Trần Thị Bông Giấy

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”

(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

(Bài 7)

 

 

Tháng 6/1999, tôi qua Houston làm cuộc “Nói Chuyện Với Độc Giả” lần thứ hai. Đêm 11/6/1999, sau những diễn biến đau lòng giữa tôi và TNHoàng trước mặt Âu Cơ và ban tô chức cuộc Nói Chuyện (như đã trình bày trong phần footnote của bài viết về Bác Lê Hữu Mục, trong cùng tác phẩm), lúc 2 giờ sáng, tôi trở về khách sạn với Âu Cơ trong tâm trạng vỡ nát tan hoang. Lập tức gọi về Santa Ana cho Chung, đánh thức anh dậy, để rồi trong hơn một tiếng đồng hồ trút hết với anh mọi nỗi cô đơn đau khổ. Đầu giây kia, anh lắng nghe thật kỹ từng lời tôi nói, tiếng thuốc lá nghe rít lên liên tục. Sau cùng anh bày tỏ, giọng thật cứng, gằn từng chữ:

 

“Tôi CẤM cô không được ủy mị như thế. Đó không phải là TTBG! Cô phải ngẩng mặt lên cho mọi người nhìn thấy thật sự thế nào là cái tính chất nhà văn đã được yêu mến bởi rất nhiều độc giả trong cô. Cô nên vào toilette rửa mặt lau nước mắt, và nằm ngủ một giấc bình thản đi.”

 

Từ trong đáy tim, tôi cảm nghe thật nhiều an ổn. Nơi Chung,  rõ ràng tôi không tìm ra đượïc một mẫu Người Tình tôi đã khổ công đi tìm trong suốt kiếp, nhưng ở anh biểu hiện là một Người Bạn thật tốt với tôi, một người đúng thời đúng lúc đưa tay cho tôi nắm để kéo tôi ra ngoài cái hố khổ đau. Tôi mang ơn anh ở những nỗi niềm như vậy. Những nỗi niềm mà đối với tôi –chứ không phải với anh—đã là những ống thuốc thật đầy để bôi lên giùm trái tim suốt đời vẫn cứ bị thương của tôi.

 

[]

 

 

 

Trần Thị Bông Giấy

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

 

(Bài 8)

 

 

 

Thật tình cho đến lúc bấy giờ, tôi vẫn không biết “Chung là ai” và cũng chưa một lần muốn tìm biết ngoài những điều anh nói cho biết. Cái tính cách lãng đãng và rất “không tò mò” thế này đã đôi lần làm “tổn thương” anh (như đã có lần làm tổn thương Nguyễn hay các người đàn ông yêu tôi trước kia):

 

“Cô thật hờ hững. Chẳng bao giờ muốn hỏi gì về tôi cả!” Khi ấy tôi cười, tự bào chữa cho mình:

 

“Đời đã khổ quá nhiều rồi, nên BGiấy không muốn tìm thêm cái khổ nữa. Cái gì anh muốn cho biết, BGiấy sẽ nghe, bằng không muốn, có hỏi, anh cũng không nói, chỉ làm cho anh bực bội.”

 

Ngày 19/6/199 từ Texas trở về Cali, qua điện thoại buổi tối, lần đầu tôi được anh tự ý “nhường bước ” trước cái tính hững hờ lãng đãng kia để nói cho tôi biết một điều rất quan trọng của quá khứ anh: “Khi mới ngoài hai mươi tuổi thì tôi đã là một tay viết được Chu Tử yêu mến trên tờ báo của ông. Dạo đó, Chu Tử gọi tôi bằng‘chú’, xưng ‘anh’. Tôi kể cô nghe chuyện này để thấy rằng Chu Tử là một con ngưòi rất hay. Nếu bảo anh ta ‘tà’ thì cũng thật là ‘tà’, mà gọi rằng ‘chính’ thì chắc cũng chẳng ai hơn anh ấy ở cái ‘chính’ đó. Tôi tiếc cho cô không được sinh ra trong thời đại Chu Tử, hoặc tiếc cho anh ấy không sống tới bây giờ. Chứ nếu có, chính anh ấy sẽ là người thứ nhất ủng hộ những loạt bài Một Truyện Dài Không Có Tên của cô.”

 

Tôi lắng nghe. Chung tiếp: “Trở lại chuyện khi tôi ngoài hai mươi tuổi. Những bài tôi viết trên tờ báo Sống của Chu Tử đa phần là bình luận xã hội và chính trị. Chu Tử rất thích lối viết tôi. Cho đến một hôm, báo đã đưa tin rằng số tới sẽ có một bài của tôi nói về một vấn đề xã hội đương thời khi ấy.

 

(Ở đây, tôi quên mất chi tiết về tên bài báo Chung nói buổi đó). Thì vào hôm trước ngày báo lên khuôn, có một người đàn bà đến gặp Chu Tử, khóc và xin Chu Tử rút bỏ bài tôi định đăng để cứu giùm thanh danh của gia đình bà ta. Những lời nài xin kia đã làm động lòng Chu Tử. Anh hứa sẽ cố gắng rút sau khi nói chuyện với tác giả bài báo. Và sự việc được trình bày với tôi. Chu Tử đưa ra nhiều lý lẽ để thuyết phục tôi bỏ bài viết. Phần tôi, khi ấy mới ngoài hai mươi tuổi, ngựa non háu đá, nên khăng khăng không nhận lời đề nghị. Buổi ấy trời mưa lâm râm, hai anh em ngồi ở cái xe nước mía đậu trước tòa soạn. Cuộc nói chuyện kéo dài đã nhiều giờ vẫn chưa dứt. Đột nhiên Chu Tử bật ra câu nói, đại ý chê trách rằng tôi mới võ vẽ vài ba ngón nghề mà đã có ý muốn qua mặt ‘thầy’, tưởng là mình cao hơn ‘thầy’. Tôi thấy tổn thương, nên buột miệng buông ra lời thề độc: “Nếu anh nói vậy thì từ nay tôi xin bẻ viết để chứng tỏ rằng tôi không muốn hơn anh!”

 

Đầu giây này, tôi nghe những lời kể của Chung mà thấy trái tim mình rúng động không ít. Chung kể tiếp: “Cô biết, xưa nay Chu Tử vẫn thương tôi như đứa em, gọi tôi là chú. Vậy mà khi nghe câu thề ấy, anh thốt la lên trong vô thức: ‘Mày, mày thề như thế thật ư? Mày mà bỏ viết thì đời mày kể như chấm dứt.’ Rồi, ôn tồn hơn, anh nài xin tôi rút lại lời thề. Anh nói: ‘Chú là một tay viết tốt. Tương lai nghề cầm viết của chú sẽ còn đi lên cao hơn nữa. Đừng vì những lý do nhỏ nhặt như câu chuyện vừa rồi của người phụ nữ kia, hay vì câu nói vô ý của tôi mà thề bỏ viết. Tôi xin chú đấy.”Nhưng, nói gì thì nói, anh cũng không lay chuyển được tôi.

 

Đó là lý do cho hai mươi mấy năm nay, tôi không hề viết xuống một chữ nào khác nữa.”

 

Sự rúng động trong tôi càng thêm mạnh mẽ . Bây giờ thì tôi hiểu vì sao mà nơi anh có cái vẻ bí ẩn mà tôi vẫn thấy trước nay. Chung kể tiếp:

 

“Cuối năm 1997, tôi qua Houston thăm một đứa cháu, tình cờ đọc thấy bài viết Phạm Duy Ông Là ai đăng trên tờ Sàigòn Nhỏ. Tôi thích quá, bảo đứa cháu đi tìm mua các tác phẩm của TTBG, nhưng nó chẳng tìm đâu ra. Lúc đến nhà sách Ngày Nay bên Texas hỏi thì ở đó người ta giới thiệu hai tập MTDKCT của cô, nhưng bảo phải đặt cọc trước mới order sách. Nhận sách xong, tôi đem theo trên chuyến bay bay qua Sydney thăm bà chị lớn. Cô có biết, tôi phải đọc rất hà tiện vì sợ rằng mau hết! Cứ đọc một đoạn lại gấp sách mà suy ngẫm. Suốt một tháng trời nghỉ hè ở Sydney, tôi cứ sống mãi trong tâm trạng cảm thông với một tác giả xa lạ. Hình ảnh tôi mấy chục năm xưa với sự nổi giận cuộc đời để làm thành bài viết, nguyên nhân cho lời thề bẻ bút, bây giờ hiện trở lại qua những giòng chữ của cô. Khi về Mỹ, tìm hiểu về cô qua dư luận giới văn nghệ Santa Ana, qua các tác phẩm khác, mới hay ra sự bị cô lập dữ dội của cô trên con đường chữ nghĩa. Từ ấy nỗi tiếc nuối cho tác giả TTBG càng cao hơn trong tôi.” 

 

“Sao lại tiếc?”, tôi hỏi. Chung đáp:

 

“Tiếc cho tài năng cô. Giá như đừng viết hai cuốn Một TDKCT, bây giờ cô đâu bị tụi văn giới cô lập như vậy." "Tiếc đến ngẩn ngơ cô ạ", anh nhấn mạnh.

 

“Nhiều người cũng đã tiếc như anh.” Tôi cười. “Nhưng nói theo ông bà  xưa thì mọi thứ trong đời đều nằm trong hai chữ duyên-nghiệp. Nếu không thế này thì đã không là thế khác. Vì nghĩ vậy mà BGiấy không bao giờ tự đặt với mình hai chữ tiếc nuối theo những gì đã làm ra trong cuộc đời.” Đột nhiên Chung hỏi:

 

“Tôi có ý định viết một tác phẩm về cô, cô có cho phép?” Tôi cười thú vị:

 

“Sao lại không? Nhưng còn lời thề bẻ viết?” Giọng anh ngần ngại:

 

“Đó cũng là điều suy nghĩ nhiều ngày tháng của tôi.” Nhưng rồi anh trở nên dứt khoát:

 

“Lời thề thì tôi cũng đã giữ hai mươi mấy năm, bây giờ nếu có bội thề, tôi tin Chu Tử sẽ hiểu. Vả lại, nếu anh ấy còn sống thì chắc chẳng bao giờ trách tôi khi nhận ra con người tài năng của cô.” *

 

* * Cái ý niệm viết một quyển sách về tôi bắt đầu khởi đi từ đêm đó, được anh bắt tay ngay vào ngày kế tiếp. Một biểu tượng cho sự cập bến muộn màng của con-tầu-anh-với-tang-thương-buồm- lái, nhưng lại chính là con tầu sẽ có-khả-năng-chuyên-chở-hết giùm sóng-nước-tôi-tan-tác những giấc mộng nào từ thuở ngày xưa.

 

Bài viết đầu tiên được giới thiệu trên tờ Văn Uyển số mùa đông 1999, mở màn cho một loạt bài về “Người Đàn Bà Trong Căn Phòng Những-Người-Trăm-Năm-Cũ”. (Cụm từ Những-Người-Trăm-Năm-Cũ là do tôi và Âu Cơ gọi riêng với nhau, ý nói đến những quyển sách của những tác giả đã có hàng trăm năm, hiện đang sống với chúng tôi hằng ngày như những người bạn quý.)

 

Bài viết thứ nhất trong loạt bài của Chung được gửi đến tôi vào tháng 10 năm 1999 như sau:   

 

Phạm Thái Chung NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG

 

“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”


Điếu thuốc trong đêm lóe lên ánh lửa không đủ soi sáng khuôn mặt người đàn bà đang cúi xuống trên thân hình hơi đổ về phía trước. Đêm thật yên tĩnh. Tôi nhìn người đàn bà thật cô đơn trong nỗi quạnh hiu của một kiếp người, lòng bỗng dưng chùng xuống. Bây giờ đang là hai giờ khuya ngày 1 tháng 6/1999. (Ban chiều, từ Santa Ana, tôi lái xe hơn 5 tiếng đồng hồ để đến đây). Tôi đã ăn chút ăn khuya, uống chút rượu mạnh dọn lên từ đôi bàn tay chỉ để đánh đàn và làm văn chương của một người đàn bà mà cuộc đời đã được trải dài theo từ những thăng trầm này tới những truân chuyên nọ. Người đàn bà đó đang ngồi trước mặt tôi; người mà tôi đã tìm đến như một thứ định mệnh nghiệt ngã. Hai mươi lăm năm trước, mối tình đem theo cả một thời xuân sắc phủ kín vùng trời mù sương Dalat; hai mươi lăm năm sau, từ căn phòng của “những-người-trăm-năm-cũ”, một chuỗi dài những hệ lụy làm oằn đôi vai đã được để lại sau lưng. Âu cũng là cái số! Âu cũng là cái giá mà người đàn bà tài hoa đã phải trả bằng chính những tàn phai của đời mình.

 

[Câu chuyện được bắt đầu vào buổi chiều ngày 12 tháng 4... Giọng nói từ bên kia đầu dây sau những hồi chuông reo là của một phụ nữ; âm thanh tươi vui trong tiếng cười vỡ vụn cho tôi cảm giác thấy cái trong sáng của người đang đối thoại. Cuộc trò chuyện khởi đi từ 5 giờ 30 chiều, kéo dài gần hai giờ sau đó. Và chính từ lần trò chuyện đầu tiên, tôi đã mang ý nghĩ khai quật lên từ đáy vực thời gian cuộc đời trầm luân của một người đàn bà mà những chất chồng đến hệ lụy, những thống khổ đến tận cùng đã soi sáng được cái gọi là “mệnh bạc”, điều được kể là “tài hoa”.

 

Người đàn bà đó là Trần Thị Thu Vân trên những mối tình 8 tháng, 6 tháng. Là Trần Thị Bông Giấy trong cuộc sống chồng vợ 7 năm. Là nỗi oan khiên trong Trân Sa. Là cánh chim bay bổng theo Tiếng Gõ Của Định Mệnh, tác phẩm cuối đời.]

 

Định mệnh không phải gõ cửa từ những cuộc tình 8 tháng của Dalat, 6 tháng của Sàigòn thôi, mà chính là đã lên tiếng từ những ngày bắt đầu làm vợ ở tuổi 22. Nhưng, bài viết này sẽ chỉ khởi đi từ lần đầu trở về Dalat năm 1993, bữa thứ nhì, ngày 29 tháng Một. Tôi vẫn thường nói với Thu Vân, trong những tác phẩm của cô, đoạn cuối Một Truyện Dài Không Có Tên tập I được tôi ưng ý nhất. Đó là lần tái ngộ của những người bạn một thời xẻ chia khổ đau hoạn nạn; là lần gặp lại của hai người tình cũ mà nỗi xót xa là những đòi đoạn không rời.

 

 

[Chỉ một chút mơ hồ nhận ra đôi ngấn lệ từ khóe mắt Mỹ Vân vào một chiều Dalat nhuộm vàng những vạt nắng cuối cùng, Thu Vân đã phần nào trang trải tâm sự của chính mình khi cất lên lời khuyên với cô học trò cũ: “Phải, hiện tại mới là quan trọng. Người thật sự đang cần em là chồng và các đứa con em, chứ không phải tấm lòng của người tình cũ gửi về từ một vùng trời rất xa ngoài quê hương.” (*) Có ai không nghĩ rằng Thu Vân đang tự nói với chính mình? Có ai không cho rằng đây là một cách bày tỏ để lòng chẳng hỗ với lòng, để lương tâm đừng cắn rứt? Bằng không, gót chân phiêu lãng sau 18 năm bỏ quê hương ra đi, ngày trở lại sao vẫn bước những bước mộng du tìm về Dalat, đất cũ người xưa, mười mấy năm qua như nỗi nhớ ngàn đời không khuây khỏa? Với dĩ vãng, nhớ đã là một sự khó, nhưng quên lại càng là điều thiên nan vạn nan. “Tiếng dương cầm nào từng đưa cao tiếng đàn tôi vào vùng âm thanh ký ức?Cuộc tình nào từng một thời lùa những dòng nước mắt chảy ngược về tim? Tôi đang cố quên, hay đang gợi nhớ?” Đó là những điều mà trong bài viết, Thu Vân đã tự hỏi với lòng.]

 

Người đàn bà này suốt đời hầu như chỉ làm một điều duy nhất là “tự hỏi”. Tự hỏi về những đày đọa của hai mươi năm trời luân lạc, tự hỏi về những đau xót nhận lãnh trong các cuộc tình đã qua, tự hỏi trên hai lần sống đời chồng vợ, và tự hỏi cho chính nỗi cô đơn nằm chết ngay giữa tâm hồn.

 

Một lần, trong chuyến lên San Jose, tôi đã nói với Thu Vân: “Đọc sách cô, rồi trò chuyện với cô, tôi đã đo lường được cái độ mong manh của tâm hồn cô. Bây giờ đối diện, điều mong manh này càng thêm rõ nét.”

 

Thu Vân tỏ ra không hiểu. Tôi giải thích: “Chỉ văn chương là điều cô không thể bỏ, ngoài ra, tôi nghĩ cô sẵn sàng buông rơi tất cả.”

 

Thu Vân chỉ mỉm cười. Nhưng rồi sau đó, nhiều lần cô tâm sự về người chồng mà cô đã hết lòng níu kéo cho đứa con nhỏ đang cần đến một tình cha, cho chính người đàn ông đã từng một thuở đầu ắp tay gối đừng để tự đánh mất bản thể. Tuy nhiên, khi nhận thấy rằng tất cả đã ra ngoài tầm tay nắm bắt, lòng cô lại vô cùng thanh thản, tiếp tục với văn chương, “người bạn sẽ không bao giờ bỏ rơi cô.” Cô cũng nói về người mẹ cả cuộc đời đã trăn trở theo cô trên những bước chân phiêu lãng, người mà cô cầu mong rằng sẽ sống những ngày còn lại trong sự săn sóc và chia xẻ của mình. Người mẹ ấy cuối cùng cũng bỏ ra đi theo nỗi nhớ thương cho các người con khác... Những điều tâm sự thật đơn giản. Khuôn mặt cô hằn nét chịu đựng đến phải xót xa cho người nghe. Từ cái nhìn này, tôi bỗng dưng cảm nhận được nỗi cô đơn khủng khiếp giữa trái tim người đàn bà đam mê cuồng nhiệt trong tình yêu, văn chương, nghệ thuật, nhưng lại có sức gánh nhận phi thường ngoài cuộc sống.

 

Hãy thử tưởng tượng, một người đàn bà thân hình mỏng manh, mười mấy năm cư trú trên đất Mỹ mà không một lần ngồi trước tay lái, chưa một lần ký tấm chi phiếu thanh toán những khoản chi thu hằng tháng; hãy thử tưởng tượng một người đàn bà, đời sống bảy năm là sự tùy thuộc vào người chồng như một điểm tựa, bên người mẹ như một nỗi an ủi hằng ngày, nay bỗng dưng cả hai cùng một lúc bay bổng, để một mình ở lại với sự hụt bước... Chỉ tưởng tượng thôi, tôi đã thấy được rõ ràng những khó khăn chất chồng trên đôi vai người đàn bà luôn có cái nhìn lãng đãng ơ hờ vào thực tế chung quanh. Tuy nhiên, theo cô, nhờ ơn trên, mọi sự rồi cũng qua hết.

 

Phải, mọi chuyện rồi cũng vẫn qua đi, không như lời phán đoán cay nghiệt của một người bạn cũ khi cuộc hôn nhân bảy năm đổ vỡ. (*) Và tôi vẫn thường tự hỏi, cái giá nào mà cô phải trả cho sự “tạm gọi là” ổn định bây giờ?

 

[Sự thèm muốn ổn định đã khởi đi từ hai mươi lăm năm trước: “Một cánh chim đã quen vẫy vùng phiêu bạt như em mà lại có lúc tự ý nép mình trong chiếc lồng sắt đầy những chông gai ghê gớm. Thời gian tháng 4/1975 dài như một thế kỷ ấy, em bằng lòng một cách bướng bỉnh đối diện với định mệnh đắng cay để chỉ mong nhận lấy một tình yêu và một đam mê.” (MTDKCT I, 435). “Em đã sống đầy đủ trọn vẹn cho những gì mình lựa chọn, sống trên những khổ đau dằn vặt của tâm hồn mình và trong sự đày đọa độc ác nhất của nhân thế.” (MTDKCT I, 438).

 

Nhưng cái giá phải trả cũng thật là ghê gớm: “Trong nhật ký viết thời gian ấy, em nhớ đã ghi nơi đầu trang nhất câu này: ‘J’ai perdu plus que je ne possedais!’ Em đã mất nhiều hơn đã được. Em đã gãy cánh nửa chừng trong việc bay tìm hạnh phúc. Trái tim em bị thương trầm trọng theo nỗi tan nát đam mê mà với hoàn cảnh hiện tại khi ấy, chẳng một ai có thể làm lành được, ngay cả người mẹ đang ngóng chờ ngày đêm bước chân trở lại của em.” (MTDKCT I, 436).]

 

Buổi sớm tỉnh giấc, ngày 1 tháng 6, lúc 4 giờ sáng. Tôi nằm yên trên sofa, nhìn rộng căn phòng đầy bóng tối. Người đàn bà trong Tiếng Gõ Của Định Mệnh đang làm việc dưới vùng ánh sáng hắt hiu của ngọn đèn được kéo sụp xuống. Đối diện bàn viết là cái giường có đứa con gái nhỏ đang yên ngủ. Cũng cái lưng hơi đổ về phía trước, cũng cái đầu hơi cúi xuống thật hờ hững; nỗi xót xa nào chợt òa vỡ làm tôi xúc động đến nghẹn ngào. Căn phòng không một chút sinh khí, rộng khoảng 120m2, chia thành hai gian bởi một cái lò sưởi đốt củi. Các mặt tường đầy kín những sách. Ba cây đàn dương cầm nằm ba phía. Năm bảy bức tranh sơn dầu dựng trên giá hoặc trong các góc. Các bức tượng nghệ thuật bằng đồng đứng rải rác mỗi chiếc một nơi. Ở đó, người mẹ sống như những kéo dài đời sống văn chương, âm nhạc; đứa con gái 11 tuổi thui thủi chập chờn như một cái bóng. Ở đó, hai mẹ con ngày lại ngày nương tựa vào nhau, vừa như thách đố, lại cũng vừa như chịu đựng trên mọi nỗi thống khổ cùng những đày đọa của một kiếp người.

 

Bây giờ, mỗi lúc tôi mỗi nhận chân ra nhiều mặt trong đời sống của người đàn bà rất nghệ sĩ này. Suốt 49 ngày, thời gian chưa gặp nhau kể từ 12/4, chúng tôi đã chuyện trò nhiều nỗi. Lúc nào cũng những tiếng cười vỡ vụn của một sự trong sáng, lúc nào cũng giọng nói nồng nhiệt của một nỗi đam mê, cô hân hoan tìm lại những ngày sống của người con gái bước những bước chân đầu đời, không ủ dột, không dằn hắt như một lần trở về, đêm thứ nhì ở Dalat.

 

 

[Hai tấm vé xe đò Nha Trang ngày mai sớm cho hai mẹ con đã nằm sẵn trong túi mà lòng vẫn nghe bồi hồi ray rức. Mới chỉ là Cao Quang Ngộ cùng quán rượu và phố chợ cũ. Chưa gặp Triệu Trung Tiên, chưa gặp Phùng Kim Ngọc, sao kỷ niệm xưa đã như bóng ma dĩ vãng trở về trùng trùng phủ kín đêm lạnh Dalat? Thôi thúc nào mong nhìn lại người tình của một thời 8 tháng? Oan nghiệt nào như còn đeo đẳng làm nhẹ nghĩa phu thê? Nỗi dày vò, đồng lúc với sự nhận rõ những hốc trống quan ngại trong hồn đã khiến Thu Vân rời rã. Nhưng, phải thật như thế không?Hay chính cái nhìn rõ ràng này là một sự chối bỏ, để từ đó cô mới tự hỏi lòng “Có thể nào (cô) không chờ đợi biết tin hay gặp mặt” người tình cũ, như lời đã khẳng định cùng chồng lúc ban tối?]

 

 

Trong một lá thư gửi cho tôi những ngày mới quen, người con gái của mối tình Dalat năm xưa đã viết: “Đọc sách em, có lẽ anh cũng biết em là người rất chí tình. Ở với chồng con thì tận tụy với chồng con, có người yêu thì chí tình với người yêu, chơi với bạn lại cũng hết lòng cùng bạn. Nhưng con người thường ưa điều giả dối, cả chồng con và người yêu mình cũng thế. Nên, làm sao họ có thể chịu đựng nổi sự chí tình của em? Chính họ tự bứt ra khỏi cái chí tình ấy. Họ đào thải họ khỏi em chứ chẳng bao giờ em lại đào thải họ.”

 

Viết, mà như đang chuyện trò kể lễ. Viết, mà như đang tâm sự cùng một người thân về những cay đắng của đời mình. Kiếp người, nếu được ví như sự trải dài của những canh bài định mệnh thì cô luôn luôn là kẻ cháy túi khi rũ áo rời chiếu bạc. Từ những tháng năm qua, cô không có lấy một người bạn để tâm sự. Suốt chuỗi dài quá khứ, tay mang ngọn đuốc đi khắp nhân gian, cô vẫn không thể tìm ra một kẻ tri âm. Ước vọng lớn nhất chỉ là mong bắt gặp một mẫu Narziss cảm nhận và yêu quý chân thành cái bản chất Goldmund trong cô, phiêu bạt, ngạo mạn (y hệt bản chất nhân vật chính trong tác phẩm Narzissus & Goldmund của Hermann Hesse, nhà văn Đức lừng danh thời hậu đệ nhị thế chiến.)

 

Sinh ra đời như để chấp hành vai trò của một nghệ sĩ, lại thêm đọc sách quá nhiều từ thuở thiếu niên, cuộc sống nội tâm cô luôn bị giằng co cùng một lúc bởi hai bản thể: Với âm nhạc, cô sôi nổi ném đam mê vào những chuyến đi lớn, nhỏ. Sân ga, bến đợi là những điều ám ảnh cùng nỗi nhớ khôn nguôi. Về mặt văn chương, cô tự tạo cho mình một cõi riêng để trút bỏ những phiền lụy của con người, quên đi những phũ phàng sự thật. Với cô, đó là một thế giới hoàn mỹ. Vì vậy, khi va chạm thực tế, cô luôn có khuynh hướng co mình rút vào trong ấy. Phản ứng thường xuyên này đã tạo thành một thói quen thân ái. Và, căn phòng của “những-người-trăm-năm-cũ” mặc nhiên là chốn náu nương an ổn cho một kẻ chạy trốn cuộc đời.

 

 

* Kinh ngạc đến tột cùng khi lần đầu tôi gặp cô ở San Jose. Nhìn cô, tôi tự hỏi: “Người đàn bà này có thể nào lại là tác giả của những tập Truyện Dài Không Tên? Có thể nào cô lại là người từng một thời làm nổ tung dư luận giới văn chương hải ngoại?”

 

Ở cô toát ra một nét gì rất nghệ sĩ; nghệ sĩ từ bàn tay kề ly rượu bờ môi, nghệ sĩ từ điếu thuốc giữa hai ngón tay không kiểu cọ. Và đúng như “sự chí tình” đã kể với tôi, rõ ràng trong tất cả mọi hoàn cảnh giao tiếp, cô đều sống rất chí tình, nỗi đam mê trải dài theo sự trong sáng của một tâm hồn nghệ sĩ. Cô tha thiết trên từng cốc rượu bạn bè giã biệt lúc tàn canh, cô say mê từng ly café mỗi lượt đi về nơi quán lạnh, góc bến xe đỗ. Tuy nhiên, niềm đau khổ cực kỳ trong cô lại khởi sinh từ chính nỗi hụt hẫng nhận ra bất ngờ trên những đam mê cuồng nhiệt đó.

 

Cuộc đời vốn đã vô thường. Cuộc đời cô lại nổi trôi biền biệt. Từng cuộc tình đi qua là từng dấu vết thống khổ lưu lại trong trái tim nhậy cảm vẫn thường xuyên rỉ máu. Từng người bạn trong đời là từng chuỗi dài kỷ niệm bất hạnh mà cô phải cưu mang. Giờ đây, hồi tưởng mấy mươi năm quá khứ, chuyện yêu đương chỉ còn là nụ cười héo hắt, nghĩa bằng hữu như những quán trọ bỏ lại dọc đường. Trong tay cô chẳng còn gì ngoài chút âm nhạc làm duyên, chút văn chương làm nghiệp. Người đàn bà đó sau hai mươi lăm năm lăn lộn, cuối cùng nhận ra bên mình chỉ còn mỗi hai người bạn trung thành bám đeo như hình với bóng, “Nỗi cô đơn và Tư tưởng tự tử” như một tìm đến cho sự giải thoát tâm hồn khỏi những hệ lụy cuộc đời.

 

[Thoáng bắt gặp quãng đời năm cũ trên những luồng sóng âm thanh đã từng một thời làm cho trái tim say mê ngưỡng mộ, thoáng bắt gặp những mơ màng đầy tính chất thơ của Dalat trong trí tưởng thời tuổi nhỏ xa xưa, lòng Thu Vân bỗng dưng dậy lên hình ảnh “những đêm cực kỳ đau đớn vì mối tình đã vỡ, vì đối diện chiến tranh, đối diện với những nỗi nát tan ghê gớm trong lòng khi ảo ảnh trần truồng hiện nguyên hình xấu xa của nó...”]  (MTDKCT I, 422).

 

 

Suốt thời tuổi trẻ, cô đã như cánh chim bay không mỏi, lấy trời cao làm nhà, lấy trăng sao làm bạn, lấy âm nhạc làm lẽ sống. Người con gái chấp nhận tình yêu (và tình bạn) như một thứ định mệnh nghiệt ngã cuối cùng cũng xếp đôi cánh mỏng trong không gian chật hẹp của Dalat theo với nỗi đau và những ám ảnh. Trong cuộc tình 8 tháng, tiếng khóc âm thầm đã thường xuyên thay thế cho giọng cười vỡ vụn; tủi nhục ê chề không ngớt xoi mòn hạnh phúc mong manh. Một đêm, cũng trong chuyến lên San Jose, nơi thềm cửa sau, trăng sáng vằng vặc, tôi đã được cô kể cho nghe bằng giọng nói lúc từ từ hờ hững, khi sôi nổi đắng cay về những đau đớn riêng tư thời gian Dalat di tản. Qua những nhục nhằn đã nhiều ngày tháng cưu mang, qua những ê chề đang muốn cùng tôi chia xẻ, tôi vẫn không nghe thấy một lời chê trách cho người đàn bà vì lòng ghen mà biến thành cay độc, chẳng một tiếng oán hờn trên người đàn ông vì tình yêu quá độ mà trở nên ích kỷ nhỏ nhen. Cô thản nhiên nhận lãnh trách nhiệm trong cuộc tình đổ vỡ bằng nét mặt thật nhiều kiêu hãnh; nói lên sự bỏ ra đi bằng phong thái của người đàn bà tự trọng, thủy chung.

 

 

[Là mẫu người luôn cưu mang một định mệnh muộn màng tơi tả, bằng khí chất hào sảng của một kẻ quyết tâm tới trong mọi cuộc chơi, Thu Vân đã vượt qua trên những quay cuồng cùng biết bao thống khổ để chỉ mong bảo vệ cuộc tình, mong giữ lại âm nhạc như một bảo vật trân quý. ] (Lấy ý văn từ MTDKCT I, tr. 432).

 

Trong câu chuyện, khi đề cập đến tấm vé máy bay bị xé đôi và để rơi trên triền dốc Ngọc Lan một buổi sáng sương mù thời gian Dalat di tản, tôi có hỏi Thu Vân:

 

“Cô ở lại Dalat những ngày dồn dập bằng thái độ của một kẻ sẵn sàng chấp nhận tất cả, vậy lý do nào khiến cô sau đó thản nhiên bỏ anh Ngọc ra đi?” Thu Vân im lặng. Dưới ánh sáng trăng vằng vặc, trông cô như co người sợ hãi. Mãi lâu cô bật lên câu tự trách:

 

“Nông nổi chỉ lại em! Những lần xuống phố của em đã tạo ra trong lòng anh ấy một nỗi nhục nhã ngay trước mặt vợ con thời gian quay cuồng đó.” Và, những lời đuổi xua tàn nhẫn của người đàn ông cô yêu, trong căn phòng lộng gió vào một buổi chiều tháng Ba, năm từ bỏ Dalat, đã được kể ra bằng giọng nói bùi ngùi xúc cảm. Những lời đã làm trái tim cô tan nát. Sự quay lưng khỏi cuộc đời con người đã được cô đánh đổi bằng tất cả đam mê tự do trong thời tuổi trẻ cũng từ đó khởi đi:

 

“Buổi chiều ấy, em nhớ thật rõ. Dalat trời mưa lê thê. Trong căn phòng lộng gió nằm khuất lẫn nơi hè sau của ngôi biệt thự số 35 đường Nguyễn Hoàng, có sự chứng kiến của người đàn bà và các đứa nhỏ, em ngồi trước anh ấy, run rẩy nhỏ bé, nghe anh ấy nói: ‘Anh yêu em, tôn vinh em và quyết tâm từ bỏ tất cả để được làm chồng em. Nhưng không phải anh lấy vợ về để làm đĩ. Vậy, em tự xét lại em đi. Em là đứa vô liêm sỉ. Từ nay nếu có cần, em cứ đi tìm tụi thằng Ngộ, thằng Cương hay thằng Tàu gù lưng! Ngay đến một thằng đàn ông tàng tật, em cũng chẳng buông tha nữa!” Im lặng lúc lâu... Giọng cô trở nên ngần ngại:

 

“Em hiểu, tất cả đều do lòng ghen mà ra. Nhưng, có một câu. Một câu nát lòng anh ấy đã nói như quất vào mặt mà em vẫn thường trốn chạy bất cứ lần nào gợi nhớ chuyện cũ: ‘Em đừng bao giờ mong anh ra đi lần nữa. Cuộc sống anh là đây, trong ngôi nhà này. Anh đã bỏ tất cả để được có em, nhưng em cũng chà đạp tất cả để phải mất anh. Vậy thì sự ra đi lần này chỉ là em đơn độc!’ Khuôn mặt cô chùng xuống trong một nỗi buồn, nhưng giong điệu vẫn đều đều, không lộ chút gì than oán:

 

“Khi ấy, lời hứa ‘đưa em về sống trên phố thị nếu ngày nào Dalat yên ổn’ hiện ra trong óc. Em biết đó sẽ là điều không bao giờ còn được thực hiện. Tấm tình rộng lớn trong em đã vỡ. Vì vậy mà em bỏ ra đi.” Phải nói rằng rất sòng phẳng trong tình yêu, khi đến, Thu Vân đã đem theo tất cả nhiệt tình của người con gái sinh ra đời chỉ để đánh đàn, yêu đương và rong chơi ngày tháng. Lúc đi, cô bỏ lại sau lưng tất cả những hệ lụy, không hối tiếc, chẳng thở than. Cuộc gặp gỡ với Phùng Kim Ngọc sau 18 năm xa cách là một chứng minh hùng hồn nhất.

 

 

[Chỉ cần 35 phút cuối cùng trong tiệc rượu hội ngộ đêm thứ nhì trở về Dalat, năm 1993, ngày 29 tháng Một, Thu Vân đã tỏ bày được tất cả tâm hồn trong sáng của người đàn bà đang đối diện với người tình xưa cùng những kỷ niệm của chuỗi ngày bi thảm cũ: “Tôi nghĩ nhanh đến hình ảnh ê chề buồn nản của một con người đơn độc đứng trước buổi tiệc đã tàn sau một đêm vui dữ dội... Ôi! Tại sao tôi lại tưởng ra điều ấy? Cuộc tiệc này đã được chấm dứt từ 18 năm trước chứ nào đợi đến bây giờ?”] (MTDKCT I, 443).

 

Tôi vẫn thường tự hỏi, yếu tố nào đã tạo nên cái khốc liệt trong cuộc tình 8 tháng Dalat? Câu trả lời khởi đi từ hai điểm đối nghịch nhau như một thứ định mệnh nghiệt ngã: “Sự quyện lẫn của hai người tình trong cùng một đam mê âm nhạc”, và “Lòng ghen ghê gớm của người vợ như cái bóng đè nặng ngày đêm, làm khơi dậy bản chất quật cường của Thu Vân”.

 

Thật vậy, trước những săn đuổi không ngừng của người vợ, trước nhiều trận đòn ghen tàn ác, Thu Vân vẫn chịu đựng kiên trì, không tỏ ra kiêu căng, chẳng phơi bày khiếp nhược. Tại sao như thế? Lời đáp rõ ràng: “Vượt cao hơn cả tình yêu chính là nỗi đam mê âm nhạc đã cuốn hút hai người tình theo sự quyết tâm đi tới trên những khốc liệt dồn dập đưa đến từng lúc trong cuộc yêu đương đầy nước mắt xót xa.” Nếu bảo rằng tiếng dương cầm của Phùng Kim Ngọc đã nâng cao ngón đàn Thu Vân lên tới đỉnh cuối, thì chắc chẳng ai có thể phủ nhận, cũng từ tiếng violon của Thu Vân mà nét tài hoa của Phùng Kim Ngọc đã phát tiết đến độ phóng cao nhất. Nhưng, nếu bảo tình yêu làm tan băng giá suốt 8 tháng của vùng trời sương lạnh gió hú, thì khi âm nhạc không còn là tụ điểm vói bắt, có điều gì cầm giữ được gót chân phiêu lãng của người con gái nghệ sĩ kia? Sự rũ áo ra đi một cách quyết liệt sau khi đã quyết liệt xé đôi tấm vé máy bay để ở lại Dalat những ngày ly loạn là một chứng minh hùng hồn cho điều ở trên vừa viết.

 

Lại phải nói rằng: “Âu cũng là cái số, âu cũng là cái giá mà người đàn bà tài hoa đã phải trả bằng chính sự tàn phai của đời mình!” Điều duy nhất nếu có thể làm để kết thúc câu chuyện hai người tình cũ trong lần tái ngộ tại Dalat, tháng 1/ 1993, người viết xin được tạm thời kết luận:

 

“Bên cạnh cái dư âm bàng bạc của mối tình đắm say dĩ vãng, bên cạnh tình bạn đã cùng một thời chia ngọt xẻ bùi với nhau, Thu Vân còn cưu mang vai trò một người vợ trong hiện tại. Để trải bày cái tâm trong sáng cùng tấm lòng đôn hậu của người nghệ sĩ như một nguyên tắc cho đời sống mẫu mực, cô đã tự tay đóng những trang tình sử. Sự đóng này không phải khởi đi từ 18 năm trước, mà chính ở lúc 5 giờ 15 phút sáng ngày 30/1 tại thành phố mù sương.”

 

[“Ôm mặt khóc rưng rức

 

Ra đi là hết rồi!” Đinh đã ghim sẵn. Chín nhát búa cuối cùng gõ đều trên chiếc áo quan, tàn nhẫn, lạnh lùng như những Tiếng Gõ Của Định Mệnh. Mối tình xưa cùng thứ hạnh phúc đọa đầy được vùi sâu trong mộ huyệt: “Khi ấy đúng năm giờ ba mươi phút sáng!”]

 

* * *

 

Tôi bỏ Dalat ra đi vào những năm cuối của thập niên 50. Gần bốn năm trời sống đời phiêu bạt tại một thị trấn vùng núi, Dalat trong trí nhớ tôi là những buổi sáng mù sương, mặt trời lên trễ; những đêm trở gió, tiếng thông reo như tiếng réo gọi từ một tiền kiếp nào thật đã rất xa. Dalat của tôi cũng biểu tượng là những sáng quán phở Bằng, những đêm café Kinh Đô; (café Tùng khi ấy còn trụ trong dãy kiosque gần bờ hồ Xuân Hương, đối diện rạp hát Ngọc Lan), mà không là ánh đèn vũ trường huyền ảo, cũng chẳng đàn ca rộn rã, lại càng không là những quán ăn khi đã tàn cuộc nhảy nửa khuya. Tôi là một kẻ rất dốt âm nhạc và không biết nhẩy, dù rằng suốt gần 7 năm trời Sàigòn của thập niên 60, đêm đêm tôi vẫn theo lũ bạn, tìm tới một dancing trên đường Trần Hưng Đạo, ngồi một mình uống rượu, ngắm nhìn ban nhạc thu nhỏ nơi góc phòng dưới làn ánh sáng chập chờn. Ở đó có người đàn ông Tàu lai đẩy từng tiếng đại hồ cầm rời rạc vào vũng âm thanh buồn bã. Ở đó có người con gái kéo vĩ cầm, vóc dáng như một thân cây nghiêng đổ, mái tóc dài phủ che một góc mặt, trông thật man dại mơ hồ.

 

Cả đời, tôi chỉ thưởng thức âm nhạc bằng chính sự rung động của tâm hồn. Trái tim tôi nhiều lần trĩu nặng khi nghe tiếng đàn nào đem theo kỷ niệm của một thời tuổi trẻ, bài nhạc nào làm sống dậy ký ức những ngày đã qua. Tôi yêu giọng hát người đàn bà làm thành danh Người Đi Qua Đời Tôi, Nghìn Trùng Xa Cách. Từng đêm, ngồi ở vũ trường Ritz, tôi vẫn chờ nghe một tiếng ca nữ hát bản Ngậm Ngùi. Nhưng, nghe một mình, bằng tiếng violon và tiếng dương cầm phụ đệm thì chỉ một lần duy nhất: Đêm cuối tháng 8 San Jose, trong căn phòng “những-người-trăm-năm-cũ”. Nguyễn Dũng ngồi trước chiếc dương cầm kê giữa phòng khách, Thu Vân đang trải dài những bước nhẹ trong khoảng sáng hắt ra từ những ngọn nến lung linh. Bên ngoài, bóng đen trùm lấp. Bên trong, âm thanh Bàn Tay Dĩ Vãng thiết tha vang dội từ cây vĩ cầm trong mười ngón của Thu Vân. (Tôi nhớ lại ban chiều, trong cuộc rượu ba người, đề cập đến Trần Quảng Nam, Thu Vân đã nồng nhiệt ca tụng một tài hoa âm nhạc hải ngoại. Nhìn nét mặt sôi nổi và lắng nghe những lời phân tích theo những note phá cách trong các ca khúc của Trần Quảng Nam, tôi đã tự hỏi, lý do nào khiến cho hai người bạn cũ từng rất thân thiết với nhau lại có thể quay lưng trước nhau một cách dửng dưng như hiện tại?)

 

 

[Trong suốt 5 tháng qua, chúng tôi chỉ bàn luận chuyện văn chương chia xẻ mà không là âm nhạc. Một đêm, từ đầu dây Santa Ana, tôi áp điện thoại sát vào cái loa máy hát, mở cho Thu Vân nghe bài Chiều Phủ Tây Hồ. Đầu dây kia, đáp lại, cô phân tích kỹ càng những kỹ thuật nào theo cái thắc mắc tôi cho là “rất lạ trong bản nhạc”. Thế rồi, miên man suốt buổi, từ Phạm Duy đến Trịnh Công Sơn, từ Đặng Thế Phong đến Cung Tiến, từ Phạm Đình Chương đến Trần Quảng Nam... cô hát nhẹ những bài tiêu biểu và đưa ra những nhận xét riêng bằng giọng nói nồng nhiệt, mà với tôi, đầy tính thuyết phục. Từ đôi tiếng thở dài rất nhẹ bên kia đầu dây, tôi cảm ra những hồi tưởng về năm năm Nước Chảy Qua Cầu, về những buổi khuya Dalat khi vũ trường đã ngưng điệu nhảy, những điều đang dày vò trái tim người đàn bà nghệ sĩ. Cả ngày hôm sau, cô ủ rũ, chuyện trò với tôi như một kẻ không hồn. Nhắc lại kỷ niệm trên, tôi chỉ muốn trình bày cho thấy con người âm nhạc của Thu Vân là như vậy. Với Thu Vân, âm nhạc là mạch máu và một phần đời sống. Trong một lúc, tôi càng nhận chân ra cái mật thiết mà cô đã trao gửi cho mối tình Dalat năm xưa.]

 

 

Tôi tiếp thêm rượu vào hai chiếc cốc mỏng đặt trên nắp dương cầm. Người thanh niên đang gập mình với những ngón tay lướt trên hàng phím. Từ một góc phòng, tiếng violon vẫn quấn quýt, dạt dào. Thỉnh thoảng, giữa vài note nghỉ, Thu Vân cầm cốc rượu đưa lên môi, xong lại đắm hồn trong âm nhạc, những nỗi niềm chẳng biết gửi về đâu trong trái tim dường như đang thật nghìn trùng xa cách. Đêm San Jose đột nhiên trở lạnh. Trong óc tôi, lời tâm sự một lần trước đó, “Anh tương tư tiếng đàn cô!” vang lên, cùng lúc với nỗi xót xa riêng. Bây giờ, tiếng đàn của người đàn bà tài hoa này đang tràn ngập chung quanh như một sự chiếm hữu, vậy mà sao cõi lòng tôi chỉ là một nỗi mơ hồ tan nát?

 

Đêm đã thật khuya. Nguyễn Dũng đã vào phòng ngủ. Chỉ còn Thu Vân với nét cô đơn tỏa đầy trên vóc dáng. Tôi ngồi đối diện, nhìn người đàn bà nơi chiếc ghế dương cầm, năm ngón trái ghì chặt cần đàn, đầu cúi gục, mái tóc dài phủ kín khuôn mặt. Trong tôi, niềm xót xa bỗng dưng tràn ngập. Xót xa cho người và cho cả nỗi đau từ chính trái tim tôi. Đột nhiên, Thu Vân ngửng đầu, vẻ thật quyết liệt:

 

“Em đàn cho Chung nghe!... Cho Chung nghe! Chỉ riêng một mình Chung nghe thôi!” Thế rồi, hất cao cần đàn, cô ghì mạnh cây archet trên bốn sợi dây, làm bật lên những âm thanh nghẹn ngào từ trái tim vẫn thường xuyên rỉ máu. Đang từ người đi qua đời tôi, cô bắt sang nghìn trùng xa cách. Đang từ bàn tay dĩ vãng, cô nhảy qua cỏ xót xa đưa một cách rất ngậm ngùi.

 

Từng khúc nhạc bỏ dở. Từng điệu hát không tròn. Nơi cô phơi bày rõ một nội tâm đang cực kỳ rối loạn. Trong đêm khuya lạnh vắng, cái vẻ hoảng hốt bao trùm trên cô đã giống như những vò nát trái tim tôi. “Có phải không em? Em đang muốn tìm bắt lại một thứ hạnh phúc nào đã ngàn năm mây bay trong tiếng đàn lỡ nhịp? Có phải không em? Dĩ vãng nào đang như bóng ma, quay trở về làm chao đảo tấm lòng trong sáng của em?”

 

Rượu đã thật ngấm. Thu Vân buông violon, xoay người, gục đầu trên nắp chiếc dương cầm đen bóng. Nhìn đôi vai gầy co lại trên thân hình yếu đuối, tôi chợt nhận ra nỗi tuyệt vọng mạnh mẽ trong tâm hồn người đàn bà tài hoa nghệ sĩ kia. Cả cuộc đời trải dài theo những cuộc tình dang dở cùng chuỗi ngày phiêu bạt, suốt bảy năm sống đời chồng vợ... vậy mà bây giờ trong tay cô, chẳng còn gì ngoài một nỗi khủng khiếp cô đơn...  Lòng tôi thắt lại.

 

Thì thôi! “Ngủ đi em! Em hãy ngủ đi trong cơn mộng bình thường! Tôi sẽ ngày đêm cầu nguyện cho em những giấc ngủ an lành thơ trẻ.” Tôi đắp lên người Thu Vân tấm chăn mỏng. Rồi đi vào giường mình, lòng tự nhủ: “Sẽ chẳng bao giờ! Chẳng bao giờ tôi còn muốn nghe lại một lần những tiếng đàn bật ra từ trái tim đau khổ của em.”

 

Trời bắt đầu sáng.

 

(Santa Ana, Cali, thứ sáu, 22/10/1999) []

 

 

 

 

Trần Thị Bông Giấy

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

(Bài 9)

 

 

Có lần, đọc lại những dòng nhật ký cũ của khi 19 tuổi, tôi thấy thật kinh ngạc với những ý tưởng mà đã gần trọn một đời người, vẫn không thay đổi:

 

“*/ Bản chất tôi vốn không thích giao thiệp và có mặt trong các cái gì thuộc về khối đông. Lại là con người vốn ưa phù suy chứ chẳng bao giờ phù thịnh.

 

*/ Bao giờ cũng nghiền ngẫm câu nói tự ngàn xưa: “Bể học vô tận, nghệ thuật khó khăn nhưng cuộc đời lại quá ngắn”; vì vậy, không bao giờ muốn mất thì giờ với những sở thích vị kỷ. */ Sự đau khổ tự có một giá trị riêng nếu biết dùng nó, nên chẳng sợ phải đối diện với những khổ đau đưa đến triền miên trong cuộc sống.

 

*/ Sự cô đơn là một đặc ân nhận từ Thượng Đế, không phải ai muốn cũng đều có, nên rất trân trọng nỗi cô đơn của riêng mình. */ Theo tôi, tất cả những gì xảy ra trong đời, từ tình bạn, tình yêu, tình gia đình và đủ mọi thứ tình của con người, đều là ngoại thân và vô thường, kết nên từ duyên và nghiệp, nên chẳng vui khi có và cũng chẳng buồn khi phải mất đi.

 

*/ Riêng chỉ một thứ tình duy nhất có thể làm chao đảo tôi nếu không còn có được trong tay nữa: Đó là cái duyên với văn chương nghệ thuật. Bao giờ điều này xảy ra thì cũng là lúc tôi biết rằng sẽ tự kết liễu đời mình.”

 

Những lời nhật ký ngày nào, bây giờ ngẫm lại, thấy đã có cái gì kỳ lạ. “Cái kỳ lạ đó” chính là những điều “thật sự là tôi” ngay từ khởi điểm còn rất dại khờ chưa bước chân vào đời, so với bây giờ ở chặng gần cuối cuộc đời, vẫn không thay đổi. Một kiểu “lội ngược dòng sông” khó tìm ra kẻ đồng hành cùng một hướng. Điều này, luôn luôn tôi suy ngẫm trong nhiều ngày tháng.

 

Sự kiện mười năm đóng cửa đã khởi đi từ cái nhìn chán nản của riêng tôi về một giới văn chương ồn ào danh lợi, qua đó, tôi thấy mình như một kẻ lạc lõng, không có điểm nào hòa hợp cùng ai cả. Bây giờ dưới cái nhìn của Chung, sự lạc lõng nói trên bỗng dưng biến thành nỗi cảm động một cách rất ngạc nhiên. Xuyên qua bài viết, hình ảnh người-con-gái-đàn-bà Thu-Vân-TTBG trong tôi bỗng nhiên mang một bộ măët khác lạ đến chính tôi cũng không dễ dàng nhìn ra cho được. Tự hỏi, cái “khốc liệt” của cuộc đời mình đã từng có lần cao vời đến vậy sao?

 

Nói cách khác, trước nay, tôi được ví như một con người đang rơi xuống vũng lầy đầy máu và nước mắt, để điều duy nhất cần làm KHI ẤY là tìm cách THOÁT RA ngoài vũng lầy, đến chẳng còn kịp thì giờ mà nhận định xem thế nào là sự ghê gớm của vũng lầy đang mắc phải. Bây giờ, qua những giòng văn chương Chung, tôi thú thật, đã phải xót xa cho thân phận hẩm hiu của nhân vật TTBG được viết tới bao nhiêu, thì cũng tự xót xa cho tác-giả-bài-viết và cho chính cả con người-độc-giả-tôi hiện-tại ngần ấy bấy nhiêu. Những con người chưa bao giờ biết đến điều nghỉ ngơi trong những đam mê đã chọn. “Những con người Định Mệnh” trong giòng đời nghiệt ngã không mấy lần tìm bắt được nỗi bình an!

 

Một nhà văn, hay một độc giả, không thể nào có được cái nhìn cảm thông sắc bén về người khác nếu không phải đã từng sống thực vai trò của kẻ ấy, dù trên thực tế cuộc đời hay trên ý nghĩ suy tưởng. Chung đã sống chính cuộc đời của nhân-vật-tôi đang viết, trên một bình diện khác của cuộc sống. Những dằn vặt trong nhân-vật-TTBG, chính thật cũng là của con-người-tác-giả-Phạm-Thái-Chung-sâu kín. Những nỗi oan khiên phơi bày chỉ là lời nói giùm cho chính anh, kẻ đã thấm cảm những điều mình viết bằng những kinh nghiệm dồi dào của bản thân.  

 

Buổi tối đọc bài viết Người Đàn Bà Trong Căn Phòng Những-Người-Trăm-Năm-Cũ, giữa bóng đêm âm u chỉ được thắp sáng lên bằng ngọn đèn để bàn bé nhỏ, nỗi ngậm ngùi trong tôi càng thêm lan rộng. Cái “phong vận kỳ oan” của nhân-vật-Thu-Vân-TTBG đã được Chung nhìn thấu. Đó là một mối ân tình tôi đang mắc phải mà cho dẫu rằng không thể đáp trả bằng một Tình Yêu đưa đến tự trái tim, thì tôi cũng sẽ vẫn đặt để cho nó một ngôi vị đáng trọng trong vũng ký ức yêu dấu của riêng mình.

 

Có một câu hỏi cứ vang hoài trong óc: “Sao anh lại tìm đến trong đời tôi quá trễ? Sao từ thuở nào xa lắc ngày xưa, tôi đã không đi tìm để có thể gặp anh?”

 

Hỏi, và rồi tự biết sẽ không bao giờ có được câu giải đáp. Cái “không bao giờ” đó chính là dấu ấn khắc nghiệt mà tôi đã nhận từ Định Mệnh. Sự tàn ác của Định Mệnh càng được nhìn rõ hơn ở điểm đã hé lộ ra cho tôi thấy “con búp-bê-mơ-ước-có thể bắt chụp” như một kiểu dụ hoặc; để rồi khi tôi giơ tay sờ được vào cái gấu áo con búp bê đó, tức thì Định Mệnh sẽ giật phăng đi trong cái cười tàn nhẫn thỏa thuê.

 

[]  

 

 

 

Bài  10 - 11 - 12   >> 

Trang chính     >>