PHONG VẬN KỲ OAN

NGÃ TỰ CƯ  

 

Trần Thị Bông Giấy

( Tâm bút )

Đoạn 2

 

 

CHO NGƯỜI TRONG ẢNH

 

 

                Ở Dalat, những ai còn lang thang hè phố vào lúc một giờ sáng thì không phải là các cô gái giang hồ đang đợi khách, hoặc những kẻ ghiền ma túy đang đợi kiếm hàng mua.

                Không, ở Dalat, một trong hai người còn thức vào lúc một giờ sáng là một phụ nữ bé nhỏ đang chuẩn bị dọn hàng nơi con dốc gập ghềnh, góc đường Duy Tân & Thành Thái. Dù khoác trên người cái áo lạnh dầy với một cái khăn quàng màu xám đã sơ sác, thân hình bà vẫn thấy run lên mỗi lần có cơn gió lạnh tàn nhẫn tạt qua, luồn vào trong áo. Bên dưới ngọn đèn đường cao bị mờ ẩm đi bởi sương đêm, bà cúi mình sắp xếp ba cái bàn bằng nhựa có cái màu giống như màu của một miếng kẹo cao-su đã được nhai đi nhai lại nhiều lần; rồi đặt bốn cái ghế nhỏ vào chung quanh mỗi bàn. Xong xuôi đâu vào đó, người đàn bà ngồi xuống cạnh cái nồi lớn kê trên lò, đưa cái vá dài quậy lớp sữa đậu nành đang bốc khói, món thức uống rất thích hạp cho khách qua đường trong một đêm giá lạnh đến buốt giá như đêm nay. Như thỏa ý với mọi thứ đã sẵn sàng, bà dựa lưng vào thành ghế ọp ẹp và kiên nhẫn đợi chờ người khách đầu tiên.
Kẻ thứ hai còn thức vào giờ này chính là tôi, người khách đang tìm đến cái quán của người đàn bà.
Người đàn bà mỉm cười với tôi, hàm răng trước không đều làm lộ rõ nét mệt mỏi trên khuôn mặt. Tôi bước về phía bà, kéo ghế ngồi xuống, cẩn thận để khỏi làm chao đảo cái bàn.
“Cho con xin một ly sữa”. 

Bà gật đầu, nhón cái ly khỏi cái mâm, đưa đến gần sát bên nồi; xong múc một vá sữa rót vào. Tiếng sữa đổ xuống nghe vang to hơn giữa đêm lạnh vắng.
    Một giờ khuya, ai ai cũng đều đã ngủ thì phần tôi lại không thể ngủ. Bây giờ đang là 11 giờ trưa hôm qua ở California. California, nơi tôi đã chào đời.   

                Đây là lần đầu tôi về VN mà không có sự hiện diện của mẹ tôi bên cạnh. Cả gia đình chẳng ai đồng ý với cái quyết định này, viện cớ rằng thời kỳ tang chế của tôi vẫn còn chưa dứt. Họ cho là tôi đã sai lầm trong việc tự sống theo ý mình gấp rút như vậy. Mới có sáu tháng thôi. Và theo như họ thì tôi phải làm nhiều việc, phải ở nhà, thắp nhang mỗi ngày trên bàn thờ mẹ tôi. Nhưng có điều đáng buồn cười là không ai hiểu được nỗi ước muốn hay mối hối hận nào của người đã khuất. Họ chẳng biết gì về những ý nghĩ mẹ tôi. Ngay cả anh tôi cũng không biết.

Còn tôi, tôi hiểu. Tôi hiểu bởi vì thường nghe mẹ nói rằng tâm tư và hình thể tôi thật giống với bà. Bà gọi tôi là cơ hội thứ nhì của bà, kẻ điều chỉnh giùm những gì bà từng lầm lẫn. Mẹ tôi, một món đồ chơi mệt mỏi của Cuộc Đời, không mong tôi cứ tiếp tục bị ảnh hưởng buồn sầu sau khi bà đã chết. Bà chỉ muốn tôi lần theo những bước chân của đời bà, thêm nữa, trên những khúc quẹo của cuộc đời riêng tôi. Ánh mắt buồn bã của mẹ tôi khi kể cho nghe câu chuyện cuối cùng mà bà đã chôn giấu trong lòng từ mấy chục năm qua đã giống như một mệnh lệnh âm thầm, buộc tôi phải lên đường tìm về VN hôm nay.

“Bé ơi, con có phải là Việt kiều không?”              

 Cái giọng khẽ khàng của người đàn bà làm cắt ngang ý nghĩ, kéo tôi lại trên những con đường đầy sương lạnh lẽo của Dalat. Một nỗi ấm áp lan vào tim khi nghe chữ “bé” bà gọi. Kỷ niệm những lần được các cậu các dì vỗ nhẹ lên đầu mà đôi má nóng bừng y như khi còn là một đứa trẻ, cứ xoáy xoáy trong đầu tôi lúc này.
      Tôi hé miệng cười với bà và không màng nhớ đến những lời vẫn hay nhắc nhủ của anh tôi rằng khi trở về VN, đừng bao giờ nói cho ai biết tôi là một Việt Kiều để không bị nhìn như một du khách dễ bị gạt gẫm.             

“Dạ phải, còn từ San Jose, California đến.”
 Cái lưỡi tôi hình như đơ cứng khi đã lâu, kể từ ngày mẹ chết, tôi không có dịp nói tiếng Việt với bất cứ ai.  
  “Sao giờ này con còn ngồi đây?” đôi mắt già nua lập tức ánh lên nét tò mò, “không an toàn đâu khi con là một người từ xa đến, nhất là con lại xinh đẹp nữa.”                

Tôi cảm động vì sự lo âu của bà dành cho, y hệt như của một người mẹ, và cũng thấy hơi thú vị vì lời khen tôi đẹp trong câu nói sau cùng.                

“Ô không, bà ạ. Con rất quen thuộc với Dalat. Khi còn nhỏ, con vẫn được mẹ đưa về đây trong mỗi mùa nghỉ hè. Hai mẹ con con lại thường đi dạo với vài người bạn khi cả thành phố đều đã yên ngủ. Con chỉ muốn…” Giọng tôi run run. “Con chỉ muốn trở lại những kỷ niệm đó thôi.”             

 

“Vậy hả? Bây giờ mẹ con đâu? Sao không ở đây với con?”
“Mẹ con bận lắm trong mùa hè này”, tôi đâm do dự, “nhưng bà vẫn muốn con đi về VN.”
Ngừng lời, đưa lên môi cốc sữa đã bị bỏ quên trong bàn tay lạnh ngắt, tôi tiếp:
“Mẹ con nói, bây giờ con đã đủ lớn để có thể tự lo cho mình.”
Người đàn bà gật đầu vẻ thông cảm và tin ngay lời nói dối của tôi.
Tôi không muốn đối diện với những câu hỏi thẳng thắn về người mẹ đã chết. Người VN thường hay có cái tánh gần như sỗ sàng khi cứ ưa nhảy vào đời tư kẻ khác bằng những câu hỏi, cho dù đó là một người họ vừa mới gặp. Thỉnh thoảng, khi cảm thấy cô đơn, thì cái tính cởi mở thân mật của những người VN có thể được tôi ưa thích. Nhưng cũng có lúc, cái máu Mỹ trong tôi lại thấy thoải mái hơn với những nghi thức lịch sự xã giao của người phương Tây.
Tuy nhiên, tôi tự nghe có tội chút ít vì đã nói dối với người phụ nữ già nhỏ bé này.
Có lẽ cảm nhận sự không muốn chuyện trò của tôi, bà quay đi, cái vá trong tay, bắt đầu vớt lớp màn mỏng đọng lại trên nồi. Tôi chăm chú nhìn theo làn khói đang nhảy múa.  
Bỗng dưng, một trang thư cũ được viết ra từ bốn mươi năm trước, lá thư đầu tiên trong cả xấp giấy tờ được cột bằng một sợi giây mỏng mảnh, loé hiện trong óc. Nét chữ đẹp của một viên Trung úy trẻ, trong tim chứa đầy hy vọng tình yêu, bây giờ nhẹ nhàng in lại trên các bức tường của khối não tôi. Niềm vui, hạnh phúc chỉ hiện diện chung quanh, trong tầm tay và ở hiện tại. Vậy thì tội gì phải kiếm tìm xa xôi để rồi chỉ nhận lấy những cô đơn ray rức?”

“Bà ơi, bà ở Dalat từ khi nào vậy?
Người đàn bà rõ ràng tỏ ra mừng rỡ khi lại được tiếp tục cuộc trò chuyện với tôi, ngẩng cổ đếm số năm:
“Bốn mươi bốn năm. Bà đã sống trong vùng này bốn mươi bốn năm rồi con ạ.”
“Vậy bà có biết ai tên Nguyễn Ngọc Thùy, con trai ông Lý? Họ từng lưu trú trên đường Minh Mạng?”
“Nguyễn Ngọc Thùy… Ngọc Thùy… Thùy?” Khuôn mặt người đàn bà nhăn lại như thể đang lục lọi trí nhớ theo cái tên tôi vừa gợi.
Tôi tiếp tục trong hy vọng, cố tìm lời để giúp bà rọi vào ký ức:
“Cậu trai bị gọi đi lính… um, từng đeo lon Trung úy. Thường chơi đàn ghi-ta và trống. Cậu ta, ưm,… cũng là giáo sư văn chương…”
Khuôn mặt bà sáng lên trong một cái cười khi cuối cùng mọi sự cũng được nhớ lại:
“Cậu trai luôn cầm cuốn sách trên tay ở bất cứ nơi nào, phải không?”
Tôi mau mắn gật đầu, đợi chờ thêm những dữ kiện kế tiếp…
“Ồ dĩ nhiên là bà biết! Bà biết hết mọi người sống trong thành phố này dạo đó. Thùy nhỏ hơn bà 8 tuổi. Bà biết mẹ cậu ta. Chúng tôi thường –xem nào! Nhưng sao con cũng biết cậu Thùy?”


Đôi mắt nhợt nhạt già nua nhìn tôi cách tò mò.
Lần nữa, tôi do dự, không muốn chia xẻ câu chuyện cuối cùng, thứ gia tài mà mẹ tôi đã giao lại cho tôi:
“Mẹ con biết người ấy. Bà muốn con đi tìm gia đình họ.”
Người đàn bà buồn bã lắc đầu:
“Ô không, không. Con không thể tìm ra họ đâu. Tất cả mọi người trong nhà họ đều đã chết hết rồi trong thời kỳ chiến tranh.”
Tôi gần như hốt hoảng trên ly sữa đã nguội, kêu lên:
“Tất cả mọi người? Có phải người này có hai anh em trai?”               

“Đúng. Một chết vì nghiện rượu, tên Long, người em. Còn người anh kia, bà quên mất tên, chết vì sưng phổi năm 1975, ngay trước khi Miền Nam bị chiếm.”


Tôi nhớ lại nỗi căm hờn trong giọng nói mẹ tôi bất cứ khi nào bà nhắc về biến cố tháng Tư 1975, khi Miền Nam VN cuối cùng bị mất vào tay Cộng Sản. Mẹ tôi, và nhiều người trong cùng thế hệ, thường gọi đó là năm “chúng ta mất quê hương.”
“Còn cha mẹ Bác Thùy thì sao, thưa bà?” Tôi đang cố dò hỏi cho biết bất cứ liên hệ nào về Bác.
“Bà mẹ chết không lâu sau khi đám tang cậu Thùy, vào cuối năm 1968. Ông Lý ráng thêm được một thời gian, nhưng bà đoán rằng sự chịu đựng đau khổ theo cái chết con trai và vợ thì quá nặng nề cho ông nên vào một đêm, ông đã ngủ luôn, không thức dậy nữa. Bà đã từng dự tất cả các đám tang trong gia đình họ.”
Người đàn bà ngừng một chút, đưa tay che miệng như cố ghìm tiếng thổn thức: “Thật là tội nghiệp!”       
Tôi ngồi im, nghe ngấm vào tim những điều vừa biết. Sự tĩnh lặng vẫn bao trùm Dalat, êm đềm mát mẻ, khác hẳn với điều tôi thường cảm nhận ở Calif. Sau khi mẹ tôi chết, sự tĩnh lặng của căn nhà cơ hồ như đè trĩu trên tôi cái gánh nặng của cô đơn và đau khổ. 
Đã gần 2 giờ sáng. Tôi uống hớp sữa cuối cùng, nhai nhai những hạt đường đọng lại dưới đáy ly, trả tiền và bảo bà chủ quán giữ phần tiền thối. Bà nói cảm ơn và nhắc nhở tôi phải cẩn thận cho chính mình. 
Khi tôi đứng lên từ giã, bà đưa tay nắm chặt tay tôi, như thể một liên hệ đã được nối chặt giữa cả hai qua cái chết của những người vừa được đề cập. Tôi gật đầu, bước đi. Một cặp tình nhân tay trong tay xà xuống nơi bàn. Họ vừa cười với người đàn bà mỏng mảnh vừa gọi hai ly sữa đậu nành.
Một luồng gió lạnh buốt thổi vào mặt, tôi kéo khăn quàng sát cổ và đút sâu hai tay vào túi áo khoác rồi bước nhanh trên đường Thành Thái hướng về căn phòng khách sạn rẻ tiền của mình. Có lẽ giấc ngủ sẽ dìm đi giùm tôi hết các cái ám ảnh này mà thôi.                

~*~

               

Ngay cả giữa lúc chiến tranh tràn ngập, các buổi sáng ở Sàigòn vẫn còn giữ được sự êm đềm của nó. Không khí nóng sốt. Những con đường ứ tràn sự sống. Các người bán hàng khuya đã dọn dẹp xong quang gánh, thế vào đó là các người bán trái cây, hoa quả ban ngày.
          Chuyến xe buýt cũ kỹ chất đầy các người lính ngủ gà ngủ gật, lăn bánh trên con đường khúc khuỷu. Còn Thùy, trọn đêm qua vẫn không chợp mắt được giấc nào. Anh nhìn cảnh trí quen thuộc hai bên đường, trong khi tên nàng, cái tên đẹp nhất trong số các cái tên con gái trên đời, vang vang dịu dàng giữa trái tim anh: Mây!
           Anh lâng lâng nhớ lại bữa sau cùng gặp nàng. Một kỷ niệm xảy ra đã từ sáu tháng trước trong lần về phép cuối thời gian đang còn thụ huấn quân sự. Dạo đó, anh thường trải qua hai ngày phép cuối tuần tại căn nhà của Phong ở Sàigòn thay vì đáp xe đò bốn tiếng đồng hồ về Dalat. Phong là bạn thân của Thùy và là anh trai của Mây. 


Bữa đó, căn nhà Sàigòn vô cùng yên tĩnh. Cái hộp đàn guitare quen thuộc đang để mở, cạnh cửa sổ. Thùy ghé ngồi nơi chân giường Phong, bắt đầu khẩy nho nhỏ từng note nhạc mỏng. Từng note, từng note. Âm thanh của bản nhạc Stranger on the Shore dội lên giữa căn phòng bóng tối còn dầy. “A! Anh Thùy!” Giọng nói nhỏ nhẹ của Mây chứa đầy ngạc nhiên; và bây giờ nhớ lại, anh nhận ra không chỉ ngạc nhiên, mà còn có cả niềm thú vị trong ấy nữa. Nàng vừa mới từ Nha Trang trở về Sàigòn. Anh ngước nhìn lên. Ánh sáng ban mai len lén bò vào phòng, đậu lại trên hai má và mi mắt nàng. Ngay giây phút đó, thật không sao ngờ được, tự dưng Thùy thấy như bị rớt sâu trong đôi con ngươi đen nhánh; lại còn sâu hơn nữa trong vòng tay ôm tưởng tượng, trong nụ hôn mà anh từng đợi chờ ao ước bấy lâu.

         Chiếc xe chồm nhẹ khi trườn qua các ổ gà lồi lõm. Trái tim Thùy gõ nhịp đều theo vòng quay của các bánh xe, vang vang bên tai là giọng nói nàng, lập đi lập lại. “A! Anh Thùy!” Ngón trỏ của anh cứ xoáy mãi vào cái lỗ rách trên ghế ngồi của mình, trong óc hình dung đến khuôn mặt nàng. Mọi góc cạnh trên đôi môi nũng nịu làm thành nụ cười nhưng không hẳn là cười; sống mũi thanh thanh khiến anh cứ như muốn đặt ngón tay mình trên đó mà vuốt vuốt; những sợi tóc rối bay bay trên vầng trán rộng. Tất cả mọi sắc nét trên đôi lông mi và luôn cả những nếp nhăn khi cười trên khuôn mặt nàng in hằn trong trí tưởng anh. Nhưng trên hết, vào những đêm dài như vô tận của cái xứ Quảng ẩm ướt ấy, giấc ngủ thường không kéo đến, thì chỉ đôi mắt đen sáng ngời của nàng mới chính là hình ảnh giúp anh tránh xa cái điều muốn kề cây súng vào giữa trán mình mà thôi.


          Anh chợt ngại ngùng khi sẽ gặp lại nàng; một nỗi lo âu và hốt hoảng đâu đâu. Kể từ sáu tháng qua, sau khi Phong đã cho phép viết thư gửi nàng, anh cảm thấy như Mây trở nên gần gũi với anh hơn. Chưa hề một lần qua những lá thư mà anh nói rõ tấm lòng mình, nhưng anh tin rằng nàng đã hiểu. Mây vốn là người nhậy cảm hơn các cô gái cùng tuổi anh từng gặp. Dù rằng nàng không một lần đề cập đến mối tình sâu đậm anh đang che giấu (đồng thời anh cũng muốn phơi tỏ chút ít giữa những giòng thư dè dặt), nhưng anh biết rằng nàng đã thấu suốt những gì đang làm xao động trái tim anh.

          Anh không biết sẽ phải làm gì khi gặp nàng. Hầu như hoàn toàn rối loạn khi chuyến xe đưa anh đến càng gần hơn với nàng. Anh nhớ lại những cuốn phim Mỹ đã xem. Clark Gable đã từng ôm hôn Vivien Leigh trong một giây đam mê nồng thắm. Có thể anh cũng… Ô mà không, anh không thề làm thế. Người ta không thể hành động như trong phim ảnh Mỹ ở Việt Nam. Những điều như vậy chỉ xảy ra ở Mỹ!


          Thùy cũng không thể tưởng tượng đến cách đối xử sỗ sàng với nàng. Con người nàng mong manh quá! Chỉ nội một cử chỉ mạnh mẽ, dù điều đó đến từ một người đàn ông lịch sự, cũng đủ làm tổn thương nàng. Không, giây lát gặp nhau của họ sẽ thật âu yếm dịu dàng. Anh muốn rằng đó sẽ là điều khiến nàng vui mãi mỗi khi nhớ lại kỷ niệm buổi nay.
          Chiếc xe từ từ ngừng lại trước căn nhà nhỏ trên đường Yên Đổ. Thùy đeo lên vai cái ba lô và lần về phía cửa trước.
         “Nhớ cho tao gửi lời thăm người đẹp Sàigòn nghe?”, cái giọng ngái ngủ của Tâm, bạn anh, bật lên từ phía sau lưng ông tài xế.
         Những tiếng cười nhẹ từ những người bạn đã thức hẳn vang lên.
         Thùy đưa tay vỗ nhẹ đầu Tâm:
          “Ngủ tiếp đi, thằng khỉ! Hai tuần nữa tao lại gặp mày!”
         Rồi gật đầu chào ông tài xế, anh nhẩy xuống khỏi xe.
         Chiếc xe lăn bánh, để lại một đám bụi mù đàng sau. Thùy dừng lại giây lát, nhìn quang cảnh ngôi nhà, nhà của nàng: một ngôi nhà gạch đỏ đẹp như tranh mà trong thời niên thiếu của anh và Phong, thật nhiều kỷ niệm của hai người bạn thân như hình với bóng đã từng được ghi dấu. Nó khiến anh hình dung đến những ngôi nhà đẹp trong các phim ảnh Mỹ. Hẳn nhiên, ngôi nhà của nàng nhỏ hơn và không hoành tráng bằng, nhưng anh không thể nghĩ ra điều đi về một ngôi nhà nào khác ngoài nơi ấy, đặc biệt là sau khi đã trải qua hàng thời gian dài gian khổ với đầy mồ hôi và máu của anh và đồng đội đã đổ ra.


         Cánh cổng sắt mở rộng và cửa nhà đang hé ra một tí. Vọng từ bên trong, Thùy nghe tiếng cười đùa trẻ con, chắc là của Kiều và Châu, hai em gái nhỏ của nàng. Mùi cơm chiên bốc lên trong bầu không khí Sàigòn nóng bức buổi sáng. Thùy thở sâu, tự trấn tĩnh con người, rồi đưa tay đẩy cánh cửa cho rộng ra, xong bước vào.


         Cái kệ sách quen thuộc kê cạnh cửa sổ thấy càng nhiều sách hơn thuở trước. Mùi nồng thơm của khói nhang trên bàn thờ bác Mưu, cha của Mây, bao phủ gian phòng trống trải trong tính chất vừa lạ kỳ vừa thoải mái thật nhiều. Giọng kêu của những cô gái nhỏ, hòa lẫn giọng nói Phong, vang ra từ những căn phòng tiếp theo sau.
         Trước khi bước hẳn vào đó thì anh chợt nghe vang lên hai chữ nhỏ nhẹ “Anh Thùy!”. Giọng nói anh từng đợi chờ trong bao ngày tháng!
        Anh quay về phía cái bàn vuông đặt trong bếp với một nụ cười nở hé. Nhưng rồi khi bắt gặp khuôn mặt linh hoạt của nàng, trái tim anh bỗng dưng chùng xuống, vẻ tươi vui cùng với những hy vọng tình yêu bất thần tan biến. Đôi bàn tay anh nóng hực. Cái ba lô trên vai trở nên càng nặng trịch hơn đến như không thể chịu nổi. Cái quai tuột xuống khỏi cánh tay, rơi trên sàn nhà tạo thành một tiếng động khô khan.
        

Ngồi cạnh Mây là một thanh niên cao lớn mặc quân phục, vai đeo lon Thiếu Tá. Có lẽ người này già hơn anh vài tuổi. Tự dưng, trước mặt con người lịch sự áo quần kia, anh tự thấy mình giống như một gã lang thang vô định sở. Cái càm vuông trên khuôn mặt ông ta càng rõ hơn cái nét nam tính. Nhổm dậy khỏi bàn –cái bàn mà Thùy đã từng ngồi làm bài trong thời niên thiếu-, ông nhìn Thùy, nụ cười nở rộng trong cái cách đón chào anh tại chính ngay ngôi nhà mà thuở xưa anh đã từng trú ngụ nhiều năm.
        Thùy ghìm đôi tay run rẩy, bước về phía người đàn ông, giơ tay nắm lấy bàn tay đang đưa ra trước mặt mình.
        Giọng nói Mây run nhẹ:
       “Anh Vũ, đây là anh Thùy, bạn thân của anh Phong, người mà em từng kể với anh. Bọn em đã gửi thư cho nhau mấy tháng nay rồi.”.
        Nàng quay về phía Thùy, đưa tay ra:

“Anh khoẻ không, anh Thùy? Sao anh về sớm một tuần vậy?”
        Thùy vòng tay ôm đôi vai mỏng mảnh của nàng rồi vội buông ngay:
        “Anh được phép về sớm.”
         “Miền Trung lúc này ra sao, anh Thùy?”, giọng nói thân mật của Vũ vang lên.
         Nếu gặp nhau trong một hoàn cảnh khác, chắc họ đã là bạn tốt của nhau, Thùy tự nghĩ. Con người xa lạ cao lớn này khiến anh tưởng đến các chiến hữu của anh: những kẻ yêu đời và thoải mái.
         Thùy, với một cái cười buồn bã, đáp nhẹ:
         “Mọi chuyện vẫn thế. Đơn vị tôi đang còn chống đỡ được.”
         Một nỗi tin tưởng miễn cưỡng tràn ngập căn phòng theo những lời Thùy vừa nói. Vũ cười, cái cười thỏa mãn, đôi mắt sáng lên một tình bạn thông cảm. Anh ta bắt đầu kể về tình hình phía đồng đội của mình ở Củ Chi, nơi có nhiều lính Mỹ đang trú đóng.

         Thùy cảm nhận đôi mắt to sâu của Mây đang chăm chú nhìn mình, trong cùng lúc với nỗi buồn trong tim anh thấm vào nụ cười đang dần trôi tuột khỏi đôi môi.

~*~

Ngồi bật dậy trên tấm nệm mỏng, tôi quỳ lên hai gối nhìn ra ngoài đường phố. Tiếng rao của người đàn bà bán những gói xôi được túm lại trong lá chuối xanh với những bọc chè treo lủng lẳng nơi đầu gánh, vang vào phòng khi cánh cửa sổ mở ra. Cả con người tôi được cuốn lại trong tấm màn cũ kỹ có điểm những cánh hoa màu vàng và trắng trong khi ló đầu ra ngoài ánh nắng ban mai. Làn sương xám của đêm trước được thay thế bằng những giọt sương mỏng. Tôi nhìn xuống các con người nhỏ bé đang di động trên những chiếc xe gắn máy, hầu hết có lẽ đang đi đến các quán để uống cốc café đen đầu tiên trong ngày. Bên kia đường, đập vào mắt tôi là một tấm bảng được viết bằng ba thứ ngôn ngữ Việt-Tây-Mỹ trộn lẫn và chính tả sai be bét: “Việt Hưng: Restraunt de Family”. Rồi cười thầm nhớ lại sự bực bội của mẹ tôi bất cứ khi nào nhìn đến tấm bảng kia.


Tôi hít sâu vào người cái mùi thân thuộc của những mùa nghỉ hè ngày thơ tại nơi này. Cứ mỗi mùa hè từ khi tôi lên tám cho đến hai năm về trước, tôi hầu như trải qua những buổi sáng tháng Sáu, tháng Bảy và tháng Tám ngay trong chính quang cảnh hiện tại. Và bây giờ, lần đầu tiên, tôi thức dậy một mình. Tôi thở dài, dựa người trở lại trên giường, mệt mỏi và ngái ngủ.
Dù đã về VN từ hơn một tuần qua, nhưng đêm và ngày của tôi vẫn cứ bị rối loạn giữa giờ khắc của hai vùng San Jose và Dalat. Ba ngày trước, tôi đến Dalat, giấc ngủ thường không tìm tới với tôi mà chỉ đi vòng quanh thành phố với những kẻ khác; điều đó lại càng đẩy tôi sâu hơn trong những suy nghĩ về mẹ tôi và về Bác Thùy.  

Tôi nhổm dậy khỏi giường, kéo theo tấm chăn dầy rơi xuống trên sàn, rồi lê chân tới cái bàn nhỏ đặt cạnh phòng tắm, cầm cuốn sổ lên. Cái bìa màu xanh lá cây đã từng sáng bóng khi còn mới, giờ chỉ đung đưa lớp vòng cuốn bằng i-nốc nơi cạnh gáy. Giở từng trang nhăn nhúm có viết đầy những ý tưởng đột xuất và các kỷ niệm nho nhỏ hằng ngày bằng nét chữ viết tay mà chỉ mỗi tôi mới đọc được, đôi mắt tôi dừng lại nơi tấm ảnh nhỏ với hai màu đen trắng. Tấm ảnh được cẩn thận dán vào ngay giữa cuốn sổ, bên dưới, một lá thư đã cũ vàng cũng được dán lên.
               

Không muốn nhìn đến sự bừa bãi của chăn và giường, tôi tuột người trên sàn, bắt đầu đọc lại lá thư.

 

 

 


 


( tiếp theo ...)

 

 


 

( tiếp ... )


               
    

Quảng Ngãi ngày 2 tháng 3/1968.
Mây,
          Trời mưa đã được một giờ rồi. Anh đang ngồi ở một quán café viết thư này cho em. Kể từ khi gửi về em lá thư thứ nhất, anh sống trong sự chờ đợi mà không hiểu tại sao. Nhưng anh muốn em biết niềm hạnh phúc trong tim anh không thể nào diễn tả cho đủ khi nghe tiếng kêu của một người lính: “Thiếu úy, có thư của cô Mây ở Sàigòn gửi tới”. Và cứ mỗi lần đọc lại thư em, anh đều thầm cảm ơn em mãi.  
          Bây giờ anh mới cảm thấy mình là lính, ăn giữa trời, ngủ lô cốt, luôn luôn bất ly thân với khẩu M16 và một dây đạn. Bàn tay mà Mây khen là đẹp, lúc này phải luôn ghì khẩu súng, ngón trỏ hờm sẵn nơi cò, bao giờ cũng trong tư thế sẵn sàng xông trận, thêm cái nón sắt trên đầu. Em hẳn sẽ phải cười xòa nếu nhìn thấy anh lúc này bởi chỉ mỗi em mới biết rằng anh không phải là kẻ cứng rắn như bề ngoài hiện tại của anh.
          Anh về thay người bạn chỉ huy trung đội nổi tiếng này, bởi anh ta đã “hy sinh vì tổ quốc”. Nghe nói, trong các cuộc tấn công, anh ta luôn dẫn lính chạy đầu với một nghị lực mà anh không mong vói tới. Bây giờ, anh đang ngồi uống một cốc rượu để tưởng nhớ Nhung, một đồng đội đã chết.
          Đã gần sáu giờ chiều rồi mà trời mưa vẫn chưa dứt hột. Ông chủ quán già là người Nam, nên rất thích bọn anh. Ông hỏi anh: “Nữa thôi, Thiếu úy?” Anh cười: “Một chai nữa Ba à.” Ổng đã già và vui tính nên bọn anh ai cũng gọi ổng là Ba.
         Mới đây anh bắt đầu tin dị đoan. Vậy nếu có thể, em gửi cho anh một vật nhỏ để anh mang trong người làm bùa hộ mệnh. Nghe em!
         Anh ngừng bút, trời đã tối rồi. Cho anh gửi đến Phong và gia đình lời thăm hỏi của anh. Anh rất mong thư em.
Nguyễn Ngọc Thùy.”

               

Tôi thở dài, cố không nghĩ đến cái chiều cao nguy hiểm mà niềm hy vọng của Bác đang đậu lại trước khi Bác hiểu ra là chẳng có gì hết. Dù đã đọc xấp thư của Bác rất nhiều lần, bằng  số lần Bác từng đọc thư cô Mây thì tôi vẫn cứ mang cảm giác bực bội dành cho Mây, người con gái đã làm tan nát trái tim Bác, đến nỗi đẩy Bác trở lại chiến trường với một lớp mây mù tuyệt vọng trong tim.
Và rồi, giật mình ngạc nhiên khi chợt nhớ rằng cô Mây của bốn mươi năm trước chính là mẹ tôi. Trong óc tôi, người con gái tên Mây của thời gian xa cũ và người-đàn-bà-mẹ-tôi, là hai cá nhân hoàn toàn khác, sống trong hai thế giới riêng biệt. Điều tương đồng duy nhất của họ là cùng bước đi trên một đường đời nhưng ở hai thời điểm khác nhau.
Đôi mắt tôi lại trở về với tấm ảnh. Từ khi mẹ chết, mỗi lần nhìn đến tấm ảnh này, tôi đều không thể không rướm lệ. Nhưng hôm nay, sự chú tâm của tôi chỉ là dành cho những khuôn mặt đã phai tàn của thuở ngày xưa.
Trong ảnh, hai người, một nam một nữ đang ngồi nơi một cái bàn đầy thức ăn. Người con gái cúi đầu nhìn xuống như thể muốn tránh cái ống kính của người chụp ảnh. Khuôn mặt nàng có rất nhiều nét giống với tôi: cũng mái tóc rối, dầy buông rủ bên dưới cái nón đậm màu; cũng cái trán cao và rộng đó; cũng cái cười nũng nịu đó. Chỉ mỗi đôi mắt mới thấy rằng có phần khác với đôi mắt tôi. Chúng vừa to vừa sâu, ánh ngời sáng đến nỗi tôi có thể soi được bóng mình mỗi khi nhìn vào đôi mắt ấy. Nàng là người mẹ 19 tuổi của tôi, con người đang đứng trên chóp đỉnh của thời tuổi trẻ xinh tươi.
Người thanh niên ngồi cạnh bên nàng. Một mảng tóc nhỏ nơi đỉnh đầu đang chĩa lên như thể không chịu nghe lệnh phải xẹp xuống. Góc cạnh nơi cái miệng khép kín của anh làm thành cái cười đang nhếch lên một cách lặng lẽ; các nếp nhăn nơi đuôi mắt hiền và sáng đưa ra cho thấy niềm hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng. Bác Thùy lúc ấy chắc là 25 tuổi. Tôi rùng mình khi nghĩ đến cái chết không ngờ sẽ xảy ra cho Bác mấy tháng ngắn ngủi tiếp theo sau. Tôi quay sang hướng khác để tránh nhìn khuôn mặt dịu dàng kia và cũng để tự chống cự ước muốn nhìn vào những ngón tay dài đang cầm đôi đũa, những ngón của đôi bàn tay rất được mẹ tôi quý yêu.
Ánh sáng buổi xế trưa chiếu lên tấm màn có điểm những đốm hoa, xâm nhập vào phòng và nhảy múa trên giường tôi. Nhẹ nhàng, tôi đóng cuốn sổ, cẩn thận để không làm tưa đi thêm những mảnh giấy nhỏ vẫn còn dính trên cái bìa màu xanh lá cây. Tôi thở mạnh một hơi dài, đứng lên và đặt nó lại trên bàn viết.
Tới giờ tắm rồi. Hôm nay là một ngày quan trọng với tôi.

               

~*~

               

                Mây đứng im nơi ngưỡng cửa phòng khách, nhìn chăm chú cái dáng gầy gầy của Thùy, không tưởng được rằng sao anh lại có thể vác nổi cái ba lô nặng đến vậy. Thùy đang ngồi trên cái ghế gỗ cứng đặt kề bên kệ sách, lắng nghe Phong nói về những người bạn thời niên thiếu của hai người. Mây nhận biết Phong dường như né tránh không nhắc đến tên những người bạn đã “hy sinh vì Tổ Quốc”. Cả nàng cũng thế, không thích nghe lời diễn tả cái chết của những người lính bằng cái lối giả dối ân cần để chuyển đổi điều đó thành ra những bổn phận công dân. Nàng lắc đầu như tự xóa tan khỏi trí não những hình ảnh chết chóc. Và nghĩ tới một đoạn thư của Thùy, hình dung ra cái lúc anh đang chiến đấu với những kẻ thù trên chiến trận. “Cái gì tới sẽ tới. Cái gì qua sẽ qua. Một bữa, khi trung đội anh bị địch bao vây và đạn bắn như mưa, ý nghĩ trong anh là ‘Không lẽ đời mình tới đây thì hết?’ Bọn anh mất hết liên lạc với đơn vị, vì vậy đành phải mở đường máu rút lui. Chỉ khi thấy lại đơn vị, mới tin rằng mình đang còn sống.”
Mây nhìn những ngón tay thanh nhã đang hờ hững lật ra cuốn The Old Man and The Sea của Hemmingway. Nàng cũng nhớ lại cái lần viết cho anh về sự thú vị của mình khi kiếm ra được bản văn này trong một tiệm sách, nơi ngày xưa họ thường cùng đi đến đó. Trong làn ánh nắng của buổi chiều sắp tắt, đôi mắt xa xôi của anh đậu hững hờ trên những trang giấy, cái đầu gật gật theo những lời Phong và chỉ đáp trả một cách nhát gừng những câu hỏi nào cần thiết.

               

Trong một lúc, Mây quên hết chiến tranh tàn nhẫn mà chỉ tập trung ý nghĩ trên hai người thanh niên trước mặt; một người đang hăng hái nói lên những câu chuyện, và người kia thì lắng tai nghe, y hệt như trong quãng đời vô tư của họ trước lúc chiến tranh; cái lúc Thùy chỉ là bạn thân của ông anh nàng chứ không phải là con người vừa bị nàng xé nát trái tim.
                Một mặc cảm có tội tràn ngập tâm tư nàng lúc chợt nhớ lại ánh mắt đau đớn của anh buổi sáng hôm nay nhìn thấy Vũ; càng nặng nề hơn theo cái bắt tay của Thùy đưa về phía Vũ. Nhưng phải nói rằng, cái mặc cảm này trở thành quá độ ngay lúc bây giờ nhìn Thùy đang lắng tai nghe những câu chuyện kể của Phong; bởi vì nàng biết rõ rằng, dù là bạn thân của anh nàng thì Phong vẫn không phải là người để anh muốn trò chuyện trong lần này trở lại. Chỉ nàng, anh mới ao ước được cận kề mà thôi.
                Nàng bước lặng lẽ vào phòng khách. Hai người thanh niên ngước nhìn lên. Phong ngừng nói trong khi Thùy cúi đầu nhìn xuống. Anh vừa mới tắm rửa và đang mặc trên người cái áo chemise của Phong; cái áo rộng như một vật đang bị treo lơ lửng trên thân hình gầy guộc; màu trắng của nó làm đậm đà hơn cái màu nâu rám nắng từ hai cánh tay anh.
                 “Anh Thùy”, nàng ngập ngừng, e dè từng chữ. “Em định đi mua sách, anh có muốn đi cùng em không?”
                Thùy mau mắn nhổm dậy, đôi mắt sáng lên niềm vui đã mất.
Phong nhanh chóng vào cuộc:
                “Đi đi, Thùy. Lấy cái vespa của tao mà cỡi.”
                Thùy gật đầu, vẫn không nói lời gì, chỉ mỉm cười.
                Mùi thơm xà phòng tỏa ra từ mái tóc ngắn của anh trong khi nàng ngồi lên yên sau chiếc vespa. Cái chemise trắng căng ra giống như cái dù của người lính Nhảy Dù.
                Phố xá vắng vẻ. Những con đường Sàigòn không bị nghẹt trong làn khói xe cộ giống như trước; bây giờ, hầu hết dân chúng chỉ chạy xe đạp hay đi bộ.
                Mây đưa tay phải lên nắm lấy vai Thùy để tự làm cho vững thế ngồi.
                Anh hé miệng cười và nói:
                “Lúc đang còn học ở quân trường Thủ Đức, anh Phong có giới thiệu với anh một cô gái tên Uyên. Khi đi chơi với nhau bằng chiếc vespa này, cái bụng anh ấm vì cô ấy quen ôm eo ếch. Bây giờ, cái vai ấm nhưng bụng lại thấy lành lạnh, trống trơn.”
                Không muốn cho Thùy thêm hy vọng vô ích, Mây im lặng. Nàng đã làm anh đau đớn đủ rồi bằng những lá thư, dù trong óc nàng, đó lại là những lá thư vô tội và cao thượng.
                Họ trải qua trọn buổi chiều bên nhau nơi nhiều tiệm sách để kiếm những tác phẩm hay. Anh kiên nhẫn đợi nàng ở cửa tiệm trong khi nàng cứ mãi giở từ trang này qua trang khác, bụi bám đầy trên mặt bìa sách.
                Lúc ra xe, Thùy ngoái đầu về phía sau, tỏ bày trong ánh mắt thơ trẻ:
                “Mây, em có muốn đi ăn kem ở quán Âu Lạc không?”
                Trái tim Mây đập mạnh. Nàng lặng lẽ đáp, gần như thì thầm:
                “Không anh ạ. Em chỉ muốn đi về.”
                Thùy cúi đầu, không nói lời nào nữa và nổ máy xe.
                Buổi chiều hôm đó, thay vì dùng cơm cùng gia đình Mây, anh và Phong đã đi uống rượu cùng vài người bạn cũ.

                Vào khoảng nửa đêm, Mây tỉnh dậy đi tìm nước uống. Trên lối vào nhà bếp, trên một chiếc giường đơn kê ở phòng ngang, nàng nhìn thấy Thùy đang say ngủ sau trận rượu ban chiều. Trái tim nàng tràn ngập tình thương cho con người cô đơn trước mặt; một thứ tình gia tộc chứ không phải tình yêu như anh chờ đợi bấy lâu. Cái dáng gầy gầy nằm cong như thân hình một đứa nhỏ càng làm tăng thêm nơi anh sự cô độc. Cái đầu nghiêng sang một bên, kê trên hai bàn tay chắp lại như muốn bảo vệ chúng khỏi những rủi ro có thể đưa đến. Một luồng sáng trăng chiếu vào qua cánh cửa sổ hé mở, rọi xuống trên anh. Mây nhìn khoảng tối trên đôi má Thùy và tự hỏi mình tại sao nàng lại không thể yêu anh?
                Một giòng chữ trong một lá thư anh lướt suốt qua trí khi Mây nghe tiếng thở đều đều của người đàn ông trước mặt: “Chỉ mỗi em mới biết rằng anh không phải là kẻ cứng rắn như bề ngoài hiện tại của anh.” Thật vậy, với nàng, anh sẽ không bao giờ là kẻ hung bạo; không bao giờ trở nên một điều gì khác hơn ngoài hình ảnh một chàng trai tính tình nhỏ nhẹ, trong mỗi mùa hè ngày thơ vẫn cùng chị em nàng đùa giỡn trên sóng biển Nha Trang, giữa những tiếng cười vui thú. Anh là một phần của gia đình nàng, và không có gì khác hơn nữa.
                Thùy hơi cựa mình, mặt hướng về phía nàng và lại tiếp tục chìm trong giấc ngủ. Đôi mí mắt anh di động nhè nhẹ. Anh đang mơ thấy gì, Mây tự hỏi, và ngừng lại, tự đoán câu trả lời cho riêng mình.
                Sáng sớm hôm sau, Mây ngạc nhiên khi thấy Thùy đang đứng trước kệ sách, quân phục tề chỉnh. Nàng hỏi:
                “Anh Thùy, anh đi đâu sớm vậy?” 
                Anh mỉm cười buồn bã:
                “Anh đang sắp trở ra Quảng Ngãi. Trước hết là về Dalat thăm ông bà cụ. Anh chờ em dậy để từ giã.”
                Sự đau đớn vậy chụp cả con người Mây. Thân hình nàng tê cứng như chôn chân tại chỗ. Thùy đã từng viết rằng sẽ chờ gặp chị em nàng ở Nha Trang để cùng trải qua mùa nghỉ hè nơi vùng biển, trước khi trở lại vùng đất đầy khói lửa. Nhưng lúc này, trong khi những ngón tay cứ lần giở từng trang sách rút từ trên kệ, anh không hề nhắc gì đến tên thành phố ấy, và đôi mắt cũng không một lần nhìn đến Mây.
                Cố gắng hết sức để che giấu sự buồn bã vì cuộc ra đi bất ngờ của Thùy, Mây đứng lặng bên anh. Thùy rút ra một tác phẩm của Hemmingway mà hơn một lần trong ngày hôm trước, anh đã đọc, rồi hỏi nhỏ:
                “Anh có thể mượn cuốn này đem theo?”
                Mây gật đầu một cách tuyệt vọng. Thùy nói khẽ:
                “Cảm ơn em”
rồi theo Phong ra xe, cái ba lô nặng lại được vác lên vai.
                Mây đứng nhìn theo, bắt đầu cảm nghe nhung nhớ cái màu áo xanh lính trận đã bạc màu. Nàng đợi anh quay nhìn lại lần cuối. Nhưng điều ấy không bao giờ còn xảy ra nữa. 

~*~

“Bé muốn đi đâu?”, ông xe ôm hỏi dồn dập. Mái tóc dơ bẩn của ông ta được lấp đi dưới cái nón kết; vài mảng nhỏ thoát ra khỏi vành mũ, rủ xuống chân mày, che phủ một phần đôi mắt hí, tạo nên càng nhiều hơn nơi ông một sự gian xảo rất đáng ngờ.
                Tôi bỏ ngoài tai cái giọng khó chịu của ông ta, tiếp tục giở cuốn sổ tay yêu dấu để tìm cái địa chỉ cậu Phong đã ghi cho. Một lúc trôi qua, tôi mới nói với ông:
                “Xin đưa tôi đến Nghĩa Địa Thánh Mẫu.”
                Người tài xế nhăn hai cánh mũi và quẳng điếu thuốc lá xuống đất, lấy chân dí lên trên nó. Tôi cẩn thận đặt cuốn sổ vào trong cặp sách rồi ngồi lên cái yên bọc da, sau lưng ông ta. Chiếc xe được nổ máy, lướt nhanh qua mặt các người đi bộ và những chiếc khác. Không muốn bị xấu hổ nếu bị ngã khỏi xe, và cũng không muốn đụng chạm đến thân thể người tài xế khó chịu này, tôi giơ cả hai tay cầm lấy thanh sắt chắn giữa yên xe, ngăn cách ông ta và tôi. 
                Hôm nay là ngày Mồng Một tháng Tám. Bác Thùy chết đúng 40 năm xưa. Tuần lễ sau khi Bác Thùy chết, người đồng đội tên Tâm đã kể cho gia đình Bác nghe những gì đã xảy ra. Những người lính dưới quyền báo cáo an toàn, kẻ địch đã rút đi hết; nhưng không ai biết tại sao Bác Thùy lại một mình tiến ra giữa vùng cấm địa. Bác là sĩ quan chỉ huy, đâu cần phải làm sự thăm dò như thế. Tuy vậy, trước khi mọi người biết ra hành động này của Bác thì một tiếng nổ long trời vang lên, làm rung chuyển cả lô cốt. Ngay khi ấy, Bác chết tức thì.

                Những ngôi nhà và cửa tiệm bắt đầu ít dần hơn trên con đường vắng tanh dẫn tới nghĩa địa. Đầu óc tôi trôi theo làn gió, lang thang suốt qua những câu hỏi. Tôi nghĩ về mẹ tôi trong buổi sáng bác Thùy tử nạn. Với bà, đó chỉ là một buổi sáng như mọi buổi sáng bình thường. Và với bà, khi ấy Bác Thùy vẫn còn sống, còn thở và còn có cuộc đời, làm sao có thể ngờ rằng thân xác vụn nát của Bác đang bị đặt chung trong vô số những xác chết khác. Bà không nhận được tin này cho mãi đến tuần sau. Trong tuần trước đó, bà sống từng ngày đơn giản với ý nghĩ rằng Bác đang còn hiện hữu. Cái chết, mặc dù không ai tránh được, vẫn là điều gây kinh khủng cho con người, ngay cả trong lúc chiến tranh.
Tôi cố gắng tưởng tượng cảm xúc của mẹ tôi ra sao khi nhận tin dữ. Nhưng tôi ngừng lại không nghĩ tiếp, bởi biết rằng sẽ không bao giờ có thể đo lường nổi sự khiếp hãi và mặc cảm có tội mà mẹ tôi đã trải qua.
Trong khi chiếc xe phóng qua mặt những đứa trẻ có mái tóc dơ bẩn rối bù đang chơi đùa trên những con đường đất, tôi nhắm mắt và ráng nhớ lại cái cách mẹ tôi kể cho nghe câu chuyện của bà.

~*~

Bất ngờ, tiếng kèn trompette vang lên giữa làn không khí mát mẻ của một ngày Dalat. Mây đứng lặng, nghĩ thầm sẽ viết kể cho Thùy nghe về những âm thanh tuyệt diệu của thứ nhạc khí mà anh từng mến yêu. Những lời thư đang được khởi sự viết trong óc thì chợt một cảm giác rùng mình đổ ập xuống giữa trái tim Mây. Sự nhận biết bất thần đập mạnh vào ngực nàng như một cú đấm dữ dội: Cái mớ thịt vụn đang đặt trong quan tài kia chính là của Thùy, người thanh niên trẻ trung và mạnh khoẻ, chứ không phải của một người già nào.
                Thùy đã chết.
                Nàng không thể ngờ như thế. Không bất cứ ai ngờ được. Mới tuần lễ trước, Thùy ngồi ngay chỗ đó ăn một trái táo. Nhớ không Mây? Anh ấy đang cười. Nhớ không Mây? Anh chở mình đi phố Sàigòn mua sách. Mới tuần trước thôi mà. Không thể nào. Anh chưa chết. Đây là một điều không thật…
                Tuy nhiên lúc cái quan tài bọc kẽm được đưa về, không ai còn có thể phủ nhận nổi sự kiện đau lòng này. Đó chính là anh, kẻ đang làm cho mọi người phải khóc. Cái xác trong quan tài chính là của anh, đôi chân không còn di động, đôi mắt dịu dàng nhắm lại muôn đời, trái tim vĩnh viễn không còn rung lên nhịp thở. Còn cánh tay anh? Cánh tay rám nắng mà chỉ mới mười ngày trước đó đã vòng quanh thân hình nàng trong khi trái tim anh hoàn toàn vỡ nát. Cánh tay có những ngón dài thanh nhã chưa từng một lần dám nắm lấy tay nàng, giờ bay phăng mất theo tiếng nổ trên một bãi chiến trường vương vãi máu me. Hết.
                Người mẹ bé nhỏ của anh nắm chặt bàn tay Mây và không ghìm nổi những tiếng thổn thức. Người cha dáng hình bệ vệ, tính tình vui vẻ hoạt bát, giờ biến thành con người ủ rủ, đau khổ và tuyệt vọng trước quan tài con trai.
                Đứng xa xa về phía sau là một người con gái lạ, mái tóc đen dài láng mướt xõa xuống trên đôi vai đang run rẩy, y hệt một tấm mạng phủ màu đen. Giọng khóc lớn như xé ruột gan của cô làm át đi tiếng khóc những người khác trong vũng không gian im vắng. Những giòng lệ liên tục chảy xuống trên khuôn mặt tưởng chừng không bao giờ ngưng được. Một bàn tay cô nắm chặt cái thẻ bài của Thùy tuồng như muốn in hằn cái tên anh vào trên chính thịt da cô. Cô yêu Thùy, mọi người ai nấy đều biết; nhưng họ cũng biết thêm rằng đó chỉ là một mối tình đơn lẻ về phía cô.
                “Thuở trước thay vì dành tình yêu cho em mà lại dành cho cô ấy, có lẽ anh sẽ được hạnh phúc hơn”, Mây vừa nghĩ thầm một cách cay đắng vừa nhìn một ông cụ dẫn người con gái đi, mái tóc mịn màng bay lất phất sau lưng. Âm vang tiếng khóc rợn mình của cô ta trộn lẫn với sự hối hận trong tim Mây đã khiến nàng thấy gần như ngợp thở.
                Đôi mắt Mây vẫn ráo khô giữa làn khói nhang và bụi bặm bốc lên từ những bàn chân lui tới. Lướt qua óc là It’s now or never, bản nhạc Thùy thường hát cho chị em nàng nghe bằng thứ tiếng Mỹ không chính xác thời gian còn ở Sàigòn. Bây giờ, nhìn những nắm đất khô được quăng vội xuống trên nắp quan tài, nàng mới bất thần nhận ra rằng những lời hát kia đã chính là những lời âm thầm bày tỏ một cách thật tế nhị mối tình câm lặng của anh.
“It’s now or never
Come hold me tight, kiss me, my darling
Be mine tonigh!
Tomorrow will be too late
It’s now or never, my love wont’ wait.
When I first saw you with your smile so tender
My heart was captured; My soul surrendered I’d spend a lifetime waiting for the right time
Now that you near; The time is here at last...
It’s now or never
Tomorrow will be too late!…

(Bây giờ hoặc không bao giờ nữa
                Hãy đến ôm anh, và hôn anh, em yêu!
                Xin thuộc về anh đêm nay
                Ngày mai tất cả đều đã muộn,
                Bây giờ hoặc không bao giờ nữa,
                Anh không thể chờ đợi lâu.
                Thoạt gặp em với nụ cười ngọt dịu
                Trái tim anh rung động, tâm hồn bị vây chụp bất ngờ
                Anh đã để trọn đời cho giây phút ấy
                Và cuối cùng em đã đến với anh.
                Bây giờ hoặc không bao giờ nữa
                Ngày mai, tất cả đã muộn trễ rồi!)

 

Ngày mai, tất cả đều đà muộn trễ! Nếu hay rằng anh sẽ chết, Mây hẳn sẽ sẵn sàng nhận lời mời đi với anh đến tận chân trời góc biển dù chỉ để ăn với nhau một bữa kem. Giá như nàng biết!...
                Nhưng cái giây phút đó, bây giờ, đã vĩnh viễn trở thành “ngày mai”. Và đã quá muộn rồi!
                Xin hãy tha thứ cho em! Tha thứ cho em…

~*~

Tôi nhìn ông tài xế gầy như que củi và lập lại trong sự ngờ vực:
                “30.000 đồng hả chú?”
                Ông gật nhẹ đầu trong cái cười giả lả:
                “Đúng rồi, bé, đường xa mà!”
                Tôi biết ông nghĩ tôi là một cô Việt Kiều ngu ngốc nhưng mặc kệ. Tôi không muốn biến cái ngày hôm nay trở thành dơ bẩn chỉ vì một cuộc cãi vã nhỏ mọn với một kẻ lạ. Tôi trả tiền và bước dài trên con đường đất, hy vọng rằng sẽ không bao giờ gặp lại khuôn mặt đểu cáng của ông ta.
                Ngôi mộ Bác Thùy nằm bên dãy cuối của phía đối diện. Cái bia đá trông đơn giản, sạch sẽ với hàng chữ ghi trên đó:
                Nguyễn Ngọc Thùy…
Sinh tại Dalat ngày 9/10/1943
Tử trận tại Quảng Ngãi ngày 1/8/1968

                Tôi ngồi xuống trước nấm mộ, cẩn thận để không phải đụng chạm đến các ngôi mộ khác. Rồi lôi ra từ trong túi sách một bó hoa marguerite đã bị héo đi chút ít. Cũng lôi một hộp kem dâu đã bị chảy thành nước, vài tấm giấy lau miệng, hai cái chén nhỏ màu đỏ và hai cái muỗng bạc, rồi đặt tất cả các thứ ấy trước nấm mộ Bác Thùy. Một người canh nghĩa địa đang cắt cỏ phía đàng xa, ngừng tay, ngửng lên ngó về phía tôi, dáng vẻ bỡ ngỡ.
Tôi nhìn vào tấm bia, không biết bắt đầu ra sao. Hít một hơi dài vào buồng phổi, tôi nói nhỏ:
“Con xin chào Bác Thùy!”
Một cơn gió nhẹ lướt qua gò má, giống như một linh hồn vừa đáp lại lời tôi.
“Con chưa bao giờ gặp Bác, nhưng con cảm thấy rất gần gũi với Bác vì mẹ con đã kể cho con nghe về Bác rất nhiều,” tôi cắn môi, cảm thấy ngượng một chút.
“Hôm nay là ngày giỗ thứ bốn mươi của Bác. Con không biết ngày này của bốn mươi năm trước có phải là xứng đáng không cho Bác, nhưng với con bây giờ lại là một ngày rất đáng nhớ.”
Tôi cầm bó hoa đặt lên đầu mộ, cạnh bên cái tên của Bác, và tiếp:
“Con đã hái bó hoa này sáng nay trong vườn khách sạn. Đó là loại hoa mẹ con yêu thích nhất, chắc Bác cũng đã biết rồi.”
Tôi ngừng một chút, cố gắng kiếm thêm những gì khác để nói lên với Bác.
“Con tiếc là những cuống hoa đã bị gãy. Con phải bỏ nó vào cặp sách vì không muốn những cánh lá của nó bay đi. Nhưng, thà cánh lá bay đi còn hơn là cuống hoa bị gãy, phải không Bác?”
Tiếng chim ríu rít trên những cành cây vang suốt trong không gian tĩnh mịch giống như những tiếng cười khúc khích.
Chợt nhớ rằng hộp kem có lẽ đã biến thành một tô súp, tôi cẩn thận đặt nó trên tấm khăn lau miệng, mở nắp hộp ra. Lớp kem lúc bấy giờ trở nên là nạn nhân của luồng khí nóng chung quanh, tan ra thành nước. Tôi dùng muỗng múc kem rót đầy hai cái chén, rồi đặt trên nắp mộ. Xong, nhích lùi lại một chút, tôi nhìn vào nấm mộ, như thể có ai đang ngồi đối diện với mình.
“Trước khi mẹ con chết, bà đã kể con nghe câu chuyện ngày phép cuối cùng của Bác. Con xin lỗi giùm cho mẹ là đã không nhận lời mời đi ăn kem của Bác. Con không biết nói sao bây giờ ngoài sự việc cùng ngồi xuống ăn với Bác một cốc kem.”
Tôi trầm ngâm một lúc, xong nói thêm:
“Giùm cho mẹ con!”

(Cali, May 17/2008)
[]