Trần Thị Bông Giấy

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”

(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

Bài 4)

 

Hằng buổi chiều, Chung vẫn chờ nghe điện thoại và hằng ngày vẫn chờ đọc những trang thư tôi gửi, những trang thư mà có lần tôi bảo: “Sẽ để dành làm tài liệu cho một tác phẩm mai sau.”
Cái ý niệm này thoạt đầu chỉ là phớt qua như một lối nói đùa, không ngờ càng lúc càng lớn dần trong óc tôi (và cả trong các câu chuyện của anh).

[Luôn luôn trong tôi, Tình-Yêu biểu tượng như một dòng sông cuồn cuộn sóng mà các người tình đi qua đời được ví như những con tầu. Tầu đến rồi đi, nhưng giòng sông thì vẫn thủy chung hiện hữu. Một cách mơ hồ, từ trong tiềm thức, tôi vẫn mong chờ một-con-tầu-muộn-trễ cập bến trên sóng-nước-tôi-tan-tác. Và điều chờ mong này khởi đầu từ những ngày tháng 5/1975, bỏ anh Ngọc và bỏ cả Dalat ra đi. Suốt gần ba chục năm, có rất nhiều lần bắt găp những-con-tầu từng muốn dong thuyền neo bến, nhưng phải nhận thực rằng, ngoài ra một mình Nguyễn ở thời gian tháng 11/1975, chưa từng có con tàu nào đem được cho tôi nỗi rung động sâu xa của thời gian tháng 8/1974 ở Nha Trang, con-tàu-anh-Ngọc đã neo thuyền trên sóng-nước-cuộc-đời-tôi.   
Tuy nhiên, không phải vì những lời vừa viết mà đã không từng xảy ra cái điều rất nhiều lần ngồi soi kính nội tâm, tôi thấy mình đã “vay” nhiều quá mà chưa có dịp “trả” những ân tình đã nhận. Kể từ cái chết tử trận của anh Chàng, từ sự tan vỡ ước mộng với Vũ trở đi, tôi (hay Định Mệnh?) cứ tiếp tục chất chồng lên cuộc đời mình những cái nghiệp Tình Ái. Một cái nghiệp “may” (!) nếu nói theo cô bạn Người Cali:
“trong đời, BG đã được yêu nhiều quá”;
nhưng nếu nói theo tôi trong bản văn viết về anh Thùy:
“Cái ‘tội’ lớn nhất của tôi chính là đã vô tình xuất hiện trên đường đời bước đi của những người đàn ông yêu tôi mà không nhận được từ tôi một tình yêu đáp trả”;
thì rõ ràng
“Chuyện tình yêu đối với ai là hoa là mộng, còn với tôi chỉ là sự ghép liền những mảng tâm hồn tan nát, trở nên một ấn tượng đậm nét, đến nỗi tôi đâm sợ mỗi lần nghe ai đó ngỏ với tôi lời nói yêu đương!”
như đã viết trong câu chuyện kể về anh Chàng.
Thật vậy. Nhìn lại cuộc đời mình trên lãnh vực Tình-Yêu thấy chỉ toàn là dở dang, đứt đoạn. Những mối tình đến rồi đi trong đời tôi thường rất đẹp nhưng đều nhuốm màu tan tác, “biệt ly ngay trong lúc xum vầy, tan vỡ ngay giữa niềm hạnh phúc.” Những mối tình “Chưa có nhau trong đời mà đã nghĩ đến chuyện mất nhau!”
Lại còn biết bao người đàn ông từng trao tặng cho tôi trái tim trong âm thầm đau khổ... Điều này, bây giờ ở chặng cuối cuộc đời, tôi đã nhiều lần tự hỏi, do đâu mà có? Từ tôi hay từ Định Mệnh?
Tôi không thể trả lời được. Chỉ biết rằng luôn luôn tôi vẫn cảm nghe như “có tội” đối với TẤT CẢ những ngưòi đàn ông từng xuất hiện trên con đường Tình Ái của tôi, dù ngắn dù dài, dù đau thương hay hạnh phúc. Đó cũng có thể gọi là một ân sủng đã nhận từ Thượng Đế, một cái “cách yêu”, “cách nhận Tình Yêu” rất chân thành trong tôi mà làm ra, y hệt lời nhận xét của một người bạn:
“Sự bất hạnh và cũng là may mắn của chị nằm ở điểm, trong đời, chị từng trải qua nhiều tình yêu nhưng chẳng học được chút kinh nghiệm nào từ các tình yêu ấy. Mối tình của ngày hôm trước dẫu đau đớn đến đâu tan vỡ, chị vẫn có thể lao trọn cuộc đời vào một mối tình mới của ngày hôm sau. Đó là kiểu yêu của TTBG. Yêu như thể chưa từng yêu ai trước đó. Yêu như thể ngày mai sẽ phải chết đi để không còn có thể yêu ai!”

Nhớ lại một đoạn nhật ký cũ của năm 1976:
"Hôm nay đi ăn cưới đứa bạn gái nổi tiếng lãng mạn một thời. Ta kinh ngạc nhìn nụ cười tươi rói biểu lộ một hạnh phúc viên mãn trên khuôn mặt nó khi cặp tay anh chồng giáo viên già nua xấu xí mà nghĩ đến những mối tình sôi nổi của nó ngày còn đi học. Ta lại nhớ Nguyễn với lời kể về các bà chị chàng, khi lấy chồng, yêu chồng và quên hẳn người yêu xưa một cách lạt lẽo dửng dưng. Cũng nhớ lần ấy ta đã cười khì, bảo Nguyễn, chẳng bao giờ ta muốn lấy chồng để chẳng bao giờ quên các người yêu cũ... Vậy mà hôm nay, ngồi trong tiệc cưới con nhỏ bạn, sao cứ miên man tự hỏi, người đàn ông nào sau rốt có khả năng làm ta quên được các người tình cũ? Ta nghĩ là không dễ có. Nhưng nếu có, hẳn người ấy sẽ vượt bực và là tổng hợp cá tính của tất cả các người đàn ông đã từng đi qua định mêänh ta"...

Thì cái hành động “chẳng bao giờ muốn lấy chồng” của thời tuổi trẻ, với sự kiện “mười năm đóng cửa trái tim” của bây giờ chỉ là nằm trong cái khuôn viên tình cảm “đền tạ” ân tình.
Tuy nhiên điều đó thấy vẫn còn chưa xứng đáng.

Nên từ lâu, tôi vẫn có ý định dành riêng một quyển sách để  “viết cho những-người-tình-đã-chia-xa”, đặc biệt là những “người tình tan tác”; những con người từng trao tặng cho tôi (nhưng không được nhận lại) một tình yêu đằm thắm; những con người từng phải vì tôi mà tan nát trái tim. Đó là những món nợ ân tình tôi cần chu toàn khi còn kịp. Những món nợ, tôi chỉ sợ rằng “không đủ thời gian cho tôi hoàn tất ước mơ”!
Giờ đây theo những ân tình đã nhận của Chung, trước căn bệnh hiểm nghèo của anh (bác sĩ độ rằng nếu không chịu chữa chạy, anh sẽ không thể sống quá hơn sáu tháng), tôi đã muốn làm cái điều “đền tạ ân tình” trước khi anh nằm xuống bằng một quyển sách. Có một nỗi gì rất sâu trong tiềm thức cứ thôi thúc tôi hoài trong ý muốn phải làm điều đó “trước khi quá muộn”. Chữ “quá muộn” từng đã nhiều phen tạo nên trong tôi một nỗi mênh mang nuối tiếc.

Cũng cái từ ngữ nói trên mà khiến tôi “cứ sống mãi với những hình bóng” như lời một bạn văn đã nói khi nhận bài viết Khóc Người Thiên Thu (về anh Thùy) tôi gửi qua theo lời yêu cầu để đăng trong một đặc san: “Tôi thấy thật buồn nhưng cũng mừng cho BGiấy khi cuộc sống BGiấy cứ gắn bó hoài với những hình bóng. Dường như sự nâng niu cô đơn và nâng niu nỗi tuyệt vọng cũng là một nét đẹp và có thể còn là nét đẹp đặc biệt trong đời người.”]

Tôi nói với Chung cái ý định ấy, thú nhận rằng:
“Tác phẩm không phải chỉ viết về anh, cho anh thôi, mà còn cho tất cả những con người đã từng đi qua đời BGiấy, dù dài lâu hay thoáng chốc.”
Thoạt đầu khi nghe tôi tỏ bày ý định, Chung tỏ ra như bị “tổn thương” trong sự kiện “gom anh vào chung trong số những người đàn ông từng yêu tôi.” Tôi giải thích:
“Tác phẩm mang chủ đề đối đầu Định Mệnh, biểu tượng bằng một con-người-hiện-diêän-vắng-mặt-nào-đó luôn luôn hiện hữu trong đời BGiấy, mà các người tình chỉ là những minh chứng cho sự hiện hữu và đối đầu ấy. Đó là Sự Chiến Đấu Sinh Tử Giữa Định Mệnh và Con Người. ”

Tôi cũng nói với Chung:
“Tên tác phẩm sẽ được đặt là Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga, xuất phát từ chữ Chant du Cygne trong âm nhạc. Theo truyền thuyết những con thiên nga đã múa điệu múa tuyệt diệu cuối cùng trong tiếng kêu thống thiết trước khi gục chết, Chant du Cygne là chữ dùng để chỉ cho tác phẩm cuối cùng, hoặc tác phẩm đẹp nhất trong đời một nghệ sĩ, nhà văn.”
Khi chuyện trò với Chung về cái dự tính này qua điện thoại, một tối cuối tháng 5/1999, tôi chưa nghĩ sẽ viết ra những gì trong tác phẩm. Nhưng kể từ khi tôi đem những lá thư viết cho anh, photocopy lại và đóng thành hai tập, gửi anh một bản và tôi một bản, ngoài đề  cái tựa “Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga” thì anh tỏ ra rất phấn khích vui mừng.
Đây là một “trò chơi” như chữ một lần Chung dùng, nhưng lại là thứ trò chơi đầy lôi cuốn với hai người trong cuộc. Một “trò chơi” mà chỉ những kẻ nghèo nàn niềm vui và họa hiếm nụ cười như tôi (và cả anh) mới biết trân trọng nâng niu.
[]   

 

 

 

 

Trần Thị Bông Giấy

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
“NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)


(Bài 5)

 

 

Buổi chiều trôi nhanh. Qua điện thoại, tôi đọc cho Chung nghe bài thơ Như Tiếng Thở Dài vừa mới làm xong:

“Đêm từng đêm
Ngồi đếm thời gian
Nhìn những ngón tay ám nhựa khét hơm mùi thuốc lá
Chiếc phản lực cơ trên trời
Cao vút
Đem theo mơ ước, đem cả nỗi buồn
Một nỗi buồn không có tên để gọi
Trơ trọi, chơ vơ
Như tiếng động cơ thét gào một mình trong đêm tối

Đêm từng đêm
Đợi nghe tiếng ầm ì từ xa vọng tới
Hệt những điên cuồng từ tiềm thức cứ ngạo nghễ trồi lên
Giữa cái đầu
Không một phút giây yên nghỉ
Cho những sợi thần kinh trí nhớ
Đêm từng đêm
Ngồi chờ chiếc phản lực bay qua
Gữa thinh không mù mịt
Đem theo nỗi buồn và cả ưóc mơ không có tên để gọi
Chơ vơ, trơ trọi
Ước mơ chưa thực hiện đã trở thành kỷ niệm
Như tiếng thở dài sớm tắt lịm của Thời Gian!”

Đầu giây kia, Chung cơ hồ ngạc nhiên:

“Bài thơ của cô?”
Tôi cười. Giọng anh điềm đạm:
“Lúc nào cũng thấy cô như bị ám ảnh bởi Thời Gian.”
“Đúng thế anh ạ!” Tôi bật kêu.

[Thật vậy. Thời Gian là điều đầu tiên ám ảnh con người tôi. Chủ đề Thời Gian từng được tôi giải bày trên nhiều tác phẩm. Đọc tôi, hẳn không độc giả nào lại không thể hình dung ra điều ấy hằn lên trên nhiều trang sách. Nhưng Thời Gian với tôi, bao gồm những ý nghĩa nào?
Đó không chỉ được nhìn bằng những tháng năm chồng chất, mà còn như một “sát-na giễu cợt” của Thượng Đế trong trò chơi ú tim với một kiếp sống con người. Là vị Quan Tòa đầy minh chính trong việc thẩm định Có hay Không giá trị của mọi người, mọi sự. Là Người Bạn tốt cho những trái tim tan vỡ. Là niềm Hy Vọng cho những kẻ cùng đường tuyệt vọng. Là sự Tàn Phá và cũng là Xây Dựng Lại cho tất cả. Là Kẻ Thù đáng ngại nhất của Con Người.
Tóm lại, khi nghĩ về hai chữ Thời Gian là tôi đã thấy rõ trong đó cái tính chất Vô Thường của một kiếp nhân sinh.
Với riêng tôi, Thời Gian là Người Bạn và cũng là đối thủ “xứng tay chơi” nhất. Suốt cuộc đời, tôi cứ mãi làm hành động chạy đuổi với Thời Gian. Tôi sống vội vàng mọi ước mơ, hoài bão. Luôn luôn, tôi đốt cuộc đời mình bằng ngọn nến hai đầu, vậy mà chưa bao giờ thấy mình sống đủ. Cái cảm nghĩ “không sống đủ” này chính đã nẩy sinh từ ý tưởng bao giờ cũng lo sợ rằng người-bạn-đối-thủ-Thời-Gian kia sẽ sẵn sàng cướp mất của tôi mọi cái gì liên hệ đến tôi.  
Bây giờ, trong đồng lúc với ý muốn viết nên tác phẩm “Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga”, hình ảnh đáng sợ của Thời Gian cũng hiện rõ ra giữa trí não. Tôi nghĩ đến những tháng ngày đã gần hết của Chung, của mẹ già, của những người thân, các người bạn, và ngay cả chính tôi... mà đâm ra rúng động. Vì vậy, cái hành động chạy đuổi Thời Gian lại càng thêm gấp rút hơn bất cứ lần nào trong đời.]

Buổi chiều qua điện thoại, tôi nghe Chung hỏi:
“Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga có chút nào tiến triển?”
Tôi thú nhận:
“Chưa anh ạ. Năm xưa khi bắt đầu ngồi vào bàn với tác phẩm Nhật Nguyệt I viết về anh Ngọc và mối tình tan tác của thuở hai mươi, ngòi bút BGiấy phóng ra như nước đổ với một đống kỷ niệm đến chừng ngập lụt. Năm nay, nghĩ đến điều viết tác phẩm này, BGiấy chưa biết mình sẽ làm sao? Có một ý nghĩ ngộ nghĩnh vừa băng qua óc: BGiấy tự ví mình như một thí sinh mà anh là giám khảo. Vị giám khảo chẳng đưa ra cho thí sinh chút vật liệu nào trong việc xây dựng, lại cứ muốn nhìn kết quả đó phải là một ngôi nhà đẹp.”
Chung cười:
“Thì cứ viết những gì nghĩ ra trong đầu, những cảm xúc hiện hữu trong tim!”
Tôi cũng cười:
“Nói thế chứ chính BGiấy cũng muốn tự mình thử sức. Quá nhiều vật liệu thì dĩ nhiên ngôi nhà xây ra phải đẹp; còn như không có vật liệu nào mà vẫn tạo nên cái đẹp thì đó mới chính là cái đẹp của giá trị thời gian.”

[Ý nghĩ này tuy bày tỏ với Chung nhưng sâu thẳm lòng riêng, tôi lại cứ như muốn nói cùng “người tình Định Mệnh” vắng-mặt-hiện-diện. Tôi tự ví mình như một đứa con nít với những con búp bê đẹp mà nó vô vàn quý giá. Những con-búp-bê cứ mãi bị giật phăng đi bởi bàn tay tàn nhẫn của Định Mệnh. Đứa con nít dẫu tính tình bướng bỉnh thì cuối cùng vẫn phải thúc thủ chịu đựng trước sự tấn công tàn ác của một kẻ đối đầu gấp ngàn lần mạnh mẽ. Cho đến một phen, khi cảm nhận con-búp-bê-quý-giá-cuối-cùng lại sắp bị Định Mệnh giật phăng thì trong bản năng của nó, sự phản kháng dữ dội trước kẻ thù mới ló mặt ra.
Chủ đề đối kháng với Định Mệnh trong tác phẩm này phải là đặt để cho tôi chứ không phải cho Chung hoặc bất cứ người đàn ông nào đã từng đi qua đời tôi. Biểu tượng con-búp-bê-quý-giá chính là tác phẩm tôi đang viết. Tôi phải tranh giành với Định Mệnh trên từng giây phút cho sự chào đời của nó trong khi tôi còn có thể thực hành trong mục đích vinh danh “những người cha” của nó đã từng, và sẽ còn bị cướp đi sự sống dưới bàn tay bạo tàn của Định Mệnh. Sự sống hiện tại của tác phẩm chính là sự sống muôn đời của “những người cha” đã và sẽ phải nằm yên trong đáy huyệt kia.
Tuy nhiên, tháng ngày hạn hẹp, vật liệu ít ỏi, làm sao tôi có thể thực hiện cho tròn cái ước mơ chống đối?
Tôi liên tưởng đến hình ảnh vị ngư ông trên đại dương rộng lớn trong tác phẩm của Hemingway. Con tàu mỏng manh không đủ bao bọc cho ông sự an toàn trước những cơn cuồng nộ của biển cả trong việc “tranh giành” một con cá nhỏ. Và tôi tự hỏi, liệu mình có đạt chút may mắn nào trong sự chiến đấu cùng Định Mệnh --như vị ngư ông kia đã được? Liệu cái giá chiến thắng cuối cùng, tôi có giành kịp trong tay, cho dù chỉ là “một bộ xương trơ của cá” như trong câu chuyện Hemingway?]

Buổi chiều, tôi lập lại hai câu thơ của mình:
“Ước mơ chưa thực hiện đã trở thành kỷ niệm
Như tiếng thở dài sớm tắt lịm của Thời Gian!”

Đầu giây kia, giọng Chung trầm hẳn:
“Hai câu thơ của cô khiến tôi buồn quá!”
Tôi hỏi:
“Bệnh tình anh sao rồi? Qua giọng anh, như tuồng rất mệt?”
Anh lừng khừng đáp trong tiếng rít dài hơi thuốc lá:
“Ban chiều vừa mới đi làm radiation.”
Tôi chợt nghe lòng rúng động.

[Hình ảnh “người tình Định Mệnh” hiện ra trong trí tưởng. Một cảm giác nôn nao rất khác lạ chụp vây tâm hồn ngay giây phút đó. Vị địch-thủ-Thời-Gian như đang đứng sững trước mặt trong sự giành giật mạng sống anh trên từng giây phút... Bây giờtháng ngày của Chung và của cả tôi đều đã “cạn” mà cái tính “bão táp” của Định Mệnh đổ xuống cho cả hai người cũng chưa buông giải. Sự gặp nhau chỉ là một lần đùa cợt cuối của Định Mệnh. Và dù có muốn cùng bắt tay nhau chống trả Định Mệnh thì cả hai đều đã không còn gì mà tặng cho nhau ngoài hai câu thơ ngậm ngùi tôi đọc ở trên!]

Tôi im lặng. Đầu giây kia, anh hỏi:
“Cô đâu rồi?”
Tiếng cười tôi vỡ vụn, y hệt sự òa vỡ của những nghẹn ngào từ lâu chôn chặt trong trái tim câm nín:
“Anh hãy tưởng tượng hình ảnh một con người đứng giữa trời giông bão, không tìm ra nơi trú ẩn và chỉ biết làm cái hành động đưa hai bàn tay nhỏ bé mà che mặt, che được chừng nào hay chừng ấy những giọt mưa tới tấp đổ xuống trên mình. Đó chính là hình ảnh BGiấy trong câu chuyện đang dự định viết.”
Đầu giây kia, tôi lại cũng nghe ra một tiếng thở dài rất nhẹ.
Tôi ngậm ngùi:
“Tuy nhiên, luôn luôn BGiấy vẫn tin tưởng vào sự che chở của Thượng Đế, cho dẫu rằng cạnh bên một đấng Thượng Đế khoan hòa, lại cứ mãi bị ám ảnh bởi một thứ Ác Thần Định Mệnh. Vì vậy trong đời, bao giờ BGiấy cũng gặp được Tình Yêu, một ân sủng đã nhận từ Thượng Đế, dù cũng nhiều lúc không cho là ân sủng mà chỉ là “sự đày đọa” của Thượng Đế trên con người mình.”
Tôi cười, tiếp:
“Tình yêu làm giải hóa cho muôn ngàn thống khổ của cuộc sống, thì bây giờ nhìn lại mọi chuyện từng xảy ra cho mình trên bước đường Tình Ái, BGiấy tin rằng rồi mình cũng sẽ được ‘tha’ như qua câu ‘Tội lỗi con được tha vì con đã yêu nhiều quá!’ mà Chúa Jesus đã nói cùng người đàn bà tên Madeleine.”
Giọng tôi trầm xuống:
“Trong tình cảm này, lòng tri ân nghĩ về nhau là điều nổi bật. Cả anh lẫn BGiấy đều từng đã ngụp lặn quá nhiều trong thống khổ nên hẳn sẽ hiểu rất rõ cái giá trị nào mỗi người đang đem đến cho nhau trong hiện tại. BGiấy thật lòng tri ân những gì đã nhận.”
Và nghe anh nói:
“Đọc sách cô, ai cũng nghĩ rằng cô rất mạnh, nhưng thật thì cô chỉ là một đứa bé vô cùng yếu đuối.”
“BGiấy biết như vậy chứ”, tôi kêu lên “dẫu đã từng có lần nói với một người bạn trai là BGiấy ‘mạnh còn hơn cả một người đàn ông!’ Khốn nỗi, đứa con nít trong BGiấy từng quá nhiều lần gặp ‘ma’ nên giờ đây bất cứ cái gì có hình dạng giống như bóng tối cũng đều làm cho nó sợ hãi.”
“Tôi có đã làm cho cô sợ?” Anh đột ngột hỏi.
“Nếu có, BGiấy đã chạy trốn khỏi anh từ lâu.” Tôi đáp nghiêm trang. “Chỉ xin anh đừng làm thế trong khi toàn thể cuộc đời đã đem đến cho BGiấy nỗi sợ hãi rồi.”
Anh nói dịu dàng, pha chút diễu cợt:
“Chẳng bất cứ độc giả đàn ông nào lại không mềm lòng nếu được nghe những lời lúc này của TTBG!”
Tôi cười khúc khích. Chung tiếp:
“Và tôi nghĩ, người đàn ông nào được làm người yêu cô hẳn sẽ rất may mắn nhưng cũng là rất khổ.”
“Sao vậy?” Tôi ngạc nhiên.
Hỏi đến lần thứ hai, anh cũng không trả lời.
[]

 

 

 

 

Trần Thị Bông Giấy

NGƯỜI ĐÀN BÀ TRONG CĂN PHÒNG
NHỮNG-NGƯỜI-TRĂM-NĂM-CŨ”
(Trích ĐIỆU MÚA CUỐI CÙNG CỦA CON THIÊN NGA)

 

(Bài 6)

 

Ngày 31/5/1999, Chung từ Santa Ana tìm đến San Jose gặp tôi. Lần thứ nhất, phải viết thật một điều rằng, tôi “thất vọng” đâu đâu, trong khi lại nhìn thấy rất rõ cái cười rạng rỡ pha phần “kinh ngạc” của anh lúc đối diện tôi.

 

[Trong cuộc sống này, có những sự quen biết qua thư từ, điện thoại mà làm nên mối duyên bền chặt. Nhưng cũng có những con ngưòi dễ dàng “thức giậy” từ sau những ảo tưỏng một khi đối diện mà không tìm ra đúng con người mình đã vẽ hình qua các giòng chữ, lá thư. Tôi thuộc loại thứ hai. (Nghĩ rằng, giá gì đừng gặp anh có lẽ lại hơn!)

 

Ngay đêm gặp nhau lần đầu ở San Jose, tôi đã nhận biết Chung không phải là mẫu đàn ông đáp ứng được cho tôi cái hình ảnh mà tôi đã đi tìm trong suốt kiếp”. Người đàn ông dáng cao gầy, khuôn nét lặng lẽ, vuốt tóc tôi lúc tôi cười và lau mắt cho tôi mỗi lần tôi khóc. Con người sẽ không bao giờ bỏ rơi tôi trên những đọa đày thống khổ của vận số, và sẵn sàng tha thứ cho tôi tất cả những lỗi lầm nào tôi đã làm ra”.  Chung cũng là người đàn ông với vóc dáng cao gầy đó, nhưng ở anh, có cái gì thật trầm đến như khắc kỷ tôi chỉ biết cảm nhận mà  không sao phân tích được.]

 

 

Anh tỏ ra rất vui trước mặt tôi, trên môi luôn nở nụ cười và trong buổi ăn khuya, đã nói thẳng ý nghĩ: “Có thể nào cô lại là con người nổi tiếng tàn nhẫn trong tình cảm lẫn trên cây viết?”

 

“Nghĩa là sao?”, tôi hỏi. “Nghĩa là nếu không gặp để thấy được rõ ràng vóc dáng nghệ sĩ phiêu bồng nơi cô, chỉ đọc cô, hẳn nhiều độc giả sẽ không rời được cái ấn tượng cô là một phụ nữ cao lớn, nanh vuốt đầy mình!”

 

Tôi cười: “Sống trong sự hiểu lầm của kẻ khác không phải là điều thích thú, nhưng mà anh có tin, BGiấy lại trái ngược với cái giòng nghĩ suy thường tình đó.”

 

“Nghĩa là nếu bị hiểu lầm thì cô thích thú?” Giọng tôi dứt khoát:

 

“Đúng. Nhờ vậy, con đường mình đi sẽ thênh thang hơn. Anh biết từ nhỏ, BGiấy chưa từng bao giờ muốn làm đứa con nít ngoan, không phải vì mình thuộc loại hoang đàng hư hỏng, mà chỉ vì không muốn bị trói trong cái vòng cứ phải làm vừa lòng kẻ khác, ngay kẻ đó là bố mẹ mình chăng nữa.” Trong mắt Chung có điều rất thích thú:

 

“Quả là bản lĩnh!” “Không đâu!” Tôi lắc đầu. “Đó chỉ là một cá tính tự nhiên. BGiấy rất sợ những lời khen. Từ nhỏ đã thế. Lớn lên phiêu bạt nhiều nơi, rồi lại lăn chân vào chốn thị phi chữ nghĩa, lại càng thấy sợ những lời khen hơn nữa. Mất cả tự do khi cứ phải bị trói mình vào cái vòng đạo đức do kẻ khác bày ra chứ không là cái đạo đức đặt để từ chính lương tâm mình.”

 

Phải nhận, chuyện trò với Chung thật thích thú. Anh là người biết lắng nghe, biết phân tích và đáp ứng theo từng câu chuyện tôi nói. Nhưng còn tôi thì đó chỉ là cách chuyện trò của hai ngườøi bạn hiểu nhau, quý trọng nhau, mà không là sự chia xẻ giữa hai người tình như anh chờ đợi bấy lâu.

 

[Bấy lâu, trong sự giao thiệp với Chung, tôi thú nhận rằng đã từng vẽ hình cho trái tim mình “một hình ảnh”. Nhưng cũng chính ngay lần đầu gặp gỡ ở San Jose, cái hình ảnh được vẽ ra kia mờ nhạt hẳn đi khi tôi tự nhận biết tức khắc trong chính mình đã không nghe rung lên điệu nhạc êm đềm của một thứ tình cảm mà tôi từng bắt gặp ngay buổi đầu gặp anh Ngọc, hay gặp Nguyễn của gần 30 năm xưa.

 

(Giờ đây nhìn lại suốt 49 ngày chuyện trò qua điện thoại và viết cho Chung những lá thư, mới biết rằng mình đã làm một điều lầm lẫn khi vô tình gieo vào tim anh những mối hy vọng).]

 

Mối hy vọng đó, tôi từng đượïc nghe qua điện thoại, bấy giờ ở San Jose rõ ràng hơn trên sự phân bày trong đối diện:

 

“Một ngày nào nơi mái nhà cỏ ở ấp Thái Hà, Hà Nội, nghe tiếng gõ cửa, mở ra thấy một bà lão đang chống gậy đứng trước mặt, tôi cũng sẽ rất vui mừng mà đón tiếp cô. Tôi mong cô nên luôn ghi nhớ lời nói tôi lúc này.” Đó là một lối tỏ tình, một lời ước hẹn, làm sao tôi lại không biết. Tôi cảm kích tấm lòng anh, nhưng chỉ im lặng, không chối mà cũng không nhận. 

 

 

[Hẳn nhiên tôi không muốn nói ra với Chung những cảm nghĩ thật của mình, không đành lòng làm thế. Tôi không phải là loại đàn bà tàn nhẫn nên không bao giờ muốn làm đau lòng kẻ đã trao cho mình một tình cảm. Ở đây không thể gọi là giả dối, bởi tôi không hề mang tâm trạng lợi dụng cái tình cảm mà mình biết rằng không thể nào đáp ứng trọn vẹn. Mà ở đây, tôi chỉ muốn viết lên thật rõ về chính con người trái tim của mình:

 

“Nếu không hồi trả được một tình yêu cho người đàn ông thì tôi cũng không bao giờ tàn nhẫn mà từ khước họ.” Một ý nghĩ đọc thấy trong tác phẩm Climats của Maurois đã diễn giải giùm tôi cái điều vừa nói: “Đàn bà thường có thói quen giữ lại và chất chồng lên cuộc đời mình những tình cảm chứ không phải là rứt bỏ hủy diệt chúng.” Thì trường hợp Chung cũng giống như đã nhiều lần xảy ra trong định mệnh ở thời tuổi trẻ. Anh Thùy, anh Hà, anh Nghinh... và nhiều nữa, luôn cả TNHoàng, là những điển hình rõ rệt.

 

(Giờ đây, viết lại những ý nghĩ này, tôi không phải đang làm điều phô bày cái diện “đào hoa” của mình như một sự tự hãnh, mà chính là đang “thú tội” với tất cả những người đàn ông đã từng trao cho tôi một tấm tình mà không nhận được xứng đáng lòng đáp trả của tôi.) Ở trên viết “luôn cả TNHoàng” quả thật là một điều đúng. Ngay từ lần đầu gặp gỡ, tôi đã KHÔNG YÊU TNHoàng khi tức khắc nhận ra chàng không phải là mẫu đàn ông của tôi. Nhưng bởi vì một thứ gì mà con người vẫn quen đổ là “duyên và nợ” nên mới có sự ràng buộc 7 năm giữa hai người. Riêng tôi lại không đổ là duyên với nợ, mà là ở chính sự “không đang tâm khước từ hy vọng của kẻ khác” trong mình. Đó là một tính tốt, nhưng cũng là cái tính cực xấu trong cá chất mà tôi chưa từng muốn rứt bỏ nó đi.

 

Con người thường sống trong ảo tưởng giả dối. Suốt cả đời tôi chủ trương khước từ điều giả dối trên đủ mọi hình thức. Nhưng trong vấn đề trái tim, không cho đó là giả dối, mà chỉ là sự mềm yếu từ một bản chất vị tha và từ hoàn cảnh tạo ra, miễn là sự mềm yếu đó không làm phương hại cho kẻ khác. Thời gian gặp TNHoàng, nếu tôi không đang ở vào một giai đoạn trái tim đã quá mệt mỏi, hay nếu TNHoàng không đang là một con người độc thân như tôi thì chắc chắn sự liên hệ đã không xảy ra (như đã từng KHÔNG xảy ra ở những trường hợp khác). Thời gian gặp TNHoàng, dẫu vẫn nhận thức được trái tim mình KHÔNG rung động với con người “quấn sát theo tôi ngay từ lần thứ hai gặp gỡ ở vũ trường Palace” thì trong tôi khi ấy vẫn còn ý hướng “thách đố cùng định mệnh” ở sự đi tìm hạnh phúc. Suốt nhiều tháng năm trước đó, tôi nhiều lần thất bại khi đặt Tình Yêu lên hàng đầu suy tưởng của một mối liên hệ tình cảm. Bấy giờ, với TNHoàng, tôi muốn thử tìm ở một phương hướng khác với hai chữ Tình Yêu, may ra có được hạnh phúc chăng?

 

Trên nhiều mặt HÌNH THỨC thông thường, sự thử tìm này đã có kết quả tốt nếu so sánh với một thời dài cô đơn trước đó, hay nếu so với cuộc kết hợp vì Tình Yêu cùng anh Ngọc. Ở với TNHoàng 7 năm, tôi chỉ thương chàng chứ không là yêu. Và điều này được nói rõ với TNHoàng một lần như sau: "Có một điều, nếu em không nói ra, hẳn bố cũng không bao giờ biết. Đó là trên cái nghĩa của tình thương trong cuộc sống năm năm, bố đem được cho em rất nhiều điều mà em cần thiết: sự bình an, đứa con và một cuộc đời không sóng gió. Nhưng trên cái nghĩa của một tình yêu và sự rung cảm con tim, em thú thật là từ ngày làm vợ bố, điều này thiếu hẳn."

 

Nét mặt TNHoàng ra chiều biến đổi. Tôi chận lại:

 

"Khoan, bố đừng nên lấy làm thương tổn vì những gì em nói thật. Trong đời, em đã trải qua nhiều cuộc tình, đã hiểu rõ những khắc khoải đau đớn, cũng như những đam mê say đắm của tâm tư. Nhưng mà tình yêu là gì? Với em, chỉ là biểu tượng cho cái hình Parabol trong Toán học. Khi em nói yêu một người nào tức là em đã nghĩ phải có ngày em lìa xa người ấy. Với bố, trong năm năm qua, em chưa hề nói yêu bố. Bố đừng nên buồn điều ấy. Bố giữ được em không phải vì tình yêu của em cho bố mà chính là tình thương của bố cho em. Hơn nữa là tình thương và sự bảo bọc của một người cha mà em thiếu thốn từ bé. Bố thành công với em nhiều nhất do ở điểm ấy." (MTDKCT I, NXB Văn Uyển 1994).”

 

Có lẽ chính vì điều “nói thật” đó mà cuộc hôn nhân chúng tôi tan rã? Do tự ái? Do lòng kiêu hãnh phía TNHoàng? Nhưng thật sự, tôi không thể nào giả dối được trong chuyện này với TNHoàng. Nếu có trách chăng là trách ở sự thành thật của tôi. Lẽ ra tôi không nên nói khi mà TNHoàng vẫn chỉ là một con người bình thường như bao kẻ khác, nghĩa là vẫn cứ thích sống trong một cái ảo tưởng kiêu hãnh giả dối, dù rằng đó là sự giả dối của trái tim!]

 

Trở lại chuyện Chung.

 

Từ lần gặp đầu tiên, đêm 31/5/1999 ở San Jose, tôi đã biết ngay rằng mình không thể yêu anh, như đã “tưởng là yêu” qua các cuộc chuyện trò điện thoại hay các lá thư trao đổi. Dù vậy, cũng không nỡ thẳng thừng chối từ tình yêu anh đang trao tặng. Trong thâm tâm tôi thật sự mang hy vọng rằng sẽ biến cái tình trong lòng anh thành ra một tình bạn thân thiết cao hơn mức độ thông thường bạn hữu. Tôi hy vọng… nhưng cũng biết điều ấy khó thể xảy ra với cái bản chất cứng rắn có phần độc đoán, với cái tâm hồn và cuộc sống cô đơn dầy đặc hiện tại của anh, những điều sẽ là nguyên nhân thứ nhất đẩy anh đến cái nhìn chiếm hữu vị kỷ trên bản chất của một con người yêu chuộng tự do tuyệt đối như tôi. Và đó sẽ là điều gây nên đổ vỡ...

 

Tôi không biết rồi sự việc sẽ diễn biến ra sao trong ý niệm mong chờ đó, nhưng với sự thông minh nhậy bén của anh, tin rằng mọi thứ cũng xuôi dòng trôi chảy.

 

Dù vậy, phải nhận rằng ngay đêm thứ nhất anh từ Santa Ana tìm đến thăm tôi, trong tôi đã dậy lên niềm kính trọng cho anh. Nơi anh toát ra vẻ xa vời u uẩn, nghiêm trang trầm tĩnh. Ở anh có cái khả năng khơi dậy trong tôi những nỗi niềm đã nhiều năm chôn chặt. Từ anh, tôi dễ dàng kể ra những điều đã hằng chục năm dài giấu kín. Đặc biệt là MỘT tâm sự não lòng đã xảy đến trong cuộc đời mình... Cái tâm sự đau thương trong một buổi chiều những ngày cuối cùng tôi còn ở Dalat, dạo tháng 3/1975...

 

Và sự quý trọng càng lúc càng tăng trong những buổi sáng café, ngồi với anh nơi một cái quán lộ thiên, nhìn bâng quơ giòng xe cộ ngược xuôi trên đường phố. Trời heo heo gió. Những câu chuyện tuôn ra giữa những điếu thuốc lá được liên tục đốt. Tôi tìm thấy lại trước mắt mình một khung trời Sàigòn cũ với nỗi êm đềm trong những cuộc café với một người bạn cũ... Một hình ảnh mà tôi đã buộc lòng phải để mất đi kể từ tháng 4/1976.... Nhưng cũng hình ảnh đó vẫn thường xuyên trở về quấy phá tâm hồn và giấc ngủ cô đơn của tôi... []

 

 

 

 

 

Bài  7 - 8 - 9    >> 

Trang chính    >>