GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG CỦA
CHIẾC TÀU SÉMILLANTE
Truyện Ngắn Pháp (Trích trong Lettre
de Mon Moulin)
Tác giả: Alphonse Daudet
TTBG chuyển Việt ngữ.
Alphonse Daudet sinh trưởng
ở Nimes, nước Pháp, ngày 13 tháng 5/1840, nơi ông trải qua 8 năm đầu tiên của cuộc
đời ông. Cả hai phía nội ngoại đều thuộc
giới tiểu tư sản Pháp. Thuở ấu thời, đối
nghịch trong í nghĩ Daudet về nỗi thích thú hàng đầu theo sự
rực rỡ chan ḥa của mặt trời miền Provence
chính là cái không khí u buồn v́ suy sụp kinh tế của
gia đ́nh ông. Người cha, Vincent Daudet, một nhà sản
xuất tơ lụa –luôn
luôn thất bại trong công việc. Năm 1849,
từ miền bắc, ông di chuyển cả nhà đến
Lyons
(thuộc miền Nam).
Không
ưa môi trường
mới này và sự học hành chỉ là thường
xuyên bị gián đoạn, thuở thiếu niên của Daudet
trôi qua trong buồn bă. Tinh thần người cha càng thêm sa
sút trước cuộc Cách
mạng 1848 tiếp đó, để cuối cùng vào năm
1857, gia đ́nh hoàn toàn bị khánh kiệt và bắt
đầu phân tán từ đây.
Năm 1857, Alphonse –chưa từng là một học
sinh giỏi- rời Lyons và tự
đặt ḿnh một cách đáng thương trong vai tṛ trợ giáo tại Alais. Công
việc quả t́nh không thể chịu nổi. Giống như Charles Dickens từng tuyên bố rằng
trong suốt những thành đạt về sau vẫn bị
những giấc mơ
về thời kỳ học
việc nghèo khổ thuở đầu đời trở về
quấy phá; th́ Daudet cũng nói rằng trong nhiều tháng sau
khi rời Alais, ông nhiều lần bị thức giấc với
những í nghĩ kinh hăi rằng vẫn c̣n đang ở
giữa đám học tṛ vô kỷ luật, cứng đầu.
Ngày
1st tháng Mười Một năm 1857, Daudet bỏ
rơi nghề trợ giáo, t́m đến
Paris, trú ẩn tại nhà người
anh tên Ernest, lớn hơn ông ba tuổi, đang cố gắng kiếm sống bằng
nghề kí giả. Nh́n ra tài năng văn chương của em, Ernest khuyến khích em
đi vào con đường này. Một tập thơ t́nh xoàng xĩnh, Les Amoureuses, (1858),
xuất hiện khi Alphonse 18 tuổi, không tạo được nhiều chú í. Tác
phẩm đề tặng cho một cô làm mẫu tên Marie
Rieu, có quan hệ với ông. (T́nh cảm rắc rối của
họ về sau lại là nguồn cảm hứng tạo
nên tiểu thuyết Sapho (1884), kể chuyện một
chàng Parisian trẻ tuổi gặp một cô điếm hạng
sang lớn tuổi hơn, bị rơi ngă
dưới sức mê hoặc của cô.
Chàng hết sức cố gắng để tự giải
thoát khỏi ảnh hưởng người
t́nh vẫn hết ḷng phục vụ cho chàng. Cuối cùng
nàng trở lại với một t́nh nhân cũ và chàng tiếp
tục đi con đường riêng của ḿnh).
Lần
nữa, suốt
qua ảnh hưởng
của ông anh, Alphonse được hướng dẫn vào nghề kí giả,
bắt đầu viết những bài thời sự
bằng văn xuôi, mô tả những nét đặc trưng xă hội lúc
bấy giờ. Điều này, năm 1859 giúp ông được thu nhận vào làm
việc cho tờ báo tuần báo Figaro nhiều uy tín. Ngay
trong các bài viết đầu tiên của Daudet cũng đă
cho thấy rồi những ǵ mà các nhà phê b́nh thường gọi là "sự
tưởng tượng nhẹ
nhàng"; và những kẻ thường hay nhạo báng người khác chợt phát
giác ra các kiểu thức nổi bật nhất trong văn
chương ông: tính đa
cảm, trí tưởng tượng phiêu diêu.
Rồi dưới quyền chủ bút đầy
sinh lực của Cartier de Villemessant, ông viết hai hay ba kịch
bản, và bắt đầu được
nh́n nhận như một nhà văn đầy tài
năng hứa hẹn.
Từ
1861 đến 1865, chàng tuổi trẻ Daudet thụ hưởng
sự chắc chắn tiền bạc trong vai tṛ thư kí riêng của Hoàng thân de Morny, vị bộ
trưởng đầy quyền uy của
hoàng đế Napoléon III. Chức vụ (mà Daudet giữ cho
đến khi Hoàng thân qua đời năm 1866), th́ cũng
giống như trong các truyện thần tiên, được ban bởi sự t́nh cờ lưu í
của Hoàng hậu Eugénie theo nét chữ viết tay rất
đẹp của nhà văn.
Trong những năm này, Daudet
phóng ḿnh hoàn toàn vào văn chương, cho
chào đời nhiều kịch bản một hồi (La Dernière idole, 1862; Les Absents, 1864; L'Oeillet
blanc, 1865), và trợ lực cho ngành sân khấu dưới ảnh hưởng của
Hoàng thân. Ông đă đặt chân hoàn toàn trên con đường may mắn.
Năm 1860, nhà văn
gặp Frédéric Mistral (1830-1914), thi sĩ Pháp sinh trưởng tại
Maillaine, một ngôi làng trong thung lũng sông Rhone, người đă đánh thức trong Daudet mối hâm
mộ nồng nàn cho cuộc sống ở miền Nam.
Mùa đông
1861-62 của Daudet trải qua ở Algéria.
Sau khi Hoàng thân
chết (năm 1865), Daudet quyết định tiếp tục
mưu sinh bằng nghề cầm bút. Mệt mỏi bởi cuộc
sống ồn ào ở
Tuy
nhiên, Le petit chose (1868), một cuốn bán tự
truyện kể lại bằng giọng văn duyên dáng và cảm
động những năm đầu đời của
ông và được định giá như cuốn David Copperfield của Charles Dickens, th́ không gây được bất cứ náo động quần chúng nào.
Năm 1867,
Daudet thành hôn với Julia Allard; năm kế tiếp cho chào
đời một đứa con trai. Bị gánh nặng gia
đ́nh đè nặng, Daudet đăng vào quân đội nhưng trốn thoát được khỏi sự khủng bố của
nhóm Công Xă Paris vào năm 1871. Kí ức khích động
tạo ra từ sau cuộc chiến Franco-Prussian (1870-71) đă được ghi lại trên nhiều tác phẩm
của ông, ví dụ như “Tṛ chơi
Bi-Da”, diễn tả những thực tế
của cuộc chiến, cận kề bên một tṛ chơi Bi-da trong một ṭa lâu
đài sang trọng.
Đoàn quân
đang chờ nhận lệnh nhưng vị Nguyên
soái, đồng phục tề chỉnh, ngực đeo
đầy huy chương, vẫn thích thú trong cuộc thắng thua các bàn bi da
với nhóm sĩ quan chủ lực của ông. Tiếng náo
động của trận đánh vang lên gần hơn, nhưng vị Nguyên
soái vẫn không thấy ǵ cả, không nghe ǵ cả, ngay với
tiếng ầm của những quả đạn trái phá rơi trên pháo
đài. Ông thắng bàn cờ nhưng đoàn quân
th́ đă lên đường. “Họ chờ lệnh. Nhưng họ
cũng có thể chết mà không cần lệnh, chết
trên nhiều khu vực, đàng sau những bụi cây, trên những
hào rănh trước ṭa lâu đài lặng câm này. Ngay cả sau khi chết,
những chùm đạn đại bác vẫn tiếp tục
xé rách thân thể họ; từ những kẽ hở của
vết thương chảy lặng lẽ một gịng máu –gịng máu đại lượng của
nước Pháp.” (Trích “Tṛ chơi Bi-da”)
Cũng thời
gian này Daudet thường xuyên gặp gỡ Gustave Flaubert, Ivan Turgenev,
Edmond de Goncourt, Zola – và cùng với họ bàn căi về văn
chương.
Năm 1869, tác
phẩm khôi hài nổi tiếng tựa đề Aventures
Prodigieuses de Tartarin de Tarascon
được nh́n như một
kiểu Don Quichotte của Pháp, được độc giả đọc
nhiều nhất, đă quyết định cho tên tuổi
Daudet một chỗ đứng xứng đáng trên văn
đàn. Hai tập tiếp theo về nhân vật đáng yêu
này, đồng thời với kịch bản ba hồi L'Arlésienne cũng được chào đời
sau đó vào năm 1872.
Từ đây,
nhà văn đạt được sự thành công cao nhất trong văn nghiệp.
Trong 20 năm kế tiếp, các tác phẩm lần lượt được xuất
bản (Froment jeune et Risler aîné, 1874; Jack, 1876; Le
Nabab, 1877; Les Rois en exil, 1879; Numa Roumestan, 1881; L'évangéliste,
1883; Sapho, 1884; L'Immortel, 1887; La Lutte pour la vie,
1889; Le Soutien de famille, 1896); và viết nhiều kịch
bản cho sân khấu, bao gồm cả L'Arlésienne (1872),
dựa trên một câu chuyện kể trong Lettres de Mon
Moulin. Có lẽ cuốn hoàn hảo nhất của thời
kỳ này, là Jack, kể câu chuyện về một
đứa con ngoại hôn được nuôi bên trong một chuồng cừu,
bị bắt buộc lao động và cuối cùng bị
tàn phá bởi sự tàn nhẫn ác độc của một
xă hội công nghiệp.
Qua Jack, người ta thấy
rơ Daudet là một nhà văn không chỉ cảm nhận được sự cảm
động và buồn sầu một cách tinh tế, mà c̣n cả
vẻ đẹp của đạo đức phẩm hạnh
nữa, Những cá chất thật của nhà văn
cũng được nêu ra với nguyên h́nh dạng: Trong cái ḷ luyện
cam go của đời sống, một luồng sáng đă
tuôn ra ào ạt bằng một bàn tay kỳ diệu. Ông
đă bắt đúng mạch của quần chúng Pháp trong sự
diễn tả tiếng “cười ra nước mắt”, biểu thị một trong những lời phản
kháng đầu tiên được vang lên trong nước Pháp, chống lại cái hiệu quả vô nhân
đạo trên sự hành hạ trẻ con.
Trong các tác phẩm
của thời kỳ này, Daudet biểu thị rơ ràng phương diện bi
quan yếm thế của ḿnh, điều trở nên nổi
bật kể từ thập niên 1880. Giống như Emile Zola và những nhà văn phái Tự Nhiên khác, ông sắc bén tường thuật
lại những tai họa, tội lỗi của thời
đại, nhưng ngay cả với những dữ kiện bi thảm
nhất cũng được ông diễn tả bằng một giọng
văn đẹp đẽ trữ t́nh.
Nhưng trên hết,
phải nói rằng Daudet là “một nhà văn thuộc phái ấn
tượng”, bởi v́ văn phong ông không giống như lối diễn
tả của lề thói cũ kỹ, mà là chiếu sáng cái kết
quả chờ đợi của cốt truyện bởi lối
xếp chữ cạnh nhau một cách rất duyên dáng, tinh
thục, y hệt những sắc tố trên một bức tranh. Ông tạo
sinh khí cho những dữ kiện, chất liệu được rút từ
trí nhớ. Thế giới ông vẽ ra có đầy những
món quà của đời sống. Un charmeur như Emile Zola đă gọi
ông.
Cuộc sống
hôn nhân của ông đặc biệt hạnh phúc. Có một
sự ḥa hợp trí thức giữa hai vợ chồng, và
chính Madame Daudet cũng là một nhà văn; bà được biết
đến bởi tác phẩm Impressions de nature et d'art
(1879), L'Enfance d'une Parisienne (1883), và vài bài nghiên cứu
văn chương được viết dưới bút hiệu Karl Steen.
Trong những
năm cuối đời Daudet bị đau khổ bởi
hậu quả của bệnh hoa liễu mà ông mắc phải
trong thời tuổi trẻ khi phục vụ hoàng thân tại
triều đ́nh Napoléon III, dẫn tới sự mất
điều ḥa trong việc di động, tạo nên những
cơn nóng giận không kiềm chế nổi và những
giây lát đau đớn kịch liệt. “Tôi hành xử
như một người nộm”, Dauded viết trong một tác phẩm
xuất bản sau khi chết, tựa đề La Doulou,
trong đó có giải thích rơ về những nỗi khổ của
một kẻ bị bệnh giang mai.
Ngày 16th/December
1897, tại
*
* *
Kể
từ cơn gió mạnh của đêm hôm kia đă
đưa chúng tôi đến vùng bờ biển
xứ Corse này, tôi xin kể bạn nghe một câu chuyện
khủng khiếp về biển cả mà các dân
chài ở đây thường nhắc lại với nhau
trong những buổi tối. Một cách t́nh cờ, tôi
cũng được biết nhiều chi tiết lạ
lùng về câu chuyện này.
Cách nay hai hoặc ba năm.
Tôi vượt biển
Sardaigne với bảy hay tám thủy thủ. Thật là một
chuyến đi khó khăn cho một người mới bắt
đầu đi biển như
tôi. Suốt tháng Ba, chúng tôi chẳng có
được một ngày thoải mái. Ngọn gió đông cứ
bám theo sau và biển cả không ngừng cuồng nộ.
Một
đêm khi chạy trốn trước khi băo đến, tàu
chúng tôi tới ẩn trú trong eo biển Bonifacio, giữa một
đám đảo nhỏ. Quang cảnh nơi đây chẳng
có ǵ hứa hẹn: Toàn các tảng đá lớn trơ trụi
đầy chim, vài bụi nhủ hương, và, đó
đây, trong bùn lầy, là những mảnh gỗ mục rữa.
Nhưng, thú thật, để trải qua đêm bên những
tảng đá quái gở này th́ cũng c̣n khá hơn trú lại
trong căn pḥng trên boong với lớp sóng biển tràn vào thỏa
thích, và chúng tôi rất lấy làm hài ḷng.
Vừa
bước lên bờ, trong khi các thủy thủ nhóm lửa
nấu súp, vị chỉ huy gọi tôi, chỉ cho tôi thấy
một khoảng đất nhỏ có rào kín màu trắng khuất
lẫn trong sương mù ở cuối đảo.
“Ông
có muốn đến nghĩa địa không?” Ông hỏi.
“Nghĩa
địa à, ông Lionetti? Chúng ta đang ở đâu vậy?”
“Quần
đảo Lvezzi, thưa ông. Đây là nơi an nghỉ của
sáu trăm người trên chiếc tàu Sémillante, ngay ở
nơi mà cái chiến hạm của họ đă bị ch́m,
mười năm trước… Thật là tội nghiệp!
Chẳng mấy người tới thăm viếng họ;
ít nhất chúng ta cũng nên đến chào họ một tiếng
v́ chúng ta đă đến đây…”
“Rất
sẵn ḷng, thưa ông.”
Nghĩa
địa của tàu Sémillante trông buồn thảm làm sao!...
Tôi vẫn c̣n thấy bức tường thấp và cánh cổng
sắt của nó, han rỉ, khó mở; căn nhà nguyện lặng
lẽ, và chừng vài trăm cây thánh giá màu đen lẩn khuất
trong cỏ… Không một ṿng
hoa, không một ghi nhớ nào! Không điều ǵ cả… A!
Những người chết bị quên lăng đáng
thương, hẳn là họ phải lạnh lắm trong
những ngôi mồ bất chợt!
Chúng
tôi quỳ ở đó chốc lát. Ông trưởng đoàn cầu
nguyện to giọng. Những con hải âu to lớn, những
kẻ duy nhất canh giữ nghĩa trang, lao ṿng đi trên
đầu chúng tôi, ḥa nhập những tiếng kêu vang rền
của chúng vào với tiếng rền rĩ của biển
cả.
Cầu
nguyện xong, chúng tôi buồn rầu quay về góc đảo
nơi chiếc tàu của chúng tôi neo lại. Trong khi chúng tôi
vắng mặt, các thủy thủ đă không để phí
th́ giờ. Chúng tôi thấy một đống lửa sáng rực
được đốt lên khuất sau một tảng
đá, và một cái nồi đang bốc khói. Mọi
người ngồi chung quanh, chân quay về phía đống
lửa, rồi chẳng mấy chốc từng người
có trên đầu gối họ, trong một cái tô bằng
đất nung, hai khoanh bánh ḿ với đầy đủ
gia vị. Bữa ăn lặng lẽ: chúng tôi đều bị
ướt, đói và đang ngồi kề bên một
nghĩa trang… Tuy nhiên, khi những cái tô đă trống, chúng
tôi đốt ống điếu và bắt đầu gầy
chuyện một chút. Tự nhiên là ai cũng nói về chiếc
tàu Sémillante.
“Cuối
cùng, chuyện xảy ra thế nào?” Tôi hỏi vị trưởng
đoàn lúc đó đang hai tay ôm đầu, nh́n vào ngọn
lửa với ánh mắt nghĩ ngợi.
“Chuyện
xảy ra thế nào ư?” Lionetti tốt bụng đáp lời
tôi trong một tiếng thở dài thườn thượt.
Thưa ông, không ai trên đời có thể nói rơ được
điều ấy. Tất cả những ǵ chúng tôi
được biết là chiếc Sémillante chở một
đoàn binh đến Crimée, khởi hành từ Toulon tối
hôm trước trong một thời tiết xấu. Đêm
đó c̣n tệ hơn nữa. Gió to, mưa lớn, biển
cả thét gào như chưa từng thấy… Buổi sáng hôm
sau, gió có dịu đi một chút, nhưng mặt đại
dương th́ vẫn như cũ, thêm lớp sương
mù quỷ quái đến nổi cách chỉ bốn bước
cũng không thể nào phân biệt nổi một ngọn
đèn…
Lớp
sương mù đó, thưa ông, c̣n ai không biết là hiểm
ác… nhưng cũng không hề ǵ, mà tôi nghĩ rằng chiếc
Sémillante đă mất bánh lái sáng hôm ấy; bởi v́, nếu
không có sương mù hoặc nếu tàu không bị hư hỏng
th́ viên thuyền trưởng sẽ không khi nào để
cho tàu đụng vào vách đá. Tất cả chúng tôi đều
biết ông ta là một truyền trưởng dày dạn.
Ông đă chỉ huy hải trạm đảo Corse ba
năm, và ông rành rẽ bờ biển như tôi là người
không biết thứ ǵ khác nữa.
“Vào
lúc mấy giờ th́ tàu Sémillante bị lâm nạn?”
“Chắc
là lúc giữa trưa; vâng, thưa ông, lúc giữa trưa.
Nhưng khốn thay, với thứ sương mù trên biển
th́ giữa trưa cũng chẳng hơn ǵ đêm tối.
Một nhân viên quan thuế ở bờ biển đă kể
lại với tôi rằng hôm đó, khoảng mười một
giờ rưỡi, khi đi ra ngoài nhà để buộc lại
cánh cửa, nón anh đă bị gió cuốn bay và anh đă ḅ cả
hai tay hai chân dọc bờ biển để đuổi
theo chiếc nón, bất chấp điều có thể bị
sóng cuốn trôi. Ông biết, nhân viên quan thuế không giàu có
ǵ, và với họ, một chiếc mũ cũng đắt
tiền lắm. Thế rồi, h́nh như có lúc anh ngẩng
đầu lên và trông thấy sát bên ḿnh, trong sương mù,
một chiếc tàu lớn không buồm đang chạy
dưới gió về phía quần đảo Lavezzi. Nó chạy
rất nhanh, nhanh đến nỗi anh ta chỉ kịp nh́n
thấy nó, nhưng có đủ lí do để tin rằng
đó là chiếc Sémillante, v́ nửa giờ sau, người
chăn cừu ở đảo đă nghe tiếng va chạm
trên đá. Thưa ông, đây chính là người chăn cừu
tôi đă nói; ông ta sẽ tự kể lại sự việc.
Chào Palombo! Tới sưởi ấm một chút đi, đừng
sợ.”
Một người đàn ông đội
mũ trùm đầu mà tôi đă thấy lảng vảng gần
đống lửa tự năy giờ --và tôi tưởng là một
trong các thủy thủ v́ tôi không biết có một người
chăn cừu trên đảo-- tới gần với vẻ
sợ sệt.
Đó là một ông già mắc bệnh phong hủi,
gần như đần độn. Tôi không biết chứng
hoại huyết nào đă làm môi ông sưng to lên và ḷng tḥng,
trông rất gớm ghiếc. Phải khó nhọc lắm mới
giải thích cho ông hiểu được chuyện ǵ. Thế
rồi, lấy ngón tay nâng cái môi lên, ông già kể, quả là
ngày đó, từ trong lều, ông đă nghe tiếng va chạm
kinh khủng trên các mỏm đá. V́ đảo ngập
nước, ông không ra ngoài được. Chỉ hôm sau khi
mở cửa, ông mới thấy bờ biển đầy
mảnh tàu bể và tàu th́ bị sóng đánh dạt lên. Ông
kinh hoàng nhảy lên chiếc xuồng nhỏ để
đi Bonifacio t́m người.
Mệt v́ nói nhiều, người chăn
cừu ngồi xuống và ông đoàn trưởng nói tiếp:
“Thưa ông, chính ông già tội nghiệp này
đă tới cho chúng tôi hay. Ông gần như điên lên v́ sợ,
và trí năo của ông vẫn c̣n rối loạn v́ chuyện
đó. Mà thật, chuyện quả đáng sợ. Ông hăy h́nh
dung sáu trăm xác chết chồng chất lên nhau trên băi cát,
lẫn lộn với mảnh tàu vỡ và mảnh buồm
rách… Tội nghiệp chiếc Sémillante!... Biển cả
đă nghiền nát nó, đến nỗi ông lăo chăn cừu
Palombo khó nhọc lắm mới t́m được trong
đống bể nát đủ số gỗ để làm
thành một hàng rào quanh lều.
C̣n con người th́ gần như biến
dạng, găy đứt hết. Thấy họ vướng
vào nhau từng chùm mà thương xót! Chúng tôi t́m thấy thuyền
trưởng mặc lễ phục, Cha Tuyên úy quàng khăn lễ
trên cổ; trong một góc, giữa hai tảng đá, một
thủy thủ tập sự mở mắt trao tráo. Có thể
tưởng là cậu c̣n sống, nhưng không. Không ai thoát
chết cả.”
Tới đây ông đoàn trưởng bỗng
dừng lại.
“Nardi, coi chừng lửa tắt!” ông bảo.
Nardi ném lên đống than hồng hai, ba mảnh
ván trét dầu hắc và chúng cháy bùng lên. Lionetti kể tiếp:
“Có chi tiết đáng buồn nhất trong
chuyện này là ba tuần lễ trước, một chiếc
hải hạm cũng đi Crimée và đă đắm gần
như cùng một chỗ như chiếc Sémillante. Chỉ có
điều là lần đó chúng tôi đă cứu được
thủy thủ đoàn và hai mươi người lính quân
nhu đi theo tàu. Những người lính đáng
thương này không có công việc ǵ trên tàu nên chúng tôi
đưa họ tới Bonifacio và giữ họ lại hai
ngày ở đó. Khi đă khô ráo và tỉnh táo lại, họ
từ giă chúng tôi, trở lại Toulon và ít lâu sau người
ta lại cho họ lên tàu đi Crimée.”
“Ông có đoán được họ đi
trên chiếc tàu nào không?”
“Chiếc Sémillante. Chúng tôi gặp lại tất
cả hai mươi người lính ấy trong số những
người chết, ngay chỗ chúng ta đang ngồi bây
giờ đây. Chính tôi nhặt xác của một viên đội
đẹp trai để râu mép, một thanh niên tóc vàng
người Paris mà tôi đă cho ăn ngủ nhờ ở
nhà tôi, lúc nào cũng kể chuyện làm cho chúng tôi cười
được. Thấy anh ta ở đó, tôi đau ḷng quá…
A, Santa Madre!”
Ông Lionetti quá xúc động, giủ tro trong
ống điếu ra, cuộn tṛn ḿnh lại trong chiếc
áo mưa và chúc tôi ngủ ngon. Các thủy thủ kia c̣n tṛ
chuyện nho nhỏ với nhau một lúc nữa. Rồi
các ống điếu lần lượt tắt. Người
ta bắt đầu ngủ. Ông lăo chăn cừu bỏ
đi. Và một ḿnh tôi mơ màng giữa các thủy thủ
ngủ say.
*
* *
Vẫn c̣n bần thần v́ câu chuyện buồn
thảm vừa nghe, tôi cố dựng lại trong trí h́nh ảnh
chiếc tàu và lúc cuối cùng của nó. Thật đáng
thương, chỉ những con hải âu chứng kiến
giây phút hấp hối đó. Có vài chi tiết làm tôi xúc động
mạnh. Thuyền trưởng mặc lễ phục, Cha
tuyên úy, hai mươi người lính quân nhu, tất cả
đă giúp tôi phỏng đoán mọi diễn biến của
thảm kịch. Tôi thấy chiếc chiến hạm rời
cảng Toulon trong đêm tối, thẳng hướng đại
dương. Biển động, gió dữ dội, nhưng
thuyền trưởng là một nhà hàng hải tài ba nên trên
tàu ai cũng an tâm.
Buổi sáng, sương mù từ biển
dâng lên. Người ta bắt đầu lo ngại. Tất
cả thủy thủ lên boong. Thuyền trưởng không rời
khỏi đài chỉ huy.
Chỗ trú của hai mươi người
lính quân nhu là trong hầm tối, không khí nóng bức. Có vài
người mắc bệnh, nằm trên túi quân trang. Tàu tṛng
trành kinh khủng, không ai đứng vững được.
Từng nhóm ngồi bệt xuống sàn, tay bám vào ghế dựa,
tṛ chuyện; họ phải hét lớn mới nghe nhau
được. Có người đă bắt đầu sợ.
Nghe này! Tàu thường bị đắm trong vùng biển
này. Ở đây có các người lính quân nhu làm chứng, và
những điều họ kể không làm người ta yên
tâm. Nhất là viên đội, một dân Paris lúc nào cũng bỡn
cợt, nói những câu đùa nghịch khiến đám bạn
càng thêm hăi sợ:
“Một vụ đắm tàu! Nhưng vui lắm,
một vụ đắm tàu. Chúng ta chỉ phải tắm
trong băng, rồi người ta sẽ đưa chúng ta
về Bonifacio để ăn thịt chim sáo ở nhà ông
trưởng nha quan thuế Lionetti.”
Cả đám quân nhu cười ồ.
Th́nh ĺnh, một tiếng răng rắc
vang lên. Cái ǵ vậy! Có chuyện ǵ?
“Bánh lái vừa găy” –một thủy thủ
người ướt mem, vừa chạy qua hầm tàu vừa
nói.
“Thượng lộ b́nh an!” Viên đội
khích động hét to, nhưng không ai cười được
nữa.
Trên boong hỗn loạn. Sương mù quá dầy,
không ai thấy rơ mặt ai. Các thủy thủ chạy tới
chạy lui, hốt hoảng, ṃ mẫm. Bánh lái không c̣n nữa!
Không thể điều khiển tàu. Chiếc Sémillante trôi giạt,
như bay. Đó là lúc mà người
nhân viên quan thuế thấy nó chạy qua; mười một
giờ rưỡi trưa. Ở mũi chiếc thuyền,
người ta nghe tiếng gầm như đại bácc nổ.
Đá ngầm! Đá ngầm! Thế là hết, không c̣n hy vọng
ǵ. Con tàu đang đâm thẳng vào bờ. Thuyền trưởng
xuống pḥng riêng. Một lúc sau, ông trở lại đài chỉ
huy, mặc đại lễ phục. Ông muốn làm đẹp
để chết.
Trong
hầm tàu, những người lính quân nhu lo âu, nh́n nhau, im
lặng. Những người bệnh cố ngồi dậy.
Viên đội không cười nữa. Lúc đó cửa mở
ra và Cha tuyên úy xuất hiện ở ngưỡng cửa,
tay cầm khăn lễ.
“Quỳ
xuống các con!”
Mọi
người vâng lời. Giọng ngân vang, linh mục bắt
đầu bài kinh của người hấp hối.
Bỗng
mọi người nghe một chấn động ghê gớm,
một tiếng kêu thét, một tiếng duy nhất, rền
rĩ; những cánh tay đưa thẳng những bàn tay co
quắp, những ánh mắt hoảng loạn trong đó h́nh
ảnh Thần Chết thoáng qua như ánh chớp.
Xin
Chúa xót thương!
Tôi
đă mơ mộng như vậy suốt đêm, gọi hồn
của chiếc tàu chết cách đó mười năm mà mảnh
vụn bấy giờ c̣n vương văi quanh tôi. Trong eo biển
đàng xa, băo đang gào thét; ngọn lửa rạp xuống
dưới làn gió; và tôi nghe chiếc thuyền của chúng
tôi đang nhảy nhót trong sóng nước dưới chân
vách đá, dây neo kêu kẽo kẹt.
(
[]