Trần Thị Bông Giấy

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”

(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

(Bài 10)

 

 

Căn bệnh của Chung ngày càng thêm trầm trọng, vậy mà anh vẫn không chịu kiên trì chữa chạy. Từ 5 giờ sáng đã phải đi làm trong một cơ xưởng điện tử, về nhà lúc 3 giờ chiều là ném mình trước bàn viết ngay với cái computer.

[Tôi thật xót xa theo cuộc sống quá ư đơn lẻ của anh. Căn phòng anh ở Santa Ana, thuê trong một ngôi nhà rộng, đã từng một lần tôi có ghé. Đó là căn phòng y hệt như bao nhiêu căn khác của những người độc thân. Vậy mà khi thoạt bước vào, cái vẻ lạnh lẽo trong đó làm cho tôi gây gây sờ sợ. Nó giản dị quá với cái bàn viết nhỏ, cái giường đơn, cái tủ lạnh và cái tủ áo kê đứng trong góc. Không một bức tranh treo tường, không một chậu cây tươi, không bất cứ vật dụng trang trí nào làm cho ấm áp. Trên bàn viết có đặt tấm ảnh bán thân của tôi, rút ra từ trang cuối cuốn Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau tập I, được lồng kính trang trọng. Thêm những tác phẩm tôi viết đặt ở đầu giường ngủ. Ngoài ra, không có gì đặc biệt hơn.

Thật sự, tôi se lòng khi đem so sánh hai nỗi cô đơn của tôi và của anh. Ở tôi, sự cô đơn giống như một người bạn đầy uy lực và tràn trề tình thương cho tôi tìm vào úp măët trong những khi cháy lòng, tuyệt vọng. Trong vòng tay che chở của nỗi cô đơn đó, cả tôi lẫn Âu Cơ đều tìm thấy an ổn hạnh phúc với màu sắc của nghệ thuật, thi ca, văn chương; của cái lối trang hoàng đầy tính nghệ sĩ, các bức tranh, các chậu cây xanh, ánh sáng mặt trời rạng rỡ ban ngày hay ánh trăng ban đêm chiếu qua rất nhiều cửa sổ bằng kính.
Còn ở anh, sự cô đơn trông thảm não như trong một nhà tù, một dưỡng trí viện, hay một nơi chốn để tu hành; những không gian vốn dễ dàng làm cho một con người sinh động như tôi tìm thấy sự sợ hãi mà không là an ổn.]

Tôi nói lên cảm tưởng se lòng của mình theo căn phòng thì Chung gật:
“Tôi ở đây đã đượïc năm năm, sau khi dọn từ Texas qua.”
Đưa tay chỉ vào cái giường ngủ drap nệm thẳng băng, anh cười mỉm:
“Đã rất nhiều ngày tháng tôi mong có được một lần nhìn thấy cô nằm trên chiếc giường đó...”
Quay nhìn hướng khác, anh nói nhỏ:
“Nhưng chỉ là vô vọng!”
(Lòng tôi nhói đau, nhưng bề mặt là một sự nín lặng.)

[Một cách nào đó, anh hẳn đã nhìn ra điều rằng tôi không yêu anh, mà là quý thương anh như sự quý thương dành cho một người thân. Đó chính là điều anh không bao giờ muốn. Anh vẫn hay đả kích tôi cái ám ảnh theo một tình cha, kết án tôi khi đặt lên anh Ngọc hay TNHoàng cái vai trò “người cha” ấy.
Từ nhiều tháng, mức độ tình cảm trong tôi không còn cái hăng say của thuở đầu tiên chưa gặp gỡ. Và đã nhiều lần, qua cái lối “kiểm soát” gắt gao hằng giờ hằng phút bằng những cú điện thoại viễn liên Santa Ana-San Jose, hoặc cái lối dễ bị tổn thương nơi anh khi cho rằng tôi không thành thật, đã làm tôi sợ hãi trong tâm trạng muốn lánh khỏi anh.

Có lần tôi nói với anh như một nhắc nhủ:
“Anh Ngọc mất BGiấy vì lòng ghen quá độ.”
Cũng nhiều lần tôi phơi tỏ:
“Trong cuộc đời, BGiấy vẫn đặt cho Tình Cảm một vị trí rất cao trong trái tim, nhưng đến một hồi mà nếu nhận thấy Tình Cảm chỉ là những điều phiền toái thì BGiấy thích tự rút vào nỗi cô đơn của mình hơn.”
Anh hiểu, bởi anh là con người rất thông minh nhậy bén. Nhưng do bởi quá tự kiêu mà những cái hiểu này vẫn phải chào thua cái tính độc đoán trong anh.]

Dù vậy giữa tôi và anh vẫn còn giữ một mối liên hệ như cũ, phần nhiều là do ở cái mềm mỏng dễ tha thứ của tôi. Tôi khôn khéo giấu đi nỗi chán nản đôi lúc của mình theo tình trạng bệnh hoạn đang đến hồi nguy ngập của anh. Mỗi ngày qua điện thoại, tôi vẫn biết rằng anh, thay vì chữa chạy thì lại chỉ cúi đầu vào computer “hoàn tất cho xong tác phẩm về cô như một kỷ niệm lưu lại trước khi tôi nằm xuống vĩnh viễn.” Câu nói này vẫn khiến tôi dễ dàng chùng lòng mỗi khi nghĩ đến. Anh vẫn nói:
“Chữa cũng chết, không chữa cũng chết, tại sao tôi không dành thì giờ còn sót để thực hiện cho xong một lời đã hứa với cô?”
Anh nói thêm:
“Lời thề cùng Chu Tử, tôi còn giữ được gần ba chục năm, nói gì cô, tình cảm tôi dành cho cô có phần thâm nặng hơn đã dành cho Chu Tử.”

Thật tình, tôi cũng chờ mong sự kết thúc của tác phẩm anh viết bởi dẫu gì thì cũng không thể chối nhận rằng, bệnh trạng anh rõ ràng đã đến hồi kiệt quệ, và anh lại khăng khăng không muốn chữa chạy. Nhiều lần tôi xin anh gửi bản thảo cho đọc trước, nhưng luôn luôn anh vẫn chối từ:
“Cho tôi thêm một thời gian ngắn nữa thôi, đã lên đến con số 300 trang rồi, chắc cũng không lâu nữa là kết thúc.”
Vì vậy, tác phẩm tựa đề phần I “Người Đàn Bà Trong Căn Phòng Những-Người-Trăm-Năm-Cũ” và phần II “Khuôn Mặt Bi Tráng Thứ Hai Trong Văn Chương TTBG”, ngoài bài viết mở đầu, tôi chẳng đọc thêm được chữ nào khác.

[Mãi rồi, tôi cũng chẳng bận tâm theo tác phẩm đang viết của Chung, nghĩ rằng, đến bao giờ xong thì đọc. Vả lại, tôi có cái đặc tánh là hay tin vào duyên nghiệp. Cái gì đối với tôi cũng đều là duyên với nghiệp. Thì một tác phẩm phơi bày những điều oan uổng của tôi như ý muốn Chung đang thực hiện cũng sẽ nằm trong cái phần duyên nghiệp đó. Nếu tôi có duyên được nhìn thấy nó, tự khắc sẽ có thôi. Vì nghĩ vậy mà tôi để yên, không nài xin anh cho đọc trước.

Có điều rằng, tôi cũng không ngờ chính sự việc này lại tạo nên trong anh một nỗi chán nản nào đó. Anh cho rằng tôi không tha thiết với tác phẩm. Câu nói này đượïc lập lại đôi lần đến khiến tôi khó chịu. Một cách mơ hồ, tôi tin rằng mình sẽ “không có duyên” với nó. Cũng không hiểu sao lại có điều ấy. Nhưng thật, nếu dựa vào tính chất Định Mệnh tôi vẫn thường hay gặp vào giờ phút cuối của từng sự kiện xảy ra trong đời trước đó, dựa vào số phận hẩm hiu của mình, tôi không thể nào dám tin rằng trên cuộc đời này sẽ có người giải đượïc những uẩn khúc tâm sự cho tôi.]
[]

 

 

Trần Thị Bông Giấy


NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)


(Bài 11)

 

 

Cuối tháng 3/2000, tôi nhận từ Chung bài Tựa (không có Tựa) viết cho tác phẩm Trân Sa của tôi như sau:

“Luôn luôn, tôi vẫn không muốn nghĩ rằng TRÂN SA là một tác phẩm, cho dù cùng với Tiếng Gõ Của Định Mệnh, đây là hai “tác phẩm” mà tác giả đã viết như để ký thác tâm sự một đời. Nếu Tiếng Gõ Của Định Mệnh được coi là tác phẩm tình cảm cuối cùng, thì TRÂN SA là một chuyển tiếp từ cuộc tình Dalat đổ vỡ.

Như một ràng buộc của định mệnh, tháng Tư năm 1976, ngày 12, thứ Hai, tại Sàigòn, tác giả đã chia tay với cuộc tình TRÂN SA sáu tháng. Hai mươi ba năm sau, cũng ngày 12 tháng 4 –thứ Hai đầu tuần, tác giả bắt tay cùng Tiếng Gõ Của Định Mệnh, những tiếng khốc liệt gõ đều trên cuộc tình mong manh như sương như khói ở một vùng trời bạt ngàn xa cách quê hương.

Tôi lại càng không muốn nghĩ rằng đây là một tác phẩm cho dù tác giả đã viết nó như những trần tình cùng một linh hồn từng theo dấu chân cô trên suốt đoạn đường thống khổ của gần ba mươi năm trời trôi giạt. Bởi, nếu đọc TRÂN SA như một tác phẩm, một câu chuyện tình bi thảm mà TTBG từng muốn vùi sâu chôn chặt thì không đủ để tẩy sạch nỗi trầm oan cho đứa con gái đã chết do từ những dèm pha cay nghiệt của nhân thế. Phải đọc TRÂN SA như đang nghe chính tác giả kể lễ về một người thân; phải nghe kể lễ như để sẵn sàng chia xẻ nỗi đau của tác giả với một người bạn đã khuất, thì mới đủ để vinh danh cho một linh hồn vô tội, Trân Sa.

Trong các tác phẩm tự truyện tình yêu của TTBG, những nhân vật nam luôn được tác giả vẽ lại như điển hình của một mẫu người yêu toàn vẹn. Tại sao như thế? Bởi, TTBG là con người rất trân quý kỷ niệm. Nàng “hay viết nhật ký, hay gom góp những kỷ niệm nho nhỏ làm tài sản cho riêng mình (...) “Đó mới chính là nàng “nguyên thủy nhất, một mẫu người nhậy cảm tài hoa và phải khổ sở mãi vì cái sức tài hoa nhậy cảm của mình” (Trân Sa, tr. 188).

Tác giả cũng quan niệm mộït cách “không bình thường” rằng chỉ khi nào mất đi, người tình kia mới vĩnh viễn thuôäc về mình. Nàng “cứ âm ỉ mãi trong lòng hình ảnh xưa. Điều ấy không có nghĩa tầm, thường. Ở những người khác, kẻ đã chết trong cuộc sống thì chết hẳn rồi. Nhưng với nàng, kẻ đã chết trong cuộc sống vẫn sống mãi, đeo đẳng đến khổ sở...” (Trân Sa, tr. 188). Vẽ lại chân dung nhân vật người tình bằng trái tim một nghệ sĩ tức là TTBG đã lãng mạn hóa người yêu dĩ vãng như một sự đánh bóng. Bản chất nồng nhiệt cùng với tấm lòng chung thủy đã khiến tác giả có thể quên được tất cả những thống khổ để lại bởi từng người tình đi qua đời cô.

Hai mươi ba năm đằng đẵng, thời gian không ngắn cho cái mốc sáu mươi năm của một đời người, sự trễ tràng của định mệnh đã trải dài những phiền muộn trên đời sống một người đàn bà mà văn chương, âm nhạc là huyết mạch, tình yêu là lẽ sống. Những vết thương ngỡ đã lành không ngờ vẫn thường xuyên tấy mủ. Với người sống, TTBG đã từng hết lòng chung thủy; cùng người chết, nàng cũng lại tận nghĩa tận tình.

Đi tìm thời gian đã mất trong kỷ niệm Trân Sa tức là TTBG cũng muốn tạ tội với một linh hồn lẽ ra phải được quyền chào đời 23 năm trước. Viết TRÂN SA, tác giả muốn phơi bày những tích tụ của một hoài vọng tâm huyết, một ước mơ vời vợi của tuổi hoa niên đã từng được vùi chôn tận đáy lòng riêng.
*
* *
Trân Sa mang số mệnh của một hồn oan chết yểu, nhưng TTBG lại như đã chết đi trong một thứ định mệnh nghiệt ngả suốt 50 năm trời.
Giờ này, trong căn phòng những-người-trăm-năm-cũ, người đàn bà của Định Mệnh đang làm công việc tính sổ đời mình. Tám tháng Dalat của Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau tập I như những hoang phí của tuổi thanh xuân. Bảy năm chồng vợ của Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau tập II là những hao hụt của một phần không nhỏ kiếp người.

Nợ người, TTBG đã trả hết, nhưng nợ mình thì đến ngày nào nàng mới trả xong? Giấc mơ Hà Nội cùng những chuyến giang hồ cuối đời mãi mãi sẽ chỉ là những giấc mơ không trọn. Ngày xưa, nàng đã bước những bước đi trên suốt những chuyến đi nối tiếp; giờ này, muốn đi chuyến đi lần cuối trong đời tới khung trời yêu thương của những mòn mỏi đợi chờ mà sao lại quá diệu vợi? Ước mộng thật bình thường nhưng rồi tiếng đàn đòi đoạn của cuộc tình mật đắng Dalat sẽ chẳng còn reo vui trên những chuyến đò xuôi ngược sông Hồng, và ý định rời bỏ căn phòng của những-người-trăm-năm-cũ để ngồi viết chuyện người xưa trong một thảo lư ở ấp Thái Hà, Hà Nội, chỉ còn là ước nguyện xa xôi.

Có bao giờ người đàn bà trong Tiếng Gõ Của Định Mệnh nghĩ rằng, nợ người, nàng đã trả xong, nhưng nợ mình, nàng sẽ đem theo vào giấc ngủ cuối cùng không bao giờ thức dậy?
Phạm Thái Chung,
Santa Ana, Cali. 23/3/2000, thứ Tư.

Đọc bài viết, tôi thấy lòng bóp thắt, ngơ ngẩn, nhất là ở đoạn cuối. Đoạn này, nếu từ phía độc giả nhìn vào, sẽ không hiểu gì cả. Nhưng còn tôi thì rất hiểu. Đó là những lời trách nhẹ nhàng mà thật buồn man mác. Hay đó cũng là những lời tiên tri cho cái số phận không suông sẻ của tâm sự anh và ngay cả của đứa con tinh thần anh đang nuôi dưỡng hằng ngày để chờ khi hoàn tất, sẽ đem tặng tôi như một món kỷ vật tạ từ của Tình Yêu?
[]

 

 

 

 

Trần Thị Bông Giấy

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)


(Bài 12)

 

 

Phải nhận rằng tác phẩm Người Đàn Bà Trong Căn Phòng Những-Người-Trăm-Năm-Cũ của Chung thật đã có cái số phận “định mệnh” như chính cuộc đời nhân vật được đề cập. Nó biến chuyển, dày vò anh không ngớt, như lời anh tâm sự, chẳng những từ buổi chiều 12/4/1999 mang ước muốn “khai quật lên từ đáy vực thời gian cuộc đời trầm luân của một người đàn bà mà những chất chồng đến hệ lụy, những thống khổ đến tận cùng đã soi sáng được cái gọi là mệnh bạc, điều được kể là tài hoa”, mà còn ngay cả lúc bây giờ.
Anh kể, cứ mỗi lần trò chuyện với tôi về tác phẩm là mỗi lần anh lại thấy tâm hồn chao đảo theo một chiều hướng mới. Nói rõ hơn, nó giống như đứa con của hai chúng tôi cùng tạo dựng, nên chi mỗi một sự kiện nào đưa đến cho anh (hay cho tôi) cũng đều làm ảnh hưởng không nhỏ mức tiến triển nhanh hay chậm của đứa con.

Lấy ví dụ:
Có một bữa anh hỏi tôi:
“Xin trả lời cho tôi biết bằng chính trái tim cô. Cô có muốn tôi tiếp tục viết tác phẩm này không?”
Tôi bật kêu:
“Muốn chứ! Anh cứ viết đi, nếu không e không còn kịp...”
Biết mình lỡ lời, tôi thốt lặng người trong một lúc.
Mãi sau hỏi nhẹ:
“Anh sao rồi? Sức khỏe có khá không?”
Cái giọng lừng khừng vang lên bên kia đầu giây:
“Cũng bình thường thôi!”
Thế rồi, qua ngày hôm sau, cũng trong cuộc trò chuyện điện thoại, anh lập lại câu hỏi:
“Cô có muốn tôi tiếp tục viết tác phẩm này không?”
Thì tôi không trả lời.
Chính vì sự “không trả lời” mà anh cho là hờ hững này đã làm tổn thương anh. (Nơi anh có điểm dở là rất dễ dàng bị thương tổn vì tôi).
Hai ngày kế đó, không một chữ nào được ghi ra giấy.
Cho đến khi nhận được hộp thịt kho ram mặn tôi gửi, (như nhiều lần gửi) thì trong cuộc chuyện trò với tôi, anh thú nhận:
“Tôi không thể nào hiểu được cô. Ở cô có những điều thật mâu thuẫn, cô vừa là con người rất lãnh đạm hờ hững, cũng lại là một phụ nữ thấm đẫm ân cần chia xẻ, vừa là kẻ bạc tình cũng lẫn cả đầy dẫy chân tình. Người đàn ông nào đến với cô, tôi tin rằng cũng sẽ nhiều lần rơi vào sự ‘không hiểu’ như tôi.”
Và cười:
“Nếu cho trở lại ba mươi năm xưa mà nhận biết thái độ hờ hững của cô, hẳn là tôi không dám đi vào đời cô, khoan nói là còn có chút hứng thú với tác phẩm đang viết.”
Tôi thật ngạc nhiên. Anh giải thích:
“Thử hỏi một trò chơi như chữ cô đã dùng mà một người bỏ cuộc ngang nhiên thì người còn lại chơi với ai? Thôi thì cũng bỏ cho xong chứ làm gì nữa!”
Chừng ấy tôi mới hiểu, nên bật tiếng cười to. Rồi vỗ về dịu ngọt:
“Thì anh cứ viết đi! BGiấy thật lòng chờ đợi sự xuất hiện của nó từng giây từng phút mà!”
Anh bật cười:
“Cô chẳng những khôn mà còn khéo lắm! Tôi dẫu tự cho mình thông minh cỡ nào cũng không qua được cô. Cô chỉ muốn ‘phủ dụ’ tôi ngồi xuống làm việc mà thôi.”

Đó là những ví dụ điển hình cho sự thăng-trầm của tác phẩm. Tôi vừa cảm nhận từ anh một nỗi muốn có mặt nó, cũng lại vừa như linh cảm rằng cái số phận của tác phẩm sẽ chẳng khác nào số phận đời tôi, nghĩa là không dễ gì suông sẻ mà không phải trả một cái giá thật đắt.
*
* *
Điều ngờ vực của tôi bỗng dưng trở thành sự thật. Một bữa, dạo tháng 4/2000, trong chuyến đi Đức thăm đứa em trai bị ung thư phổi đến thời kỳ chót, từ Berlin tôi nhận cú điện thoại của Chung.
Đầu giây kia, giọng anh như tuồng rất đau khổ:
“Tôi rất buồn mà báo cho cô hay rằng tác phẩm Người Đàn Bà Trong Căn Phòng Những-Người-Trăm-Năm-Cũ đã biến thành mây khói!”
Tôi bật kêu:
“Tại sao?”
Anh im lặng một lát mới trả lời, giọng điềm tĩnh trở lại:
“Tôi làm mất đâu trong computer, nhờ tụi thằng Toàn tới lục tìm hoài mà chẳng thể kiếm ra. Tụi nó bảo tôi quên cất vào trong một cái file nào đó nên bây giờ biến mất hết, không còn chữ nào trong máy. Trắng xóa cả!”
Qua điện thoại, tôi nghe tiếng rít liên hồi của những hơi thuốc lá như một hình thức tự trấn an của anh. Đầu giây này, tôi cũng thật ngẩn ngơ vì cái tin mới nhận. Nhưng rồi, an ủi anh bằng cái cười nhẹ:
“BGiấy hiểu được nỗi đau xót của anh, nhưng âu đó cũng là số phận của BGiấy nên khiến xui như thế.”
Tiếng thở dài anh nghe càng não nuột:
“Tôi không buồn cho tôi, mà chỉ là buồn cho cô. Lời hứa sắt đá với cô, tôi không làm được. Mai này nằm xuống, tôi biết rằng cũng sẽ không thanh thản.”
Tôi kêu lên:
“Anh đừng nghĩ vậy. Mình sẽ thu thập trí nhớ để làm lại một tác phẩm khác. Đã từng đôi lần BGiấy bị như thế với tác phẩm mình.”
Anh chối nhận:
“Không bao giờ tôi còn làm được điều đó nữa. Sức khoẻ đã xuống lắm rồi. Thời giờ chỉ còn là đếm trên đầu ngón tay, làm sao thực hiện nổi ước vọng?”
Giọng anh nhỏ hẳn:
“Ngày nào tôi có nói với cô: ‘Chỉ trừ ra hai điều, còn thì không bất cứ thứ gì có thể khiến tôi quay lưng với cô cho được. Điều thứ nhất là cái chết và điều thứ hai là cái ý nghĩ không còn xứng đáng với cô.”
Tôi hốt hoảng:
“Anh đừng nghĩ quẫn. BGiấy không hề xem việc tác phẩm bị mất là quan trọng cho bằng sự bỏ đi của anh.”
Im lặng một lúc thật lâu, anh nói giọng thật buồn nhưng vô cùng trầm tĩnh:
“Cô tha thứ cho tôi. Ngày mai tôi sẽ đáp máy bay về Hà Nội hẳn, không lần nào còn trở qua Mỹ. Cô ở lại, ráng giữ gìn sức khoẻ của cô lẫn cả Âu Cơ.”
Và anh cúp điện thoại.

Buổi chiều ở Berlin, ngồi bên cửa sổ lầu năm của một căn chung cư rộng, tôi nhìn ra bầu trời đầy sương của vùng đất Berlin, lơ đãng ngắm những áng mây mù trôi biền biệt về chân trời vô định. Tôi nghĩ thật nhiều đến Chung, đến tôi, đến tác phẩm viết dở dang rồi mất hút. Cũng nghĩ đến đứa em trai đang nằm chờ chết từng hôài ở phòng bên cạnh, lòng rối bời quấn quýt những sợi giây tình cảm. Trong cuộc đời, rất ít khi tôi chịu để yên cho mình đắm chìm vào những con ưu uất mà không tìm cách thoát ra bằng bất cứ hành động nào cụ thể. Nhưng chiều nay thì không thế. Đột nhiên thấy cả con người đâm thành rời rã. Trong thoáng chốc cảm nhận tất cả chung quanh đều như đang quay cuồng trong cái vòng vĩ đại của Con Số Không! Cái vòng Vô Thường mà ngay từ khi mới 18 tuổi, trước cái chết anh Chàng, tôi từng thấm cảm; lúc này bày ra trước mặt, rõ ràng từng đường nét hơn bất cứ lúc nào trong định mệnh. Sự sống của một tác phẩm hay sự sống của một con người chỉ đều là mong manh trong cái vòng quay vô hình ấy mà thôi.

Tuy nhiên phải nói, dù rằng đã quá quen với những cú tấn công bạo tàn của Định Mệnh thì tôi cũng không bao giờ ngờ sự tấn công hôm nay không nhắm vào MỘT CON NGƯỜI mà lại đổ trên MỘT TÁC PHẨM. Có điều gì khắc nghiệt hơn nữa trong cái trò nghịch đùa của Định Mệnh? Tôi không thể nghĩ ra được. Chỉ thấy lòng quặn lại mà thương cho Chung với một ước mơ không thể nào còn cơ hội thực hiện; chỉ nghe ngậm ngùi cho đứa con tinh thần của anh đã không bao giờ có cơ duyên nhìn thấy ánh mặt trời để giải giùm cho tôi những nỗi oan khiên.

Những ước mơ chưa thực hiện đã trở thành kỷ niệm
Như tiếng thở dài sớm tắt lịm của Thời Gian...

như “lời tiên tri” ngày nào tôi đã nói với Chung.
Một giọt lệ bỗng thấy đoanh tròng đôi mắt trong buổi chiều sắp tàn.
*
* *
Lá thư e-mail cuối cùng Chung gửi, không biết là từ đâu? Hà Nội? Sàigòn? Santa Ana? Sydney? Hay một vùng trời nào xa lạ?


Subj:
Date: 9/21/00 1:32:39 AM
From: thaichungpham@yahoo.com (Thai Chung)
To: tttbg@aol.com


Em,
Tôi đã nhận hộp diêm quẹt em gửi hôm qua, 19/9/2000. Rất cảm ơn em về chút tình em còn nghĩ về tôi. Chuyện cái cell phone em đừng bận tâm gì cả. Hợp đồng tôi đã ký tới hết tháng 8 sang năm và cái phone đã hoàn toàn thuộc về mình. Có nó theo em, tôi phần nào yên tâm hơn về những bất trắc trên những lộ trình đi về hằng ngày của em.
Chuyện chúng mình, thôi thì cứ coi như đã là chuyện của dĩ vãng. Tôi sẽ không trách cứ gì em; bởi vì chính tôi cũng có lỗi (cơn bệnh trầm kha, đời sống eo hẹp cùng cách bảo vệ tình yêu cực đoan đã khiến tôi không còn có thể giữ em lại được. Chỉ cần hiểu rằng, người đàn bà tôi đã đi tìm trong gần cả cuộc đời đã thực sự cho tôi chút mật ngọt tình yêu suốt 100 ngày liên hệ cũng đủ cho tôi giữ lại nụ cười khi phải giã từ tất cả.
Về đời sống hiện tại của em, tôi chỉ xin được mạo muội có đôi ý kiến:

1/ Giờ giấc đi về của em không thuận tiện để chăm sóc bé Âu Cơ. Sáng ra không lo sửa soạn bữa ăn sáng được cho nó trước khi đến trường. Đêm về không còn thì giờ dạy bảo và bảo vệ nó trong khi nó đã lớn khiến thành một mối lo lắng cho em.

2/ Đời sống thực tế sẽ làm hỏng cái đầu em, giòng văn chương vì thế mà ảnh hưởng không ít, làm mất đi cái trong sáng hiếm có mà em đã nuôi dưỡng từ lâu.
Tôi cũng hiểu được rằng, bây giờ thì tôi không còn tư cách để lạm bàn về đời sống riêng của em, song bằng vào tình nghĩa của một trăm ngày “tuy không nhân tình chưa sống chung, mà thương vẫn thương hơn vợ chồng”, tôi mong em thông cảm được với lời chia xẻ vô duyên của tôi.
Sau hết, xin em hiểu cho một điều rằng, tôi yêu em, tôi còn yêu em lắm.
Phạm Thái Chung.

[]

(San Jose, Cali, Sep. 23/2005, thứ sáu.)
[]
  

 



Trang chính     >>>