được thì lại không thật ! Vì chẳng có ai chứng được cái tình này cả. Mà truyền được ra ngoài thì phải có đường truyền. Như thế đường truyền này vừa ở bên trong , vừa ở bên ngoài sao ? Có cái gì vừa bên trong vừa bên ngoài không ?

TM : Không ở bên trong , không ở bên ngoài, không ở khoảng giữa. Bởi vì thế nên trong kinh Lăng Già viết :
Thế giới khách quan bên ngoài chỉ là cái phóng ảnh của tâm trí .... Cái Si là do bởi cái nhìn lầm lẫn cho rằng thế giới khách quan như là có sinh (xuất hiện ) có diệt ( biến mất)

Anh Học Trò : Ông biện hộ như vậy cũng được đi. Thế giới là cái phóng ảnh của tâm trí. Như thế cái Tâm cũng chính là phóng ảnh của cái Tâm, tức là của chính nó ? Cái gì thật ? Cái gì không thật? Một vật có thể tự sinh ra chính nó hay không ?

TM : Thử tưởng tượng một con rắn đang nuốt cái đuôi của nó, hay như con chó con quay đầu lại tìm cách cắn cái đuôi. Con rắn không bao giờ nuốt cái đuôi của chính nó vì nó muốn lộn ngược trong bụng ra ngoài và ngoài da thành trong thân cũng không được bởi vì nó sẽ bị mắc kẹt ở cái miệng của nó. Và chỉ có con chó con mới đùa giỡn quay đầu rượt theo cái đuôi chứ chó đã lớn thì biết cái đuôi là cái đuôi, có rượt theo cũng vô ích .
Như thế cách lý luận của ngươi thật vô ích. Đó chỉ là trò chơi của lý trí mà thôi. Giống như ta có thể nghĩ đến lông con rùa hay sừng con thỏ, nhưng cả hai điều này đâu có được !
Còn về sự diện kiến với Phật trong khi tọa thiền, trong kinh cũng cảnh cáo đó là điều nguy hiểm, bởi vì ai biết được đó là Phật hay là Ma Vương hiện hình ! Thế cho nên Kinh viết :
Đó là những cảnh giới mà Thiền giả phải vượt qua, đừng chấp (tin) vào đó, đừng trụ (đứng lại) vào đó.
Phật là gì ? Câu hỏi có cần đặt ra hay không ?

Lem Nhem Thiền Sư : Cả hai huynh đệ đang lẩn quẩn trong vòng tư tưởng. Tư tưởng , đó là điều phải có, là điều bắt buộc , cũng như muốn đi vào trong nhà hay đi ra ngoài thì phải đi ngang cái cửa chính hay nhảy qua cửa sổ. Tuy nhiên phải cảnh tỉnh; đừng vì thế mà để vướng mắc vào vòng tư tưởng. Đừng để tư tưởng làm thành những bức tường và tự giam cái Tâm mình trong đó. Khi đó thì ngay cả cửa sổ cũng đóng mất, chẳng còn nhìn thấy trời xanh mây trắng, chẳng còn thấy cái đẹp bên ngoài.

TM : Ta cứ lẩn thẩn mãi trong câu viết "Thế giới bên ngoài chỉ là cái phóng ảnh của tâm trí...", suy nghĩ mãi không ra ! Có cái gì đó không ổn trong câu nói này.

Anh học trò : ???!!!

Lem Nhem Thiền Sư : Để từ từ ta sẽ nói sau ...

Trong Áo Nghĩa Thư có câu chuyện ngụ ngôn...
Một nhà hiền triết, Udalak, có người con trai , Svetketu hỏi :
-Thưa cha, Con là ai ? Cái gì đang ở trong con người của con ?
Con cố gắng và cố gắng, trầm tư ngày tháng, nhưng con không tìm ra được cái đó là gì.
Svetketu là một đứa trai nhỏ, nhưng cậu ta đặt ra một câu hỏi khó, rất khó.
Nếu là ai khác thì Udalak đã trả lời dễ dàng. Nhưng làm sao giảng cho một cậu bé hiểu điều này ?
Udalak bảo :
- Con chạy ra vườn hái vào đây một trái lựu.
Cậu bé chạy ra và hái đem vào một trái.
Người cha bảo : Bây giờ con cắt nó ra; Con thấy gì trong đó ?
Cậu bé trả lời : Có rất nhiều hạt nhỏ
Người cha bảo : Con chọn một hột và cắt nó ra. Con thấy gì trong đó ?
Cậu bé trả lời : Chẳng có gì cả !
Người cha bảo : từ nơi cái Không-có-gì mọc ra một cây lớn.
Trong cái mầm giữa trung tâm là cái Không.
Chẻ nó ra - chẳng thấy gì trong đó cả
và từ cái Không đó mọc ra một cây lớn.
Sự thật cũng giống như con.
Con là cái Không đó , và cái Không đó là con, Svetketu !
Khi không tìm thấy cái Không ở trong con, con sẽ không giáp mặt với sự thật. Con có thể là một lý thuyết gia , con có thể là một nhà triết học, nhưng con sẽ không thực chứng được cái Không đó.
.........
Cậu bé tiếp tục suy tư về cái Không trong tâm cậu ta
và trở nên thật trầm lặng .
Câu trầm tư và hài lòng với cái Không đó.
Nhưng rồi một câu hỏi lại nẩy ra, và vài ngày sau, cậu lại đến hỏi người cha :
- " Con đã cảm nhận, nhưng câu trả lời vẫn chưa sáng tỏ,
vẫn còn mù mờ đâu đó.
Con thấy từ nơi cái Không , mọi sự được sinh ra,
nhưng làm sao cái Không-gi-cả lại có thể lẫn lộn hòa đồng với cái hiện hữu ?
Làm thế nào cái có mặt hoà vào cái Không-Có-Mặt ? Thật nghịch lý. "

Người cha lại rơi vào khó khăn lúng túng vì câu hỏi thật khó trả lời.
Nhưng Udalak không muốn làm thất vọng đứa con trai nhỏ, bởi vì sự tò mò của cậu bé không phải chỉ là sự tò mò mà là một sự tìm kiếm sâu xa.
Thân thể của cậu bé tuy còn nhỏ nhưng tâm trí cậu ta có lẽ đang tiếp tục từ kiếp trước .
Người cha bảo : Con vào đem ra đây một ly nưóc.
Cậu bé mang ra một ly nước cho cha.
Người cha lại bảo : Con đem ra đây một cục đường.
Cậu bé mang ra cục đường.
Và người cha bảo : hoà tan đường vào ly nước.
Khi đường đã hòa tan hết vào ly nước,
người cha hỏi : - Bây giờ con có thể phân ra đường với nước không ?
Cậu con trai trả lời : Bây giờ thì không thể được nữa. Con cũng không thấy đường đi về đâu.
Người cha lại cứ tiếp tục : Con thử tìm lại xem.
Cậu bé nhìn kỹ vào ly nước nhưng chẳng thấy đường đâu cả. Nó đã tan và thành nước .
Kế tiếp, người cha bảo : Con nếm nó thử xem.
Cậu bé nếm và thấy ngọt.
Khi ấy người cha mới nói : Này, câu trả lời cũng giống như vậy. Con không thể nào khẳng định cái gì có và cái gì không có. Cả hai cùng lẫn lộn với nhau , cũng như nước với đường.
Chúng ta có thể nếm và nhận biết nước có pha đường
nhưng không thể chia tách hai sự thể đó ra riêng.
Đúng ra chẳng có ai có thể chia cái Có - Không ra , bởi vì chúng không thể chia cách ra được.
Không thê nói là "cả hai cùng có mặt" , Nói như vậy là sai.
bởi vì chữ " cả haỉ đã hàm chứa ý niệm lưỡng nghi.
Đó không phải là Hai, đó chỉ là Một. Chúng chỉ thể hiện như là Hai

Câu chuyện này có thể trả lời nghi vấn của đệ về câu hỏi : " Một vật có thể tự sinh ra chính nó hay không ? " , hay còn thắc mắc gì nữa ?

Anh Học Trò : Ông Thiền Sư Lem Nhem Tạp Nhạp này vừa chứng minh xong 2 = 1 !
Cũng như ông Thiền Mỗ biết chinh phục phụ nữ và thành công đến 99%, nhưng không đi tới đâu cả, vì có 1% là do vì không thích. Như thế là cái 1% này lớn hơn cái 99% !

TM : Không có cách gì làm cạn hết sự phi lý. Chỉ có một cách là lúc nào cũng phải cảnh giác ( Pháp môn Satipattana ) . Khi đệ càng cảnh giác thì những phi lý càng như phi lý hơn. Khi đệ thấy sự việc hiện thể như phi lý, cách đon giản là ngừng lại, không đào sâu vào nữa.
Không cần phải từ bỏ thế giới này, chỉ cần sự cảnh tỉnh
và nhũng gì vô ích, vô nghĩa sẽ tự động rơi rụng hết ...


Có một lần trên đường đi chinh phục Ấn Độ, Đại đế Alexander ( 356BC - 323BC ) gặp Diogenes ( 412 BC- 323 BC )
Diogenes là một con người kỳ lạ. Ông ta là con trai của một chủ ngân hàng ở thành phố Sinope - Hy Lạp. Thành phố này khi đó đang bị tranh chấp giữa Ba Tư và Hy Lạp, và vì lý do chính trị cũng như tài chính nên Diogenes bị trục xuất và đi sang Athens. Ở đây Diogenes lang thang vất vưởng như ăn mày, một quan niệm sống tự do, trần truồng, không lệ thuộc vào gì cả, vật chất lẫn tinh thần.

Diogenes sang Athens với người nô lệ tên là Manes, nhưng sau đó người này bỏ trốn đi. Diogenes tuyên bố : " Nếu Manes sống không cần Diogenes thì Diogenes cũng có thể sống không cần đền Manes."
Theo chuyện kể, có lần trên đường đến Aegina, Diogenes bị cướp bắt và đem bán như một nô lệ cho Xeniades ở thành Corinth.
Khi hỏi giá cả thì Diogenes trả lời : "Không biết giá cả bao nhiêu, nhưng biết cái giá là giá trị của một người cầm quyền, và mong đưọc bán cho người muốn tìm một sư phụ."

Khi đại đế Alexander đi ngang đó và nghe tiếng đồn về Diogenes, tìm đến gặp Diogenes
Alexander rùng mình khi thấy Diogenes gầy còm thảm hại.
Diogenes như một tu sĩ pha-kia ( fakir ), không sở hữu gì cả,
nhưng toàn thể con người ông ta toát ra một cái gì rất mạnh mẽ, một ma lực thu hút lôi cuống đến nỗi Alexander rất bị ấn tượng. ( Và từ đó về sau, theo lời Đại đế, không còn bị ấn tượng với một người thứ hai như đã với Diogenes nữa. Đại đế tuyên bố : " Nếu khi sanh ra ta không phải là Alexander thì ta mong được là Diogenes.)
Đại đế hỏi :
- Ta có thể làm một điều gì giúp đỡ cho ông không ?
Diogenes trả lời :
- Có : đứng tránh qua một bên đừng che ánh nắng mặt trời .
- Làm sao mà ông có một tiềm năng mạnh mẽ như vậy, trong khi ông không sỡ hữu gì cả ?
Ta là một người đi chinh phục và chiến thắng gần hết cả thế giới này, chỉ còn một chút xíu nữa, một vùng đất, và ta sẽ chấm dứt.
Nhưng ông, ông là một người trần truồng không có gì trong tay cả.
Bí mật hạnh phúc của ông là gì ?

Diogenes trả lời :
- Tôi từ bỏ sự mong chờ, từ bỏ sự hy vọng.
Đó là bí quyết. Ngài cũng vậy, ngài hãy từ bỏ sự tham vọng, nếu không ngài sẽ đau khổ mãi mãi.
Alexander trả lời :
- Ta sẽ đến học với ông bí quyết này
nhưng bây giờ ta đang trên đường chinh phục. Chỉ còn một tí nữa thôi, ta sẽ thành người chinh phục thế giới, sau đó ta sẽ trở lại.
Diogenes trả lời :
- Từ bao giờ chưa có ai là kẻ chinh phục thế giới.
Luôn luôn có cái này hay cái khác còn sót đâu đó phải tiếp tục.
Giấc mơ không bao giờ trọn vẹn và lòng ước mong không bao giờ lấp đầy
Nếu ngài thật sự hiểu tôi, và nếu ngài thật sự thấy tôi đang hạnh phúc
khi chẳng cần phải bận tâm về chuyện chinh phục thế giới,
ngài cũng có thể hạnh phúc mà không cần những chuyện như vậy.

Trên mặt tư tưởng và lý luận thì Alexander hiểu điều này ,
nhưng Đại đế tiếp tục :
- Ta sẽ đến, còn bây giờ thì chưa phải lúc.
Khi Alexander từ giã Diogenes, Diogenes bảo :
-Nhớ đây, Ngài sẽ chết trước khi hoàn thành chuyện chinh phục;
Ai cũng phải chết và Ngài cũng không ra ngoại lệ.

Và đó là điều xảy ra. Alexander không bao giờ trở về quê nhà nữa. Đại đế chết trên đường trở về từ Ấn Độ.
Có lẽ Alexander nhớ đến Diogenes, người tu sĩ fakir ốm yếu trần truồng, trong những giây phút cuối cùng của đời ông ta.

 


.