X.

(Tháng 4/1830 – Tháng 10/1830)

            Vào một ngày Chủ nhật của tuần lễ Phục Sinh, lần thứ hai Púshkin cầu hôn Nathalie và lần này được chấp thuận. Một bi kịch mới lại mở ra trong cuộc đời thi sĩ. Sự kết hợp rõ ràng không tương xứng giữa hai người trong cuộc, ngoại trừ cái điều –giống như một người bạn đã viết chúc mừng Púshkin khi nghe tin ông sắp sửa lập gia đình với Nathalie: “Nhà thơ lãng mạn hàng đầu thì phải kết hôn với người đẹp ngoại hạng trong thời đại của họ.”

            Nathalie Gontcharova thuộc một gia đình mấy đời làm nghề sản xuất vải vóc, sau được phong một chức nhỏ trong hàng quý tộc. Cô rất đẹp, nhưng trí thức nông cạn, tánh nết lại phù phiếm nhẹ dạ. Bà mẹ cô là một người tham lam keo kiệt, hay quấy rầy kẻ khác. Chẳng bao lâu sau buổi lễ đính hôn, bà nhận ra rằng đã vớ phải một món hố và hiển nhiên ân hận vì lời hứa gả con gái có sắc đẹp tuyệt trần cho một thi sĩ nghèo, cuộc sống bị đặt dưới quyền kiểm soát thường xuyên của mật vụ. Bà bèn quyết định hoãn lại ngày cưới.

            Để xoa dịu những ý nghĩ lo lắng của bà mẹ vợ tương lai, Púshkin trình cho bà ta thấy một giấy xác nhận từ Bá tước Benckendorff rằng, vượt xa hơn điều bị nghi ngờ về chính trị, Púshkin còn là người đang nhận sự bảo trợ của đương kim Hoàng đế. Thi sĩ cũng tự chạy chọt để được thêm lương, dụng ý trả cho hết số nợ cờ bạc đáng kể và xây dựng một tương lai mới.

            Lúc bấy giờ, cha của Púshkin chuyển nhượng cho thi sĩ một bất động sản ở Boldino thuộc tỉnh Nizhny Novgorod với hai trăm nông nô trai tráng khoẻ mạnh. Ngay lập tức, Pushkin đem cầm cố bất động sản ấy. Phần lớn số tiền thu được lọt vào tay bà Gontcharova theo lời yêu cầu rằng “để cho Nathalie có được một số của hồi môn”; phần còn lại tiêu cả vào việc sắm sửa quần áo tư trang cho cô dâu.

            Nếu trong thời gian đính hôn, Púshkin đã không chịu nhìn ra Nathalie đúng như bản chất con người thật của cô (một kẻ đầu óc trống rỗng, không được giáo dục kỹ, không mảy may quan tâm đến các vấn đề trí thức hoặc cách cư xử xã giao, khả năng riêng chỉ giới hạn trong việc khiêu vũ, thêu thùa và một chút vốn liếng tiếng Pháp), thì ít nhất, thi sĩ cũng không có ảo tưởng về các cảm nghĩ của cô dành cho ông, ngoại trừ sự cảm kích nào đó theo cái tiếng tăm lừng lẫy Púshkin đã tạo ra.

            Chính Púshkin –cũng như bà Gontcharova—đã có đầy những nỗi nghi ngại trong óc trước cuộc hôn nhân sắp đến này. Khi ấy, thi sĩ đã ba mươi tuổi, và Nathalie là người con gái thứ mấy mươi trong cái danh sách dài đằng đẵng các người đàn bà đẹp mà nhà thơ từng chinh phục tình cảm. Dù rằng sự say đắm dành cho Nathalie đã khiến Púshkin, trong bài thơ “Madona” đã lý tưởng hóa cô là “thánh mẫu đồng trinh”, cũng như tuyên bố rằng phải hy sinh sự tự do và những niềm vui riêng vì cô, thì càng lúc Púshkin càng thường xuyên nhận ra trong chính mình một mối âu lo về cuộc sống hôn nhân sắp tới; đồng thời cảm nghe hối tiếc không ít một thời kỳ độc thân vô tư đã qua.

            Đầu mùa thu 1830, bằng sự đau khổ giả dối của một con người tinh ma quỷ quái, bà Gontcharova làm áp lực buộc Púshkin phải viết cho Nathalie rằng ông để cho cô tự do. Phần riêng (nhà thơ viết thêm) nếu không thành hôn được với Nathalie, ông chẳng thành hôn cùng ai nữa. Sau đó, Púshkin rời Moscow để đi đến Boldino ngay lập tức với hy vọng sẽ sáng tác được nhiều, hầu quên đi nỗi đau khổ hiện tại.

            Tuy vậy, trong lá thư viết cho một người bạn trên đường đi về miền quê, Púshkin đã tâm sự rằng: “Bạn không thể tưởng tượng nổi, thật là vui mừng khi tôi được rời xa vị hôn thê và lại bắt đầu làm thơ!”

 

 

XI.

(Tháng 10/1830–Tháng 1/1831)

            Những sáng tác trong mùa thu 1830 gồm rất nhiều bài nổi tiếng như “Bi Ca”, “Lìa Xa Vùng Đất Lạ”, “Những Vần Thơ Viết Ra Trong Một Đêm Mất Ngủ”, “Mùa Thu”, “Những Ác Thần”.

            Bệnh dịch tả hoành hành khắp vùng khiến Púshkin bị cầm giữ ở Boldino cho mãi đến đầu tháng 12/1830. Điều ấy hóa ra lại hay. Ông tiếp tục sáng tác “Evgény Onégin”, kết thúc chương 7 và 8 với những cảm xúc hoàn hảo, rồi lại bắt đầu một chương mới khác. Thi sĩ cũng hoàn thành “Căn Nhà Nhỏ Ở Kolóma”, một tác phẩm trào phúng diễn tả cuộc sống của tầng lớp dân chúng nghèo trong tỉnh.

            Kết quả trong mùa thu 1830 ở Boldino cũng gồm luôn cả bốn vở kịch ngắn: “Buổi Lễ Hội Trong Mùa Dịch Hạch”, “Gã Keo Kiệt”, “Mozart và Salieri”, “Người Khách Lạnh Lùng”.

*

* *

            Được viết năm 1830 nhưng xuất bản sau khi tác giả đã qua đời, bi kịch “Người Khách Lạnh Lùng” (Kamenny Gost’) đã chiếm giữ trong văn chương Nga thế kỷ 19 một chỗ đứng quan trọng. Nó được xếp vào nhóm “những bi kịch nhỏ”, kể lại huyền thoại Don Juan nhưng kết thúc theo chiều hướng vở đại nhạc kịch “Don Giovanni” của Mozart(9), nghĩa là khác hẳn với cái kết thúc truyền thống của câu chuyện Don Juan. Ở đây, cả hai Mozart và Púshkin đều diễn tả cái chết Don Juan như là kết quả trộn lẫn giữa lòng đam mê và sự gan lì của chính nhân vật.    

            Câu chuyện như sau: 

            Dù rằng tính mạng đang trong vòng nguy hiểm, Don Juan cũng quyết định trở lại thủ đô Madrid với người hầu trung thành Leporello để tìm gặp nàng Laura xinh đẹp mà chàng từng không thành công trong việc đeo đuổi quả tim nàng. Khi đi vào trong một nghĩa địa tại Madrid, chàng nhận biết ra bà quý tộc Anna, vợ góa đang còn trẻ đẹp của một lãnh chúa, hằng ngày vẫn đến khóc lóc bên nấm mộ chồng. Don Juan bèn nẩy ra ý muốn chinh phục bà, nhưng Leporello can ngăn chàng không nên làm điều đó.

            Trong khi ấy, tại bữa tiệc nhà Laura có hiện diện Carlos, người ái mộ nàng. Sau khi các vị khách đã ra về, chỉ còn mỗi Carlos thì lại là lúc Don Juan xuất hiện. Chàng bèn giết chết địch thủ và buông lời tán tỉnh Laura. Ban đầu  Laura cự tuyệt, nhưng cuối cùng cũng chịu khuất phục trước những thệ ước tình yêu của Don Juan và ôm lấy chàng.

            Quá kiêu hãnh với sự chiến thắng mới này, Don Juan đã bỏ đi ra ngoài nghĩa địa và gặp lại bà quý tộc tại đây. Bà này, để kết thúc những tỏ bày dâm dật, đã cho chàng một cuộc hò hẹn tại nhà bà, xa khỏi nấm mộ chồng. Một cách tự mãn, Don Juan quay về phía bức tượng đặt trên mộ vị lãnh chúa và ngỏ lời giễu cợt mời ông ta cùng đến nhà bà quý tộc. Một điểm lạ lùng xảy ra là bức tượng đột nhiên làm dấu hiệu đồng ý nhận lời mời của Don Juan.

            Ngày kế tiếp, trong khi Don Juan đang ở trong phòng bà quý tộc và bà này thì đang bị rối loạn bởi những lời tán tỉnh của Don Juan để sắp sửa ngã vào tay chàng, đột nhiên cả hai nghe tiếng gõ cửa: bức tượng vị lãnh chúa xuất hiện. Anna ngã ra ngất lịm, còn Don Juan thì kinh hãi tìm đường trốn chạy, nhưng vô hiệu. Bức tượng giữ chàng lại, hỏi rằng có phải chàng đang sợ hãi? Don Juan tìm lại nhanh chóng sự kiêu căng và can đảm của mình, đưa tay ra bắt tay bức tượng. Bức tượng xiết chặt lấy tay chàng cho đến khi chàng chết hẳn.

*

* *

            Gã Keo Kiệt (Skupoj rycar), kịch thơ trào phúng ba màn được viết vào năm 1830. Trong màn đầu, chàng trẻ tuổi Albert phàn nàn với ông thầy dạy cưỡi ngựa về tính bần tiện keo kiệt của người cha khiến chàng thiếu thốn những nhu cầu cần thiết và không thể giữ cho xứng đáng địa vị của mình ở cung điện nhà một vị Công tước. Ông thầy bèn giới thiệu với chàng một người Do Thái cho vay nặng lãi. Gã này cho lời khuyên rằng muốn có tiền, Albert nên tìm cách đánh thuốc độc người cha. Tức giận, Albert rượt đuổi gã Do Thái và quyết định thưa kiện lên vị Công tước sự xúi giục này của gã Do Thái.

            Trong màn hai, người ta thấy người cha đi xuống cái hầm tòa lâu đài để bỏ thêm một nắm vàng vào trong cái tủ sắt của ông. Cũng nơi đây, ông già tự ngồi độc thoại, bộc lộ nỗi lòng của mình. (Đó là một trong những trang hay nhất Púshkin đã viết ra). Ông tự nói về cái quyền lực đã được tạo ra từ những bạc vàng châu báu; một thứ quỷ nào đó mê đắm theo cái hầm nhỏ này, đã chế ngự mọi người. Sự ý thức về quyền lực thống trị chi phối ông, sai khiến ông, đã làm ông đau khổ. Trong khi đó, có một mối lo lắng ưu tư gậm nhấm con người ông: “Ông có được tiếp tục giàu có nữa sau khi đã chết không? Con trai ông, gã trai trẻ dại khờ ấy, sẽ làm tiêu tán tất cả tài sản bởi vì nó không biết thế nào là giá trị của sự nắm trong tay mọi vàng bạc ấy, những điều mà ông đã phải trả giá bằng những kiêng cữ mọi thú vui nhục thể, mọi cay đắng khó nhọc, những ý nghĩ thống khổ và những đêm vật vờ trong trạng thái mất ngủ.”   

            Cuối cùng, ông già hà tiện ước nguyện, bao giờ chết đi, linh hồn ông sẽ lẩn quẩn canh gác trên những cái rương của cải của mình!

            Trong màn ba, Albert được tiếp đãi bởi vị Công tước; vị này hứa với chàng sẽ cố gắng cảm hóa người cha. Chàng tuổi trẻ ngồi lùi vào một vị trí gần đó lúc vừa xuất hiện hình ảnh người cha. Sau khi lắng nghe những lời nằn nì của vị Công tước xin cho Albert được lui tới cung điện nhà ông ta, thì thoạt đầu, người cha hứa sẽ tìm phương hướng thực hiện điều đó, xong đột nhiên kết thúc bằng những lời tuyên bố rằng con trai ông không xứng đáng với sự quan tâm của Công tước bởi vì đó là một kẻ tồi kém và cũng là một kẻ phạm tội trong việc ước muốn cái chết của cha để hòng chiếm đoạt tài sản.   

            Với những lời này, Albert đột nhiên xông vào trong phòng và gọi cha là kẻ nói dối. Người cha bèn ném cái bao tay vào con trai mình. Albert vội vàng nhặt nó lên, nhưng Công tước giật trở lại và hạ lệnh cho chàng bước ra khỏi phòng. Cũng cùng khoảnh khắc đó, ông già keo kiệt ngã ra chết ngay.

*

* *

            Mozart và Salieri (Mozart i Sal’eri) là kịch thơ viết năm 1830, xuất bản tại Nga năm 1832, và tại Pháp 1857. Giống như trong những đoản hài kịch khác của nhà thơ, Púshkin miêu tả ở đây một trong những tính chất nổi bật của con người: Lòng ganh tị. Dựa theo huyền thoại Mozart đã bị đầu độc bởi Salieri, một nhà soạn nhạc cùng thời, bản kịch thơ tự nó trở thành một kiệt phẩm trong sự hoàn hảo của thể thức cấu trúc và cũng của sự phân tích tâm lý nhân vật. Nhà thơ không miêu tả lòng đố kỵ theo tính cách thông thường vẫn thấy nơi con người, mà là đưa ra một bi kịch không thể so sánh giữa “tài năng được rèn luyện bằng trọn cuộc đời cần cù siêng năng”, với “thiên tài, điều gợi nên cảm hứng sáng tác cho một con người nhẹ dạ, vô tư”.

            Salieri, nhạc sĩ triều đình Áo thời bấy giờ, tài năng tầm thường, đã lợi dụng quyền thế riêng mà “xem xét kỹ càng âm nhạc Mozart giống như đang mổ xẻ khám nghiệm một xác chết” và “kiểm tra từng hợp âm trong các bản đại hoà tấu của nhạc sĩ bằng tính cách khó hiểu của một nhà toán học.” Ông không ganh tị với con người, nhưng là với sự hiện hữu trên thế gian của Mozart mà ngay từ lần đầu gặp gỡ, thứ tình cảm đố kỵ ghê gớm đó đã chiếm cứ lấy ông. Ông kêu gào Chúa, đặt câu hỏi với Ngài: “Công bình ở đâu khi mà với một kẻ thường nhiệt tâm cầu nguyện Chúa và từng hy sinh quên mình cho tình yêu âm nhạc (như ông) vẫn không được Chúa đền bù cho một tài năng vĩ đại, trong khi Ngài lại soi sáng thiên tài ấy trong cái đầu của một kẻ ngây cuồng? … Ôi! Mozart! Mozart!” Những thế hệ sau, hời hợt vô tư, đã không biết được giá trị tài năng của ông thì hình ảnh Mozart lại càng là một sự lăng nhục sống động nhất đối với Salieri. Trong khi khúc nhạc Don Juan (của Mozart) bị làm hư đi bởi một tay vĩ cầm già trong một gánh hát rong, thì Mozart cả cười giống như một gã phóng đãng; và khi một kiệt tác mới (của Salieri) được xướng lên cho Mozart nghe thì Mozart lại đàn lại bản ấy một cách say mê, thể như đó chỉ là một bản nhạc nhỏ, không có gì khó khăn cả.

            Salieri đau khổ quá độ, nỗi oán hận tuyệt vọng chiếm cứ trái tim ông. Ông nghĩ, “Mozart phải chết”. Thế là trong cơn cuồng nộ của lòng ganh tức, Salieri đã tìm đến Mozart (khi ấy đang sống trong cảnh cực kỳ nghèo khó, lại bệnh rất nặng), đặt túi tiền trước mặt Mozart để thuê Mozart viết cho ông một bản Requiem Mass (Kinh Cầu Hồn). Mục đích Salieri là muốn rút tỉa hết năng lực sau cùng của Mozart để du nhạc sĩ đến gần cái chết nhanh hơn. Ông ta không bao giờ trở lại nhà Mozart nữa, nhưng cái bóng âm u đó cứ theo đuổi Mozart những đêm ngày tiếp theo. 

            Bản Kinh Cầu Hồn đã là kết quả của một bi kịch định mệnh bị bao vây bởi lòng ganh ghét. Ngoài ra Mozart đã gián tiếp xúi giục khêu tức hành động Salieri bởi những lời nói của chính nhạc sĩ trong lần gặp gỡ với Beaumarchais: “Salieri là một kẻ có tài, giống như ông và tôi: vàng bạc, tài năng và tội ác đều là những điều làm tổn hại cho con người.” Những lời đại lượng này đã gióng lên như một hình phạt âm thầm cho Salieri. Ông này, (trước đó đã bỏ thuốc độc vào ly nước Mozart) lắng nghe bản Kinh Cầu Hồn với những giòng lệ cứu trợ an ủi: Bây giờ ông ta có thể khâm phục Mozart mà không còn phải đau khổ nữa; Mozart đã vĩnh viễn ra đi. Tuy nhiên, sau cái chết Mozart, có một tư tưởng cứ mãi dày vò tâm hồn Salieri: “Có thể anh ta có lý và chính ta đã không biết ta cũng là một thiên tài? Thiên tài và Tội ác…”.

 

            Được viết ra trong khoảng thời gian cô đơn trước khi thành hôn với Nathalie, bi kịch “Mozart và Salieri” đã chứng thực được rõ ràng tư cách ngoại lệ và sức tự chủ vô địch của Púshkin trước những rối loạn tâm tình và ngoại cảnh đang đưa đến với nhà thơ .   

*

* *

            Từ thuở nhỏ, Púshkin đã luôn luôn tỏ ra thích thú với những bài ca và các câu chuyện kể từ các người nông dân mù chữ. Nhà thơ cũng có một cái tai rất thính để nhận định được sự kỳ diệu trong các đoản khúc dân ca. “Những Câu Chuyện Kể Của Belkin” (Povesti Belkina) (xuất bản vào năm 1831, nhưng không đề tên tác giả), tác phẩm văn xuôi gồm năm mẩu chuyện: “Một Phát Súng”, “Cơn Bão Tuyết”, “Người Bán Quan Tài”, “Ông Chủ Nhà Giây Thép Gió”, và “Cô Gái Nhà Quê”, là kết quả của đặc tính này trong con người Púshkin. Những câu chuyện do một vị quý tộc lui về sống trong vùng đồng quê, tên gọi Ivan Petrovich Belkin ghi lại từ những mẩu chuyện rời từ những người kể khác nhau, được Púshkin thuật lại bằng một giọng đơn giản, trong đó không có các vấn đề thuộc về tâm lý, không có những miêu tả và không cả điều gì có tính chất đáng lưu tâm hay quan trọng. Chúng hoàn toàn bình dị, trong sáng, xuất khởi từ các câu chuyện vặt trong dân gian nhưng được đưa lên hàng nghệ thuật tuyệt mỹ bởi tài năng của một nghệ sĩ bậc thầy. Những câu chuyện kể, cho dù không là tác phẩm hay nhất thì cũng đã chứa chất được rất nhiều nét đặc biệt của Púshkin.

 

            Chuyện kể thứ nhất: “Một Phát Súng”.

            Sylvio, nhân vật chính của câu chuyện thứ nhất là một sĩ quan trẻ, kiêu hãnh, ngạo mạn và có tài thiện xạ. Sự dũng cảm của anh ta đã chinh phục được tình cảm tất cả trung đoàn nơi anh ta trú đóng. Tuy nhiên, vào một ngày, sau khi từ chối một cuộc thách đấu, uy danh anh ta bị sút giảm. Sự thật, Sylvio có một tâm sự bí ẩn: anh ta né tránh cuộc thách đấu chỉ vì muốn giữ cho tròn mạng sống để thực hiện cuộc trả thù riêng. Trước kia, có lần đối đầu trong một cuộc đấu súng, thái độ hết sức lãnh đạm một cách rất quý phái, sự khinh thường cái chết của địch thủ đã làm tổn thương sâu xa tâm hồn Sylvio. Vì thế khi đến phiên mình bắn, trong giây lát chọn lựa, Sylvio bèn đưa ra đề nghị dành lại phát súng ấy vào một ngày khác. Và bỏ đi.  

            Thời gian trôi, khi biết được kẻ thù cũ vừa mới lập gia đình, Sylvio quyết định tìm đến. (Phần hai của mẩu chuyện được kể lại bởi Bá tước B., kẻ thù cũ của Sylvio). Một buổi chiều, Sylvio, súng đã cầm tay, bất thần xuất hiện trước mặt Bá tước tại căn nhà nghỉ mát ở đồng quê của người này. Lo sợ sự trở về của người vợ, vị Bá tước van nài Sylvio trả thù nhanh lên. Người vợ xuất hiện. Trước mắt nàng, Sylvio nhắm mũi súng vào kẻ thù, tâm trạng thích thú vì đã làm cho nàng đau khổ. Nàng phục xuống chân anh ta, đôi mắt đầy lệ, cất tiếng van nài tha cho mạng sống của chồng. Thế rồi, khi tự xét đoán rằng đã đủ để trả thù cho sự sỉ nhục trước kia, Sylvio hạ súng xuống và biến mất hẳn từ đó.

 

            Chuyện kể thứ hai: “Cơn Bão Tuyết”.

            Marie Gavrilovna, một cô gái 17 tuổi, con nhà giàu, tâm hồn lãng mạn. Mặc dù với sự phản đối dứt khoát của cha mẹ, nàng vẫn yêu say mê Vladimia Nicholaivich, một sĩ quan trẻ không có tài sản. Hai kẻ tình nhân đồng ý trốn đi rồi âm thầm làm lễ cưới cùng nhau tại một ngôi làng hẻo lánh tên Gradinov. Vào đêm khởi hành dự định, một cơn bão tuyết dữ dội kéo đến: chàng tuổi trẻ lạc lối. Mãi cho đến gần sáng, chàng mới tìm ra con đường đi đến ngôi nhà thờ ở Gradinov. Cô dâu không xuất hiện. Chàng đâm ra tuyệt vọng, nên đăng ký trở lại trung đoàn chiến đấu biên phòng của chàng, sau đó bị thương nặng trong trận Borodino và chết tại Moscow trước khi quân Pháp dẫm gót giày xâm lược trên đất Nga.

            Nhiều năm trôi qua, Marie vẫn sống một mình với mớ kỷ niệm về Vladimia một cách trân quý. Nhưng cuối cùng nàng cũng chấm dứt sự cô đơn để chấp nhận tình yêu của Đại tá kỵ binh Bourmine, người vừa bị thương trở về sau cuộc thắng trận vẻ vang đẩy lui quân đội Napoléon ra khỏi đất Nga. Song le, vị này luôn luôn có vẻ trầm tư như thể đang ôm trong lòng một điều bí mật nào đó. Cho đến một lúc, anh ta phải thú nhận cùng nàng rằng anh ta đã có vợ… Và anh ta kể, ngày xưa vào một đêm bão tuyết, chiếc xe đưa anh ta và người hầu lạc đến một ngôi nhà thờ. Tại đó, anh ta thấy có một đám cưới đang sắp cử hành, chỉ còn chờ sự xuất hiện của chú rể. Người chung quanh tưởng lầm anh ta là chú rể, kéo ngay vào cuộc lễ. Anh ta cũng không từ chối. Khi vị linh mục bảo cô dâu chú rể hôn nhau, cô dâu bật la lên: “Không phải anh ấy!” Và ngã ra ngất xỉu. Nhiều năm trôi qua, anh ta cũng không biết cô gái hôn thê là ai, lại cũng chẳng nhớ tên cái làng có ngôi nhà thờ cũ. Người hầu thì đã chết ngoài mặt trận. Vậy là câu chuyện đùa ngày cũ, mãi mãi vẫn là một bí ẩn không giải tỏa được của anh ta.

            Nghe xong chuyện, Marie kêu lên: “Anh không nhận ra em là cô gái ấy sao?” Bourmine vụt quỵ xuống dưới chân nàng.

 

            Chuyện kể thứ ba: “Người Bán Quan Tài”.

            Adrien Prokorov, một người khí chất u sầu buồn thảm, chủ một cửa hàng chuyên bán quan tài, vừa mới dọn sang một ngôi nhà hắn vừa mới mua. Trong buổi lễ cưới ở nhà một người hàng xóm, vợ chồng và hai cô con gái của Ariend được mời tham dự. Tại đây, khách khứa nâng ly chúc mừng nhau, rồi lại chúc cho tất cả mọi người mọi thứ khác. Có một vị khách bảo Adrien: “Ông hãy nên uống rượu mừng các khách hàng đã chết của ông đi.” Nổi giận bởi lời đề nghị mà anh ta cho là sỉ nhục mình, Adrien bèn bỏ trở về nhà, định tâm sẽ không mời bất cứ người hàng xóm nào đến dự buổi lễ mừng tân gia sắp tới của anh ta. Thế vào đó, lại chỉ mời “những khách hàng đã chết”. “Các ngài hãy đến cho kịp thời, hỡi các ân nhân của tôi, mời các ngài chiều mai đến dự tiệc ở nhà tôi, nhà có gì, tôi sẽ đem thết đãi hết cho các ngài.”

            Ngày kế tiếp, sau khi đóng cửa hiệu, trở về nhà đương lúc đêm xuống, gã gan dạ kia nhận biết trong căn nhà tầm thường của hắn có rất nhiều bóng ma kinh khiếp ùa tới vây chung quanh. Tất cả những con ma này gã đều quen mặt vì từng là “khách hàng” của gã. Có một con ma Đại tá vừa mới chết, nói với gã: “Thấy không bác Prokorov, theo lời mời của bác, tất cả chúng tôi đều trỗi dậy để đến đây…”

            Khi bình minh đến, gã bán quan tài thức dậy. Nhìn thấy người hầu đang bình thản dọn buổi ăn sáng, gã mới hay rằng cuộc phiêu lưu với những người chết kia chỉ là một giấc mộng dữ.

 

            Chuyện kể thứ tư: “Người Gác Trạm”.

            Một người đàn ông làm nghề gác trạm ngựa, đã lớn tuổi, từ khi góa vợ, chỉ sống với đứa con gái, nàng Dounia xinh đẹp. Hạnh phúc cha con kéo dài cho đến một ngày, có một gã Đại úy Khinh Kỵ binh xuất hiện nơi trạm, quyến rũ Dounia bỏ trốn theo gã.  

            Sau khi theo dấu và tìm ra được kẻ quyến rũ con gái mình, ông già đã bị gã này la mắng một cách hung dữ. Từ đó, ông sống một mình, gậm nhấm trí óc bởi tư tưởng rằng cô con gái yêu một ngày kia sẽ phải bị gã Khinh Kỵ binh bỏ rơi và tự buộc phải sống một cuộc đời ô uế mất sĩ diện. Cuối cùng, vì buồn sầu mà ông uống rượu nhiều quá, nên chết đi. Theo điều này, người kể chuyện thêm rằng, người dân trong tỉnh đã thấy có một phụ nữ xinh đẹp, ăn vận sang trọng, một lần đến ngồi khóc bên mộ ông già.

 

            Chuyện kể cuối cùng: “Cô Tiểu Thư Nhà Quê” mang tính cách giản dị trong sáng. Lise, con gái độc nhất của một vị quý tộc nhỏ trong một tỉnh nọ, tính nết nghịch ngợm hiếu động, ưa bày ra những trò chơi độc đáo. Nàng phải lòng Alexis, một người cùng tỉnh. Cá tật đặc biệt của Alexis là mê gái và cứ ưa theo đuổi chòng ghẹo các cô gái nhà quê. Một buổi, để gặp được Alexis, Lise hóa trang thành một cô gái nhà quê, đón đường Alesix. Hẳn nhiên, gặp nàng, Alesix mê tít. Lise bịa tên mình là Akoulina, con gái của một lão thợ rèn.

            Như đã hẹn, ngày hôm sau họ lại gặp nhau trong cánh rừng. Nhưng do bởi áy náy lương tâm theo hành vi không đoan chính của một cô gái con nhà lành, Lise tuyên bố sẽ không dám đến gặp Alesix nữa. Phần Alesix, thái độ đoan chính của cô gái nhà quê khiến chàng ngạc nhiên nhưng đồng thời lại càng mê mệt theo nàng hơn. Tuy nhiên, cả hai chẳng ai dám nghĩ đến điều kết nghĩa trăm năm; Alesix, do bởi ý nghĩ “dù gì thì chàng cũng không thể cưới một cô gái nhà quê làm vợ.” Lise: bởi biết rõ sự xích mích của hai gia đình và không hy vọng một sự hòa giải.

            Nhưng một buổi sáng, tình cờ mà hai ông già –bố của Alexis và của Lise-- chạm trán nhau và hi hữu trở thành bạn của nhau. Cha Lise quyết định mời hai cha con Alesix đến dùng cơm để kết tình thân. Điều này khiến Lise phát hoảng. Nàng xin cha cho nàng được hóa trang trong cuộc tiếp khách ngày mai. Biết tính ưa nghịch của con gái, cha nàng bằng lòng.

            Ngày kế tiếp, dù trái tim đã trao cho cô gái nhà quê Akoulina, con gái bác thợ rèn, thì trong óc Alesix vẫn mong gặp được cô Lise mà tiếng đồn về cô đã làm gợi tính hiếu kỳ của chàng. Nào dè xuất hiện trước mặt chàng chỉ là một cô tiểu thư xấu xí, rất đỏm dáng, đeo tóc giả, mặt trét đầy phấn. Alexis không thể nhận ra nàng chính là Akoulina.

            Sáng hôm sau, Lise đã có mặt ở nơi hẹn với Alexis, gợi cho Alexis nói về tiểu thư Lise; nhưng Alexis chỉ một luận điệu giễu cợt cô ta.

            Phần hai ông già, tình bạn ngày càng thêm thắt chặt; và họ bắt đầu nghĩ đến điều làm xui gia của nhau. Một bữa, cha của Alexis nói thẳng ý nghĩ muốn, hoặc là cưới cô tiểu thư Lise cho làm vợ chàng, hoặc sẽ truất quyền thừa kế gia sản của chàng nếu chàng từ chối.

            Quả thật Alexis từ chối. Rồi chàng tự nghĩ đến điều cưới cô gái nhà quê Akoulina làm vợ và sẽ cùng nàng tạo dựng bằng chính sức lao động của hai người. Chàng viết thư cho Akoulina hay quyết định này. Ngày hôm sau, chí đã quyết, chàng hăm hở đến nhà cha của Lise với mục đích từ hôn, định bụng giải thích cho ông rõ ý muốn của chàng. Bởi vì chàng đến bất ngờ không báo trước nên ông chủ nhà không biết, đã bỏ đi chơi từ sáng. Bất thần chàng đối mặt với Lise (nàng Akoulina nước da bánh mật của chàng!) đang ngồi bên thềm cửa sổ đọc lá thư chàng vừa gửi hôm qua, chăm chú đến nỗi không nghe ra tiếng chân bước vào nhà của chàng…

            Độc giả có thể tưởng tượng ra kết cuộc của câu chuyện.

 

 

XII.

(Tháng 1/1831 – Tháng 10/1833)

            Tháng 1/1831, Púshkin trở lại Moscow và dàn hòa với gia đình Gontcharova. Ngày hôn lễ được định là 18/2/1831. Chẳng mấy chốc lại xảy ra những xung đột mới giữa Púshkin và gia đình người vợ sắp cưới. Vì vậy, trong ngày cuối năm vui nhộn khi còn ở Boldino, Púshkin đã trải qua với một nhóm người gypsy ca múa. Và vào tuần lễ trước ngày đám cưới, thi sĩ đã viết cho một người bạn rằng, “quyết định thành hôn chỉ là một việc thông thường”, nhưng Púshkin đã làm điều ấy mà “không chút nào say sưa, sung sướng, không cả cái tâm trạng bị bùa mê mù quáng của một thanh niên”; và rằng nhà thơ hẳn rất ngạc nhiên nếu “trong tương lai sẽ gặp được chút nào hạnh phúc.”

            Ngay đêm trước buổi lễ cưới, Púshkin ôm hôn bạn hữu với “một tình cảm cực kỳ buồn bã”. Và chính ngay hôm cưới, 18/2/1831, dẫu có phấn khởi chút ít, nhưng một vài việc rắc rối xảy ra đã khiến cho chú rể giải thích rằng các điều ấy “giống như những điềm xấu của quỷ ma!”

*

* *

            Sau vài tuần lễ hạnh phúc bất ngờ xảy ra ở Moscow, cặp uyên ương trẻ tuổi ổn định đời sống ở Tsárskoye-Sélo, nơi Púshkin từng theo học khi còn bé. Nhà thơ tin tưởng rằng họ có thể sống một cuộc đời đơn giản. Sự thật không như thế. Cuộc hôn nhân thoạt đầu xét theo bề ngoài thì rất hạnh phúc, nhưng bên trong, sự hòa hợp giữa hai người trong cuộc đã không xảy ra. Sắc đẹp của Nathalie làm chóa mắt những người nàng gặp, và Hoàng đế Nicholas I chỉ định cho thi sĩ một chức vụ ngồi không ăn lương ở Bộ Ngoại Giao với số lợi bổng hằng năm là 5.000 rúp để đôi lứa trẻ tuổi có thể hiện diện trong tất cả các buổi dạ vũ của triều đình.

            Hàng loạt các cuộc tiếp tân, vô số những lễ lạc nối tiếp nhau quấy rầy không ngớt đời sống hôn nhân của Púshkin. Trong khi người vợ trẻ tự phóng mình hoàn toàn vào một xã hội quay cuồng của giới quý tộc đô thị thì Púshkin đâm ra bực bội vì cái rào liên hoan đình đám chung quanh đã tàn phá gần hết mọi năng lực sáng tạo của ông. Cậu nhỏ đọc thơ Voltaire và Parny, chàng tuổi trẻ say đắm với biết bao mối tình, con người cô đơn ở vùng đồng quê hẻo lánh Mikhailovskoye, vị trang chủ uy quyền ở Boldino… rốt lại chỉ còn là một gã đàn ông bị buộc phải tùy thuộc vào những ý muốn đòi hỏi vô tận của người vợ trẻ phù phiếm. Những chuyến đi nghỉ ở vùng quê để tìm sự yên tĩnh và cảm hứng sáng tác không còn nữa. Thời gian này, chỉ một đôi truyện bằng thi ca và vài bài thơ trữ tình chào đời mà thôi.

 

            “Roussalka” (Rusalka), bi kịch dở dang, viết năm 1832, xuất bản năm 1837, là câu chuyện kể về cô con gái của một người làm nghề xay bột, bị quyến rũ bởi một hoàng thân, đã tự trầm mình vào giòng sông Dniepr và biến thành một nữ thủy thần. Một ngày kia, nàng gửi đứa con gái nhỏ, sinh ra từ tình yêu xưa của họ, đến kẻ phụ tình lúc ấy đang sắp sửa lấy vợ. Người này, bất thình lình cảm thấy có một sức mạnh quái dị không thể cưỡng, kéo lê ông ta về phía giòng sông.

            Bi kịch của Púshkin ngừng ở đây, trong bối cảnh bên bờ sông chợt thấy ló hiện ra cô con gái của người xay bột đang vẫn còn yêu và đợi chờ người tình cũ.

            Bi kịch này bị đánh giá như bản văn được viết phỏng theo tác phẩm “Das Donauweibchen” của nhà văn Đức Karl Friedrich Gensler. Tuy nhiên, trên thực tế, những đề tài của Púshkin lại luôn được biết như những tham khảo từ truyền thống trữ tình của các bài ca hay huyền thoại Nga. Và “Roussalka” lại thuần túy tính chất địa phương với các nhân dáng điển hình như người xay bột già và buổi tiệc thôn quê rất quen thuộc trong các câu chuyện dân gian ở Nga.  

*

* *

            Mùa thu 1831, chỉ trong vòng một tháng, tác phẩm thi ca kỳ diệu hàng đầu “Viên Kỵ Sĩ Bằng Đồng” đã được chào đời. Bài thơ dùng xưng tụng ngày lễ đăng quang của Đại đế Pierre, người đã kiến tạo nên thành phố Saint-Pétersbourg. “Viên kỵ sĩ” thực sự là một bức tượng bằng đồng đúc to lớn mà Hoàng đế đã cho dựng lên ngay trung tâm thành phố. Nhân vật chính của bài thơ là một chàng thư ký trẻ tuổi tên Evguéni. Trong một đêm mất ngủ, chàng chỉ suy nghĩ đến công việc kiếm ra tiền và đến mối tình của chàng với người yêu tên Paracha. Thình lình có một tiếng động ầm ĩ vang lên. Những cơn gió rít mạnh trên đường phố; giòng sông Neva bị ngập nước y hệt một cơn đại hồng thủy! Evguéni thoát chết bằng cách bám lấy bờm con sư tử bằng đồng, phần duy nhất của bức tượng đang còn nổi bên trên mặt nước. Chàng nhìn thấy trước mặt mình căn nhà bị ngập lụt của người yêu, và, gần đó là “chàng kỵ mã bằng đồng”. Sự đau đớn đã làm cho chàng mất trí. Kể từ đó chàng sống lê lết trong tỉnh, ăn vận rách rưới, vẻ mặt hung dữ, đói khát. Một ngày kia, chàng đi ngang qua bức tượng “viên kỵ sĩ bằng đồng”. Trong một lúc tỉnh táo, chàng nhớ lại mối tình đã mất nên đứng nhìn vào dòng chữ bằng kim khí đề tên Hoàng đế và cấy tiếng mắng chửi dữ dội: “Chính ngài phải chịu trách nhiệm về nỗi đau khổ của tôi bởi vì đã cho xây dựng thành phố này trên một bãi sình lầy.” Từ đó, chàng đâm sợ hãi mà xa lánh mọi người trong nỗi tin tưởng rằng “Viên Kỵ Mã” cứ đeo đuổi để hãm hại chàng… Một ngày sau đó, người ta tìm thấy cái tử thi chàng trên một hòn đảo nơi vùng biển có ngôi nhà của Paracha bị cuốn trong nước.

            “Viên Kỵ Sĩ Bằng Đồng” tuy là một tác phẩm nhỏ nhưng rất hoàn hảo trên nhiều mặt. Những dữ kiện thật được lồng trong những vần thơ mang tính cách vừa hùng tráng vừa ưu nhã, kết hợp với những đoạn kể hư ảo trữ tình, đã khiến bài thơ có được cái cấu trúc thật hài hòa và tuyệt mỹ.

 

            “Hoàng Đế Thổ Nhĩ Kỳ” (Skazka o care Saltane), là một chuyện kể bằng thơ, xuất bản năm 1833.

            Trong một câu chuyện đùa giỡn, ba chị em phát nguyện với nhau. Người thứ nhất nói: “Nếu tôi là hoàng hậu, tôi sẽ làm một đại tiệc đãi tất cả thần dân.” Người thứ hai: “Riêng tôi, dựa theo nghề nghiệp của mình, tôi sẽ dệt áo cho tất cả mọi người.” Nàng thứ ba: “Còn tôi thì sẽ tặng một con ngựa quý cho hoàng đế”. Với những lời sau cùng này, hoàng đế xuất hiện và cưới nàng làm vợ, phong cho hai nàng kia làm đầu bếp và chủ hãng dệt vải.

            Chiến tranh xảy ra. Trong khi vắng mặt hoàng đế, hoàng hậu hạ sanh một hoàng tử. Hai người chị, vì lòng ganh tị, vội cử người đến báo tin cho Hoàng đế hay rằng vị hoàng tử là một đứa con trai quái dị kinh khủng và không ra hình dáng con người. Hoàng đế đáp lời “hãy đợi ngài trở về.” Nhưng hai người chị ngụy tạo lá thư hoàng đế, sửa đổi rằng “ngài ra lệnh cho hoàng hậu phải nhảy xuống biển cùng với đứa bé”. Hoàng hậu đành phải tuân lời. Kỳ diệu thay, hai mẹ con được một con thiên nga giang cánh cứu cho và đưa đẩy họ tắp vào một hải đảo có một thị trấn với phong cảnh rất hữu tình. Tại đây, hoàng hậu và vị tiểu hoàng tử Gviodon được dân chúng đón tiếp,  tôn vinh.

            Phần hoàng đế, sau khi thắng trận trở về, dù cho với những dèm pha của hai bà chị độc ác, một ngày kia ngài vẫn quyết định tìm đến hải đảo thần tiên nơi hoàng hậu và hoàng tử đang lưu ngụ. Vui mừng cực độ khi gặp lại vợ con; ngài đã mở lòng khoan dung tha thứ mà không bắt tội chết hai bà chị độc ác.

 

            Trong khi bị lưu đày tại Mikhailovski, Púshkin đã ứa lệ khi nghe những mẩu chuyện dân gian từ bà vú già. Thi sĩ đã viết cho một người bạn: “Thật đẹp làm sao với những câu chuyện kể! Mỗi câu chuyện đều là một bài thơ!” Rồi, với tài năng thiên phú, Púshkin đã chuyển một trong những “bài thơ” được nghe thành câu chuyện lãng mạn nói trên.

*

* *

            Cũng trong mùa thu 1831, giữa những xô bồ cuộc sống (chiếm chỗ hàng đầu vẫn là sự túng quẫn tiền bạc), giữa những bất đồng vợ chồng ngày càng trầm trọng, Púshkin vẫn hoàn tất được “Evgénij Onégin”, một quyển tiểu thuyết bằng thơ gồm 8 chương, được bắt đầu trong những ngày bồng bột sôi nổi nhất của tuổi trẻ (mùa xuân 1822) và kết thúc trong giai đoạn ê chề đau đớn nhất (mùa thu 1831) của nhà thơ.

            Những nhân vật quan trọng trong tác phẩm là: Evgénij Onégin, một chàng trai phong lưu, xã giao rộng; Vladimir Lenski, chàng thi sĩ lãng mạn; hai chị em Tatiana và Olga Larine; và một nhân vật lúc nào cũng ẩn-mặt-hiện-diện trong câu chuyện, chính là tác giả.

            Evgénij Onégin là một người quý tộc trẻ, mồ côi, được giáo dục theo kiểu Pháp, tính tình hoài nghi, ích kỷ, chán nản trước tất cả mọi sự. Sự thừa kế gia sản từ một người chú để lại, đã thúc đẩy chàng rời bỏ Saint-Pétersbourg đi về đồng quê sống. Nơi đây, cùng với Vladimir Lenski, một địa chủ và cũng là thi sĩ tâm hồn mơ mộng, lý tưởng, Onégin bắt đầu sự lui tới thường xuyên trong ngôi nhà của Madame Larine, đang sống cùng hai con gái: cô Tatiana lãng mạn buồn sầu, và cô Olga sống động vui vẻ. Vladimir Lenski là người yêu của cô Olga.

            Phần Tatiana lại yêu say đắm Onégin và tự thú nỗi lòng với Onégin qua một lá thư nồng nhiệt vô tội. Đáp trả, chàng trai phong lưu lại đưa ra một bài thuyết giáo trên những nguy hiểm mà các cô gái trẻ đang tự chuốc lấy vào mình bằng cách phóng tình cảm họ một cách mù quáng cho đàn ông.

            Rồi để tống khứ mối buồn chán, trong một buổi dạ vũ, Onégin bắt đầu tán tỉnh Olga. Điều này dẫn tới cuộc thách đấu súng của Lenski. Onégin giết chết Lenski.

            Sau nhiều năm giang hồ đây đó, Onégin trở lại Saint-Péters- bourg và hay rằng cô gái tỉnh lẻ Tatiana thuở xưa nay đã thành hôn với một đại tướng và trở nên một phụ nữ cao quý. Onégin đâm ra say mê nàng và theo đuổi nàng trong vô vọng. Chàng viết cho nàng những lá thư; một ngày kia lại tìm đến nhà nàng khi nàng đang ở một mình trong nhà. Tatiana thú nhận với chàng rằng nàng vẫn còn yêu chàng, nhưng đồng thời cũng tuyên bố là nàng không bao giờ phản bội người đàn ông đã đặt tin tưởng vào nàng và đã cưới nàng làm vợ.

 

            Là tác phẩm thi ca dài nhất Púshkin đã sáng tác ra, và cũng là phổ thông nhất trong nước Nga, viết theo thể thức trào phúng của Byron, “Evgénij Onégin” vừa được định giá như một cuốn tiểu thuyết do từ các tình tiết éo le của câu chuyện; vừa cũng là một bài thơ bởi cái cấu kết đượm tính trữ tình đặc biệt của tác giả.

            Được cấu tạo chốc chốc lát lát một cách bất thường suốt trong 8 năm, trên nhiều mặt, “Evgénij Onégin” đã là tiêu biểu rõ rệt cho con người và vận số thăng trầm của Púshkin, phản ảnh từng giai đoạn sống mà cuộc đời đã tác động lên con người thi nhân. Tác phẩm chứa đựng đầy những biến đổi, chuyển tiếp từ các sôi nổi dữ dội qua đến những đớn đau buồn bã; từ sự nhạo báng cay độc qua đến mọi xúc cảm dồi dào. Từng chương đoạn được xuất bản nhiều lần theo từng thời kỳ khác nhau, nhưng bản hoàn hảo chỉ được cho chào đời kể từ 1833. Nổi bật nhất là chương đầu tiên viết vào năm 1823. Phải gọi đó là vòng hoa chiến thắng của một thiên tài vĩ đại, chói ngời hào quang và sôi sục như men rượu champagne, kể lại cuộc sống của một chàng trai phong lưu xứ Pétersbourg, rất thân mật với chính con người Púshkin trước thời gian bị lưu đày xa thành phố.

            Có vài đoạn tẻ nhạt vô ích, nhưng lời thơ thì vẫn luôn luôn quyến rũ bởi cái kỹ thuật diễn đạt tân kỳ của nó. Đặc biệt, cho dù lối dùng chữ hoa mỹ đã không được tìm thấy trong “Evgénij Onégin” thì cũng không phải vì thế mà chất thơ lai láng lại không dội lên trên từng chữ, từng câu.(10) 

 

 

XIII.

(Tháng 10/ 1833—Tháng 6/1834)

            Sau hơn một năm thành hôn, Nathalie sinh hạ một con trai. Năm 1833, thêm một bé gái chào đời. Tình mẫu tử vẫn tuyệt không chút nào làm giảm đi sự hăm hở háo hức trước một bề mặt chói lòa của cuộc sống xã hội trong lòng người đàn bà trẻ. Nhà thơ phải trải qua hết mọi thời giờ của mình trong việc đi hộ tống nàng Nathalie lộng lẫy, cố gắng chịu đựng và kềm giữ tiếng ngáp chán ngán trong các buổi dạ vũ dài như vô tận…

 

            Cuối năm 1833, đến phiên “Con Đầm Bích” (Pikovaja Dama), một trong những sáng tác rực sáng nhất của Púshkin, xuất hiện. Nếu trong văn chương có sự liên hệ giòng giỏi thì tác phẩm này phải kể là được nhìn như một tiền thân xa xôi của “Tội Ác Và Hình Phạt”, một trong những sáng tác vĩ đại của Dostoievski về sau.

            Phỏng theo lối viết Hoffmann(11) “Con Đầm Bích” được nhà thơ cấu tạo trong sự phối hợp một cách tài tình những yếu tố thực tế với các tưởng tượng hoàn toàn. Nhân vật chính, chàng Hermann, có lần nghe người bạn kể câu chuyện về một nữ Bá tước già từng thắng nhiều canh bạc lớn chỉ vì đã nắm trong tay bí mật của ba lá bài. Nhờ thế, bà thoát được ra khỏi tình trạng khó khăn sau khi thua bạc. Hermann là người không bao giờ đánh bạc, nghe xong, liền bị tràn ngập bởi mối ám ảnh muốn chiếm hữu cái bí mật đó của bà Bá tước. Chàng bèn tìm cách xâm nhập vào phòng bà mà uy hiếp, buộc bà phải nói ra bí mật. Quá kinh hoảng, bà Bá tước bất thần gục chết trên ghế, trước khi kịp nói lời gì. Sau đám tang, bóng ma của bà Bá tước hiện lên tại nhà chàng tuổi trẻ để nói cho chàng nghe về bí mật của ba lá bài. Đem thực hành lời chỉ dẫn, với hai lá đầu tiên, Hermann thắng lớn. Nhưng lá thứ ba, ngỡ rằng cũng thắng như hai lá kia, nào ngờ giở ra thì lại là con đầm bích. Do đó chàng thua sạch; rồi trở nên điên.

            Bản văn, trên hết là một sự phân tích rất sắc bén, cẩn thận về nỗi ám ảnh của nhân vật chính; đồng thời là một quan sát sâu xa về những hoang tưởng của chàng. Thuần tính chất nghệ thuật, “Con Đầm Bích” rất được hoan nghênh bởi các nhà văn thuộc phái Lãng Mạn thời ấy. 

         

            Riêng “Dubrovskij”, bi kịch về một chàng trẻ tuổi có tâm hồn cao cả và can đảm, nhưng bị phần số xô đẩy đến chỗ phải trở nên một tên cướp núi. Tác phẩm gióng lên tiếng nói phản đối, chống lại những bất công trong xã hội, là một biểu tượng sáng chói cho các nhà văn theo sau, được viết năm 1832-1833, nhưng mãi đến năm 1841, sau khi Púshkin đã chết, mới được xuất bản.

            Kiril Petrovitch Troekourov, một lãnh chúa giàu có, tính tình tàn ác hống hách, đã từng là bạn của ông Dubrovskij, một vị quý tộc nghèo. Một ngày kia ông Dubrovskij bị sỉ nhục bởi một tên đầy tớ của Kiril, và vì danh dự riêng mà không chấp nhận sự điều đình chuộc lỗi của phía Kiril. Tình bạn trong lòng Kiril chuyển sang oán hận. Lão lãnh chúa bèn xếp đặt một sự trả thù. Lợi dụng sự quen biết với tất cả các viên chức chính quyền sở tại, Kiril thành công trong việc toa rập với các người này để chiếm đoạt tài sản gia đình Dubrovskij bằng những hình thức hợp lệ.

            Phần ông Dubrovskij, do bởi uất ức mà phát điên. Người con trai, Vladimir Dubrovskij lúc ấy đang ở Saint-Pétersbourg, được bà vú già gọi về nhà, kịp lúc nhìn thấy cha ngã chết trên tay mình. Ngay sau đó, những viên chức chính quyền đến tịch biên lãnh địa của chàng. Quá đau khổ, và cũng vì lòng oán ghét hệ thống cai trị thời ấy, chàng nổi lửa đốt trọn căn nhà, không để nó lọt vào tay bọn Kirl. Xong, tụ họp các nông nô và thành lập một băng cướp núi từ đây. Họ cướp phá khắp nơi trong vùng, tiếng tai vang dội, nhưng không ai trừ khử được họ.

            Một ngày kia, Vladimir gia nhập vào căn nhà lão lãnh chúa trong vai trò một giáo sư dạy tư giả hiệu. Tại đây chàng gặp lại Masha, cô bạn thời thơ ấu, con gái vị lãnh chúa. Họ yêu nhau. Và đó là lý do để chàng tha chết cho vị lãnh chúa. Cho đến khi tông tích giáo sư giả hiệu của chàng bị khám phá, chàng bỏ trốn trở lại vào rừng.

            Riêng Masha, bị cha buộc phải làm vợ một nhà quý tộc, nàng cầu cứu Dubrovskij giải thoát cho nàng ngay hôm đám cưới. Nhưng mọi sự quá muộn. Chàng đến quá trễ sau khi nàng đã đeo nhẫn cưới của vị quý tộc trước bàn thờ Chúa. Valdimir đành nhìn giấc mơ yêu đương của mình tan biến như ảo ảnh… Quân lính bao vây đồn trại của chàng nhưng bị đánh tan tành. Sau đó, chàng giải tán đám cướp, tự mình trốn ra ngoại quốc.

 

            Trong câu chuyện lãng mạn này, cũng như trong nhiều câu chuyện khác của Púshkin, độc giả không thể tìm ra kết thúc. Có lẽ nhà văn muốn ngụ ý rằng, trong cuộc đời thực tế, những câu chuyện tương tự đều không thể nào có hậu quả tốt đẹp chăng?

*

* *

            Chức vụ ngồi không ăn lương đã giúp cho nhà thơ có cơ hội lui tới cơ quan lưu trữ văn thư. Nhà thơ bèn lợi dụng điều ấy để trốn khỏi cái vòng xã hội đáng chán ghét để tìm hiểu về lịch sử nước Nga. Đề tài được chọn nghiên cứu là cuộc phiến loạn của Pugatchév tàn sát đẫm máu suốt vùng Đông Nga dưới thời nữ hoàng Catherine II.

            Vào cuối năm 1833, Púshkin trải qua vài tháng thăm viếng vùng Pugatchév ấy. Khi trở lại Moscow trong tình trạng xác sơ không còn đồng xu dính túi, nhà thơ nhận được ngay chiếu truy tặng của Hoàng đế: “Người Phong Nhã Của Khuê Phòng”. Điều này đã làm tổn thương rất nhiều tâm hồn thi sĩ bởi ông biết chắc rằng chiếu truy tặng ấy chỉ là cái cớ để người vợ trẻ đẹp của ông có thể hiện diện bất cứ lúc nào trong các buổi vũ hội của triều đình.

            Lúc bấy giờ, nhà thơ đã biến thành một triều thần của Hoàng đế, tùy thuộc càng nhiều hơn vào những ơn huệ vua ban, đặc biệt là kể từ khi ông mắc phải món nợ lớn với ngân khố nhà nước. Púshkin cảm thấy nghẹt thở trong cái xã hội mà một thi sĩ –dù với 600 năm giòng giõi quý tộc và một tiếng tăm lừng lẫy—vẫn chỉ bị nhìn như một kẻ bề tôi của đám công hầu cổ hủ từ thế kỷ 18; hơn nữa là người chồng của một đệ nhất mỹ nhân thời ấy. Nhà thơ ghét bộ đồng phục triều đình mà ông cho rằng chẳng khác nào bộ quần áo sặc sỡ của một anh hề; ghét xã hội quý phái có ông đang dự phần; gọi nó là một tổ hợp sa đọa. Ông cố tự thoát ra ngoài cái vòng tròn độc hại này, nhưng cũng tự hiểu rằng nếu từ bỏ kinh thành thì chính ông cũng sẽ tức khắc bị loại trừ ngay.

            Một cách tệ hại, mọi sự việc lúc bấy giờ đi từ chỗ tàn tệ đến chỗ hư nát. Cha Púshkin bị phá sản và thi sĩ đành chấp nhận thêm cái gánh nặng quản lý mọi hoàn cảnh sống của gia đình song thân. Ngoài ra, cũng chẳng có cách nào dành dụm những món tiền kiếm được từ ngòi viết của mình. Và để sáng tác, cần phải có thì giờ rỗi rảnh; điều ấy lại thật hiếm trong cuộc sống khi ấy của thi nhân.

            Riêng Nathalie thì lại không hề nghĩ đến điều tự chôn vùi cuộc đời trong xó xỉnh của một tỉnh lẻ. Và cả chính Púshkin cũng không thể làm mất lòng Hoàng đế bằng cách trốn về đồng quê mà sống. Những điều này quả thật là một cái vòng lẩn quẩn làm điên đầu thi sĩ. Thêm vào những phiền toái ấy, Púshkin khám phá ra rằng những lá thư gửi cho vợ hoặc bạn bè đều bị cảnh binh bóc ra trước khi đến tay họ.

 

 

XIV.

(Tháng 6/1834–Tháng 5/1836)

            Tháng 6/1834, Púshkin làm đơn xin rút lui khỏi cái nhiệm sở bù nhìn chỉ làm bẽ mặt cho ông. Toan tính của nhà thơ trở nên vô ích khi lá đơn không được Hoàng đế phê chuẩn.

            Năm sau, 1835, Púshkin lại làm một cố gắng khác để tự giải phóng ra khỏi hoàn cảnh rối rắm hiện tại. Thi sĩ trình bày thật cho Hoàng đế biết rằng trong cuộc sống hôn nhân, ông đã thiếu nợ lên đến 60.000 rúp và cầu xin được phép vắng mặt trong bốn năm để có thể tự do sáng tác, từ đó hồi phục lại tài sản và cuộc sống. Để trả lời, Hoàng đế chỉ chấp thuận cho thi sĩ vắng mặt trong bốn tháng và cấp cho vay số tiền 35.000 rúp như một hình thức giữ chân Púshkin lại dưới sự kiểm soát của triều đình. Púshkin càng gắng sức thoát ra thì lại càng cảm thấy vướng mắc chặt chẽ hơn trong cái xã hội mà ông vô cùng chán ghét. Thêm vào đó, vấn đề tiền bạc lúc nào cũng vây khốn đầu óc. Thi sĩ nợ nần tứ phía, ngay cả nợ người hầu riêng. Tất cả những vật dụng giá trị trong nhà đều lần hồi bị đem cầm cố. Thi sĩ đâm ra cáu kỉnh và già hẳn người đi.

            Năm 1835, đặc biệt Púshkin không viết gì được ngoài một vài bài thơ nhỏ và bản văn “Những Đêm Hy Lạp” (Egipetskie noci). Tcharski, một thi sĩ “thời thượng” tìm kiếm trong vô hiệu một phương thế để chạy trốn những điều khó chịu tạo ra từ danh vọng. Một ngày kia, chàng gặp một nhà văn Ý nghèo đói, tự giới thiệu mình là kẻ có tài ứng khẩu thành thi. Cảm động bởi hoàn cảnh của người này, Tcharski bèn đứng ra tổ chức một đêm dạ tiệc với ý định giới thiệu anh ta như một nhân vật nổi bật. Buổi tiệc chấm dứt với sự yêu cầu nhà văn Ý ngẫu hứng một cái gì đó dựa trên những mối tình của Cléopâtre. Chàng ta bèn xướng lên câu chuyện về những đêm khoái lạc nhục dục của vị nữ hoàng với những ai chấp nhận là sẽ bị chém đầu vào sáng hôm sau.

            Bởi tính tự nhiên của sự cảm hứng và sự tao nhã trong thể cách, bài thơ ngẫu hứng trong tác phẩm được đánh giá là một trong những bài hay nhất Púshkin đã từng viết ra.

*

* *

            Tư tưởng Púshkin trở nên nghèo nàn, sức sáng tác giảm sút hẳn và gần như đi đến chỗ tê liệt (trong khi trước đó chẳng bao xa, nhà thơ đã cho chào đời những vần thơ tuyệt diệu nhất nước Nga). Có phải rằng các nhà phê bình đã quên lãng Púshkin? Hay chính thi sĩ đã tự vùi chôn lấy mình?

            Bước khởi đầu của năm 1836 mang đến cho nhà thơ đau khổ một tia hy vọng nhỏ. Từ lâu, Púshkin vẫn muốn xuất bản một tập san nghệ thuật. Sau rất nhiều lần hoãn đi hoãn lại, ông được nhà nước cho phép thực hiện điều ấy. Tờ tạp chí mang tên Sovremennik, xuất bản định kỳ ba tháng một lần. Thi sĩ hy vọng, với điều này, ông có thể thu được một số tiền để trả dần số nợ đã vay và giải thoát khỏi sự lệ thuộc vào Hoàng đế. Ông tự tay trang trí tờ báo, viết những đề mục đặc biệt và cho đăng những sáng tác chưa bao giờ được xuất bản. Ông cũng nhận được sự đóng góp bài vở của một nhóm nhà văn mới khác, trong số có cả Gogol, nhưng chủ yếu vẫn là những nhà văn thế hệ cũ.

            Dẫu đã tự ép mình vào trong một thứ khuôn mẫu, Púsh- kin vẫn cảm thấy rõ ràng được vấn đề kinh doanh trên tờ tạp chí đã đem cho nhà thơ biết bao nhục nhã. Ông càng cố gắng nhiều hơn để bảo tồn tên tuổi danh tiếng tạo dựng bấy lâu và nay lưu lại cho con cái (lúc ấy đã lên tới bốn đứa). Trong một lá thư viết cho vợ quãng thời gian này, thi sĩ tự than rằng mình là một kẻ có tài và có tâm hồn mà phải chào đời trên đất Nga, thành ra cái tài và cái tâm hồn kia chẳng có cơ may vùng vẫy.

            Tháng 5/1836, Púshkin đã công khai khước từ cuộc thách đấu súng của một gã quý tộc vì những lăng nhăng vung vít giữa Nathalie và gã. Khác với cả một thời tuổi trẻ bồng bột sôi nổi, lúc ấy, hơn bao giờ, Púshkin chỉ còn chứng tỏ là một con người bị trói cả hai tay trước những tai ương mà định mệnh không ngừng đổ dồn lên ông.

            Mùa hè 1836 đối với Púshkin thật buồn thảm. Tờ tạp chí ---cũng giống như bao nhiêu công việc và sáng tác kể từ 1830—rõ ràng thất bại. Số lượng xuất bản định kỳ ba tháng đã không đủ tiêu chuẩn giống như Púshkin từng đưa ra. Thêm nữa, có những độc giả nói lên cảm tưởng rằng trong hàng ngũ các nhà văn tiền phong, Púshkin đã không còn chỗ đứng. Ngoài ra, tiền bạc vẫn là điều luôn luôn thiếu thốn trong cuộc sống nhà thơ. Những món nợ ngày càng gia tăng và nhu cầu của những người thân không ngừng đòi hỏi nơi thi sĩ.

            Khi mùa thu đến, Púshkin bỏ không đi về miền quê như thói quen từ trước. Dù vậy, bằng một cố gắng bất ngờ, tháng 10/1836, Púshkin cho chào đời Con Gái Viên Đại Úy” (Kapitanskaya doc’ka), tác phẩm đã đem lại cho thi sĩ tầm vóc của một nhà văn lớn trong văn học Nga.

            Trên thực tế, đây là sáng tác cuối cùng Púshkin đã viết khi đang còn sinh thời. Một cuốn tiểu thuyết lịch sử xuất bản thành tập nhỏ được đăng trên tạp chí Hiện Đại vào năm 1836, mô tả cuộc nổi dậy đẫm máu của Pugatchév dưới triều đại nữ hoàng Catherine II. Qua những cuộc phiêu lưu của chàng sĩ quan trẻ Grinev và người hầu trung tín Savéllitch, Púshkin đã bày ra trước mắt độc giả sự huy hoàng của một bản văn với lời lẽ gọn gàng nhưng đầy hoa mỹ xúc tích. Chúng ta có mặt ngay từ buổi xuất hành đầu tiên của chàng Trung úy và người hầu khỏi căn nhà cha mẹ để đến đồn Bélogorsk xa xôi, nơi Grinev phải thi hành bổn phận quân sự. Tiếp theo là sự gặp gỡ giữa Grinev với Maria Mironova, con gái viên đại úy đồn trưởng; cuộc đấu súng với một kẻ thù (là chàng Chvabrine tương lai); sự vây bủa và sự chiếm lãnh đồn lũy bởi người nổi loạn tên Pugatchév. Người này cứu thoát cuộc đời Maria và ngay cả cứu chàng trẻ tuổi Grinev mà hắn vừa mới nhận biết ra là kẻ đã từng một lần tặng cho hăén cái áo khoác ngoài. Tiếp theo là sự kiện Grinev bị bắt giữ và bị buộc cho cái tội đại nghịch mưu phản đã cố ý liên lạc với những kẻ nổi loạn. Cuối cùng, nhờ lời cầu xin của Maria lên nữ hoàng Catherine II mà chàng sĩ quan được tha bổng.          

 

            Người ta có thể hiểu tại sao Tolstoi sau này đã cho “Con Gái Viên Đại Úy” là tác phẩm văn xuôi lớn nhất của Púshkin. Trong khung cảnh của một tỉnh lỵ xa xôi ở Nga thế kỷ 18, những hành động của các nhân vật và những biến cố lịch sử được miêu tả dưới một ngòi viết bậc thầy đã đem lại cho tác phẩm cái đặc tính quen thuộc của một cuốn biên niên sử đầy sinh khí tư liệu. Kể từ đó, khuôn dáng nữ hoàng Catherine II và kẻ nổi loạn Pugatchév đã vô tình đi vào thực tế suy nghĩ của người dân Nga một cách đầy thu hút.

            Cho dẫu vẫn còn phôi thai, thảng hoặc pha trộn tính chất cường điệu, và cuối cùng bị bỏ dở dang, trên nhiều cách, tác phẩm “Con Gái Viên Đại Úy” đã mang cùng phẩm chất của một “Chiến Tranh Và Hòa Bình” của Léon Tolstoi sau này. Sự cân xứng, nét đặc sắc, tính quả quyết và lời văn đơn giản mộc mạc trải suốt từ đầu đến cuối tác phẩm đã là những yếu điểm gây tác động tài tình trên nhiều thế hệ văn sĩ kế tiếp của nước Nga.

  

     

XV.

(Tháng 5/1836–Tháng 1/1837)

            Kể từ đầu xuân 1836, những kẻ ngồi lê đôi mách trong tỉnh đã gắn liền cái tên Nathalie Púshkin vào với tên George d’Anthès, gã trẻ tuổi bảnh bao người Pháp, con nuôi Nam Tước Heeckeren, một nhân viên trong Bộ Ngoại giao của triều đình Nga. Mặc dù Púshkin tin tưởng vợ, nhưng tính đỏm dáng của Nathalie cùng sự tán tỉnh dai dẳng của gã người Pháp đã tạo ra trong cuộc sống nhà thơ một sự khó chịu càng nhiều hơn. Tinh thần Púshkin bị phân tán vì ghen và vì bị xúc phạm tự ái. Ông không thể làm được việc gì, lúc nào cũng như đang ở vào tình trạng bị khích động cao độ. Gã người Pháp, trong việc đeo đuổi Nathalie, xem ra đã được cha đỡ đầu trợ giúp bằng cách trải dài dư luận rằng Nathalie có liên hệ tình cảm với vị đương kim Hoàng đế. Những kẻ gièm pha thì lại hàm hồ thổi phồng lên những cuộc cãi nhau giữa vợ chồng Púshkin.

            Ngày 4/11/1836, Púshkin nhâïn được một lá thư nặc danh với những lời như sau: “Tất cả các nhân vật quyền thế, các vị chỉ huy cao cấp và các nhà quý tộc của cái hội đoàn vẻ vang mang tên ‘những kẻ bị cắm sừng’ cùng nhau nhóm họp lại trong một đại hội nghị. Dưới sự chủ tọa của vị chủ tể tối cao –ngài Narychkine, tất cả đều nhất trí bổ nhiệm ông Alexander Sergéyevich Púshkin vào chức vụ sử gia và phụ tá giám đốc của hội ‘những kẻ bị cắm sừng.’”

            Narychkine là người chồng của bà nhân tình chính thức của cố Hoàng đế Alexander I.

            Tất cả bạn hữu Púshkin đều nhận được bản sao lá thư này. Thi sĩ điên lên vì bị sỉ nhục. Ông nhanh chóng tìm biết được xuất xứ lá thư ấy từ giới Ngoại giao và nghi ngờ tác giả chính là Nam tước Heeckeren.(12)

            Không thể thách thức Nam tước đấu súng, Púshkin đành phải thách qua con nuôi Nam tước, gã người Pháp George d’Anthès. Cuộc thách đấu được nhận. Nhưng sau đó chính Púsh- kin là người rút lại lời khi hay rằng một hôn lễ sẽ được cử hành giữa cô em vợ nhà thơ –Catherine Gontcharova—và địch thủ của ông vào ngày 13/1/1837 sắp đến. Trước những sự kiện này, Púshkin tuyên bố, trong việc cầu hôn Catherine, d’Anthès đã hành sử như một người đàn ông có danh dự. Nhưng tự lòng riêng, nhà thơ vẫn tin rằng cuộc hôn nhân chỉ là ngón trò hèn nhát của gã người Pháp, hoặc chủ tâm hơn, một hình thức để gã che đậy cho sự liên lạc ám muội vẫn âm thầm xảy ra giữa gã với Nathalie.

            Thật vậy, sau lễ cưới, d’Anthès lại tiếp tục đeo đuổi bà chị vợ một cách trơ trẽn, có sự tiếp tay ngấm ngầm của Nam tước Heeckeren. Không còn có thể tự trấn tĩnh nữa, Púshkin bèn gửi đến Nam tước một lá thư đầy những lời lẽ thống mạ. Gã người Pháp chẳng thể lùi bước được. Lần này, chính gã thách Púshkin đấu súng.

            Cuộc quyết đấu được ấn định vào ngày 27/1/1837.

*

* *

            Trong một bài tường thuật, thi sĩ Joukovski đã mô tả về cuộc đấu súng như sau:

            Ngày 27/1/1837, vào lúc bốn giờ chiều, một chiếc xe trượt băng lướt đi về hướng Sông Đen. Cả thành phố Pétersbourg đều phủ đầy tuyết trắng. Trong cái xe trượt ấy có Púshkin và Đại tá Danzas, người làm chứng cho nhà thơ. Một cái xe trượt khác đi ngược hướng với xe kia, trên chở Nathalie Púshkin. Hai vợ chồng không nhìn nhau.

            Địa điểm được chọn là giữa cánh rừng, gần ngôi nhà của một vị thiếu tá. Lập tức ngay sau đó, một chiếc xe kéo có hai người đàn ông ngồi, từ trong làng tiến ra. Đó là d’Anthès và người làm chứng cho gã. Cả ba xe dừng lại gần như cùng một lúc; mỗi chiếc quay đầu về một hướng. Tuyết ngập đến tận đầu gối.

            Sau khi chọn xong vị trí, hai người chứng và luôn cả d’Anthès phải giậm mạnh chân lên nền tuyết trắng để mở ra một con đường cho hai địch thủ tiến bước dễ dàng trong khi giao đấu. Riêng Púshkin, ngồi lặng yên trên một gò tuyết, nhà thơ quan sát sự sửa soạn này với một thái độ hoàn toàn dửng dưng. Cuối cùng, con đường nhỏ vừa đủ rộng cho một bước chân và dài khoảng 20 bước đã được hình thành. Người ta đánh dấu biên giới mỗi phía bằng những cái áo khoác ngoài được trải ra. Đồng thời, khoảng cách từ người này sang người kia được định là 10 bước. Từ vạch biên giới lùi lại năm bước là chỗ đứng của mỗi địch thủ.

            Khi Đại tá Danzas giở mũ ra, Púshkin và d’Anthès cùng tiến lên phía trước. Púshkin gần như đến sát vạch giới hạn của mình. D’Anthès nổ súng ngay vào thi sĩ. Púshkin ngã xuống, mặt úp vào cái áo khoác dùng làm rào cản, cây súng văng khỏi tay, cắm sâu vào tuyết.

            “Tôi bị thương rồi!”, thi sĩ kêu lên.

            D’Anthès có vẻ như muốn tiến đến gần nhà thơ. Púshkin cố hết sức trấn tĩnh mà phản đối:

            “Đừng di động! Tôi vẫn còn đủ sức bắn phát súng của tôi mà!”

            Đại tá Danzas đưa cho nhà thơ cây súng khác. Púshkin nghiêng mình nằm xuống trên cánh tay trái, nhắm vào địch thủ và bắn. Lúc bấy giờ, đến lượt d’Anthés ngã xuống. Tuy nhiên, gã chỉ bị thương nhẹ. Viên đạn sau khi xuyên qua những phần thịt của cánh tay mặt, đã đụng phải một cái nút áo. Chính cái nút áo ấy đã cứu sống gã.

            Púshkin khi nhìn thấy địch thủ quỵ xuống, liền ném cây súng lên không trung rồi la lớn: “Hoan hô!”

*

* *

            Thi sĩ bị thương trầm trọng.

            Hoàng thân Viazemski kể lại:

            Sau một cơn ngất lịm ngắn, Púshkin tỉnh dậy trên bãi chiến đấu và hỏi:

            “Có phải tôi giết chết hắn rồi không?”

            Chẳng ai trả lời. Thi sĩ nói tiếp, giọng buồn rầu:

            “Thật lạ kỳ, tôi tưởng điều giết hắn sẽ làm tôi thích thú nhưng thật thì không đúng như vậy.”

*

* *

            Púshkin vật lộn hai ngày ròng rã với Thần Chết. Bác sĩ Scholz, trong một bài tường thuật, đã viết rõ ràng về cuộc thăm viếng của ông bên giường nhà thơ sắp chết như sau:

            Ngày 27/1/1837, vào lúc 6:15 chiều, Đại tá Danzas mời tôi đến xem xét cho Alexander Sergéyevich Púshkin lúc ấy đang bị thương trầm trọng. Bác sĩ Zadler cùng đi với tôi. Thoạt bước vào thư phòng đã thấy thi sĩ được nằm trên divan, chung quanh là ba người: Nathalie Púshkin, Đại tá Danzas và ông Pletnev. Nhà thơ khẩn cầu người ta mời vợ và các người thân ra khỏi thư phòng trong khi các bác sĩ thăm dò thương tích. Thoáng thấy tôi, nhà thơ giơ tay ra nói:

            “Thật xui cho tôi quá!”

            Sau khi xem xét bệnh trạng, bác sĩ Zadler bỏ đi ra ngoài tìm những dụng cụ y khoa. Bằng một giọng quả quyết và rành mạch, Púshkin hỏi tôi:

            “Bác sĩ nghĩ sao về vết thương? Tôi cảm thấy trong khoảnh khắc của tiếng nổ, có một cú đau ghê gớm nơi mạn sườn và một vết bỏng ở chỗ thắt lưng. Trong khi di chuyển về đây, máu trong cơ thể tôi đã chảy ra như suối. Xin bác sĩ thành thật cho tôi biết tình trạng đúng đắn của tôi hiện tại ra sao?”

            Tôi đáp:

            “Tôi không giấu rằng vết thương quả nhiên trầm trọng.”

            “Có đến nỗi chết không?”

            “Trên cương vị riêng, tôi không dám chối điều ấy. Nhưng chúng ta hãy chờ ý kiến của bác sĩ Adrendt và bác sĩ Salomon mà người ta đang cho đi mời xem sao đã.”

            Tôi đặt một miếng băng mới lên vết thương. Púshkin vừa đưa tay xoa nhẹ vầng trán vừa nói:

            “Xin cảm ơn bác sĩ đã hành xử với tôi trên phong cách của một người trọng danh dự. Tôi đành phải tùy thuộc vào những sự sắp xếp…”

            Nhà thơ bỏ dở câu nói, lặng im vài phút, lại bày tỏ:

            “Dường như tôi đã mất rất nhiều máu?”

            Tôi xét nghiệm vết thương. Xem ra khó lòng qua khỏi. Tôi đặt một mếng băng khác và hỏi Púshkin:

            “Ông có muốn gặp ai trong số bạn bè thân không?”

            “Vĩnh biệt các bạn”, Púshkin vừa kêu nhỏ, vừa nhìn lên tủ sách của mình. “Có phải bác sĩ nghĩ rằng tôi sẽ không sống nổi trong vòng một giờ nữa?”

            “Ồ, không phải vậy. Tôi chỉ nghĩ là ông sẽ thích thú nếu như được gặp người nào đó. Ở đây hiện đang có mặt ông Pletnev.”

            “Tôi muốn gặp Joukovski. Xin cho tôi miếng nước. Tôi thấy đau nơi lồng ngực.”

            Tôi bắt mạch Púshkin. Bàn tay đã thấy lạnh và mạch yếu hẳn giống như trong những trường hợp nội xuất huyết. Tôi bước ra khỏi phòng để tìm một ly nước và cho người đi gọi Joukovski. Đại tá Danzas đến bên cạnh người bị thương. Trong chốc lát, các bác sĩ Zadler, Arendt và Salomon cùng có mặt. Tôi giã biệt Púshkin, lòng nghe buồn vô hạn. Bàn tay nhà thơ xiết chặt tay tôi trong cái cách vô cùng thân mến.”

*

* *

            Spassky, bác sĩ riêng của Púshkin, cũng đã viết về những giây phút cuối cùng của nhà thơ như sau:

            Ngày 29/1/1837, tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết được tình trạng nguy kịch của Púshkin.

            “Tệ thật anh ạ”, thi sĩ nói trong khi giơ tay cho tôi bắt.

            Tôi cố gắng làm yên lòng Púshkin. Anh phác một cử chỉ như bảo cho tôi biết rằng anh đã hiểu rõ sự nghiêm trọng của hoàn cảnh lúc ấy. Và anh bày tỏ:

            “Tôi xin anh đừng tạo cho vợ tôi những nỗi hy vọng vô ích. Đừng giấu cô ta cái gì cả. Anh đã biết cô ta khá rõ: đó không phải là một nữ kịch sĩ, mà là người muốn biết tất cả. Phần tôi, xin hãy làm cho tôi những gì anh thấy cần thiết. Tôi bằng lòng theo ý anh và sẵn sàng với mọi chuyện.”

            Những bác sĩ khác, khi cáo biệt, đã ủy nhiệm người bị thương vào sự chăm sóc của tôi. Suốt buổi tối, Púshkin cứ lập đi lập lại mãi những câu hỏi. Ví dụ:

            “Mấy giờ rồi?”

            Tôi chưa kịp đáp thì anh đã tiếp:

            “Tôi còn phải chịu đựng đau đớn đến bao lâu nữa?… Ồ, xin mọi sự qua nhanh đi, tôi van anh làm cho chóng chấm dứt đi!”

            Thỉnh thoảng anh kêu nhỏ (trong khi giơ tay vòng lên sau gáy):

            “Thật buồn quá! Trái tim tôi như thắt lại.”

            Rồi anh xin tôi đỡ anh nằm nghiêng và xếp lại cái gối, nhưng làm chưa xong điều này đã thấy anh ngăn lại:

            “Như thế tốt lắm… Hoàn hảo… Đủ rồi… Tốt!”

            Hoặc hơn nữa:

            “Khoan, ngừng lại đã. Kéo tôi ra một chút… Nơi tay này này… Đó!... Tốt lắm!”

            Nói chung, anh tỏ ra nhẹ nhàng ngoan ngoãn như một đứa trẻ dễ bảo và bằng lòng làm theo những gì tôi yêu cầu. Có lúc mạch của anh trở lại điều hòa. Tôi như người chết đuối vớ được cọng rơm làm lẽ sống. Vào giây phút ấy, nhìn thấy vẻ yên tâm của tôi, Púshkin đã hỏi:

            “Có ai ở đây không”

            Tôi đáp chẳng ai hết. Anh tiếp:

            “Hãy cho tôi biết sự thật: Có phải tôi sắp chết không?”

            Tôi đáp:

            “Chúng ta vẫn còn hy vọng, Alexander ạ. Thật vậy đó, đừng tuyệt vọng! Tin tôi đi!”

            Anh nắm chặt tay tôi và nói:

            “Trong trường hợp này, tôi cảm ơn anh.”

            Đó là lần duy nhất Púshkin dường như để cho mình bị dụ hoặc; còn lại, trước và sau đó, anh không ngừng hỏi:

            “Có phải chẳng bao lâu tôi sẽ chết?”

            Rồi lại thêm:

            “Trời ơi, nếu thật vậy, xin cho chết mau đi.”

            Đột nhiên, Púshkin nhớ đến Gretch và bảo tôi:

            “Nếu anh gặp Gretch, xin hãy chào giùm tôi và nói rằng tôi thành thật chia xẻ nỗi đau khổ cùng anh ấy.”(13)

            Theo nguyện vọng của cha mẹ và bạn hữu Púshkin, tôi ngỏ ý với anh về nghi lễ cuối cùng của một tín đồ Thiên Chúa giáo. Anh thản nhiên đồng ý. Tôi bèn đi ra hỏi các người thân của Púshkin:

            “Quý vị muốn mời vị giáo sĩ nào?”

            “Vị nào ở gần đây nhất”, họ đáp.

            Người ta cho đi đón cha Piotr, hiện đang là chánh xứ nhà thờ Koniochennaia.

            Bác sĩ Arendt trở lại lúc 8 giờ tối. Tôi để ông một mình với kẻ bị thương. Cùng lúc ấy, vị giáo sĩ xuất hiện và cho hành lễ ngay. Púshkin xưng tội và chịu phép ban thánh thể.  Khi trở vào bên cạnh, tôi nghe Púshkin hỏi:

            “Vợ tôi thế nào?”

            Tôi đáp, bà ấy trông bình tĩnh chút ít. Púshkin chua chát tiếp lời:

            “Tôi biết cô ta đau khổ. Không chối cãi gì được. Cô ta có thể còn tiếp tục đau khổ vì những lời phỉ báng của giới đàn ông.”

            Anh lại hỏi:

            “Arendt chưa bỏ đi sao?”

            Tôi trả lời, bác sĩ Arendt vẫn còn đó. Púshkin không nhìn tôi, nói một mình:

            “Hãy cầu nguyện cho Danzas… Cho Danzas. Đó không chỉ một người bạn, mà còn là một người anh của tôi.”

            Tư cách quý phái kiêu hãnh vẫn không rời nhà thơ cho dù thỉnh thoảng anh vẫn nhè nhẹ kêu đau nơi bụng trên và khuôn mặt trở nên ngây dại trong chốc lát.

            Lúc 11 giờ khuya, bác sĩ Arendt cáo biệt, dặn riêng tôi phải cho người đi tìm ông ngay trong trường hợp cần thiết.

            Tôi hỏi Púshkin có muốn sắp xếp trù liệu gì không? Anh đáp:

            “Mọi cái gì của tôi, xin để lại cho các con tôi. Làm ơn gọi Danzas giùm!”

            Danzas bước vào. Púshkin muốn được ở riêng với Đại tá để gửi gắm tất cả các món nợ cũ còn mắc.

            Vào khoảng 1 giờ sáng, những vết đau nơi bụng Púshkin trở nên dữ dội hơn. Chẳng bao lâu, sự đau đớn biến thành cực độ. Tôi cho đi tìm bác sĩ Arendt. Ông đến ngay sau đó. Thi sĩ oằn người như không chịu nổi, khuôn mặt biến đổi hẳn, cái nhìn hung tợn, đôi mắt trông thật kỳ dị, nơi trán đầm đìa mồ hôi, đôi bàn tay lạnh ngắt và luồng mạch rối loạn.

            Thế nhưng, thái độ cao quý bày ra trước mắt mọi người đã nói lên tất cả sự vĩ đại trong con người anh: thay vì sắp sửa phải hét lớn vì cơn đau dữ dội, nhà thơ lại dùng tất cả nghị lực mà ghìm xuống trong những tiếng rên nho nhỏ, khuôn mặt ngây dại hẳn.             Bác sĩ Arendt bảo anh:

            “Phải cố đau một chút bạn ạ. Chúng tôi không thể làm gì được. Đừng gắng sức kềm hãm như thế, cứ hét lớn đi, điều ấy sẽ làm bạn đỡ đau hơn.”

            Púshkin trả lời bằng một giọng đứt quãng:    

            “Không, không được. Vợ tôi có thể nghe tiếng hét. Tôi không muốn làm cô ta sợ. Vả lại, điều ấy lố bịch lắm.”

            Cuối cùng, sự đau đớn biến mất nhưng hai bàn tay nhà thơ vẫn lạnh ngắt và luồng mạch yếu hẳn.

            Tiếng đồng hồ gõ một giờ rưỡi sáng. Púshkin mở mắt đòi ăn quýt. Khi người ta mang quýt đến, anh nói bằng một giọng rõ ràng:

            “Xin cho gọi vợ tôi!”

            Tôi đi ra mời Nathalie. Với tiếng hét xé tai, bà ta ném mình về phía nhà thơ. Cái cảnh ấy làm ứa nước mắt tất cả những người hiện diện. Nathalie quỳ gối úp mặt vào trán chồng. Púshkin vuốt ve mái tóc của vợ và nói:

            “Nào, nào, có gì đâu!... Cảm ơn Chúa, mọi sự sẽ tốt đẹp thôi!”

            Thái độ cao quý vẫn không phản bội nhà thơ dù rằng trong những khoảnh khắc hiếm hoi, tình trạng nửa mê nửa tỉnh đã làm mờ đi lý trí người hấp hối. Anh đưa tay cho tôi, xiết chặt và thì thầm:

            “Hãy đỡ tôi dậy… Cao lên!... Cao lên  nữa!...”

            Trông Púshkin có vẻ tỉnh táo chút ít. Anh nói với tôi:

            “Tôi mơ rằng sẽ được cùng anh đi dọc theo các hàng sách của thư viện, rồi đi vòng trở lại…”

            Trong chốc lát, anh không mở mắt, nhưng bàn tay quờ quạng đưa ra nắm lấy tay tôi và nói:

            “Nào, chúng ta cùng đi, tôi van anh!”

            Tôi hỏi nhỏ bên tai anh rằng có muốn gặp bạn bè không. Anh đáp:

            “Vâng, gọi tất cả bọn họ vào.”

            Joukovski, Hoàng thân Viazemski, Tourgueniev và Đại tá Danzas từng người lần lượt đến bên Púshkin và cùng nhà thơ nói lên những lời vĩnh biệt đầy đau đớn.

            Joukovski hỏi Púshkin:

            “Tôi phải nói gì với đức Hoàng đế?”

            Púshkin trả lời:

            “Nói với ngài tiếc rằng tôi phải chết. Nhưng tôi cũng đã hết lòng với Hoàng thượng thời gian qua.”

            Pletnev và Karamzine cùng bốn đứa con nhỏ của Púshkin bước vào. Anh chúc phúc cho từng người một. Trong im lặng, tất cả các người bạn, người thân đều đứng bao chung quanh giường kẻ hấp hối, hai cánh tay vòng trước ngực.

            Đột nhiên, giống như một người vừa giật mình thức giấc, Púshkin mở mắt ra, khuôn mặt sáng lên và nói:

            “Hết rồi! Cuộc đời!”

            Tôi không hiểu, nhẹ nhàng hỏi lại:

            “Anh bảo gì thế?”

            “Sự sống đã hết!”, Púshkin đáp với một giọng rõ ràng đầy xác tín.

            Tôi nắm bàn tay anh bắt mạch, Khi tôi buông nó ra, anh tự đặt những ngón của bàn tay trái lên động mạch bàn tay phải, ném cái nhìn đầy ý nghĩa về phía tôi và nói nhỏ:

            “Tôi thấy khó thở… Thần Chết đã đến!”

.. .. ..

            Đó là những lời cuối cùng nhà thơ vĩ đại của nước Nga đã nói ra. Khi ấy là 1:45 sáng ngày 29/1/1837.

            Thế rồi cái chết tràn ngập căn phòng. Cái chết bao trùm lên thân xác nhà thi sĩ tài hoa mệnh bạc. Cái chết giải thoát ông khỏi những phiền toái của Beckendorff, khỏi gánh nặng ơn nghĩa của Hoàng đế Nicholas I, khỏi sự đau đớn bởi những tầm phào nông cạn trong cá chất Nathalie, khỏi các âm mưu ác hiểm của giới quyền quý triều đình lúc ấy, khỏi luôn sự lụn bại yếu đuối của chính nhà thơ.

            Púshkin đã yêu cuộc đời quá nồng nàn, gắn bó với cuộc đời quá thắm thiết, cho nên, mặc dù được làm phép thánh lần cuối, người ta vẫn không thể đoan chắc rằng nhà thơ thoải mái trong sự tin tưởng về một kiếp sống nào khác ở thế giới bên kia.

*

* *

            Kể từ sau cái chết cho đến lúc đưa linh cữu Púshkin về giáo đường, đã có rất nhiều đoàn thể và gần năm mươi ngàn dân chúng trong đủ mọi giai cấp từ khắp các nơi trên đất Nga, bỏ cả công việc, đời sống, để lần lượt hiện diện quanh ngôi nhà người quá cố. Trong giới Ngoại giao của triều đình, chỉ có ông De Barante, đại sứ Pháp ở Saint-Pétersbourg là người độc nhất đến nghiêng mình trước quan tài nhà thơ. Người ta ném đá làm bể nát các cửa sổ ngôi nhà Nam tước Heeckeren và d’Anthés. Người ta quấy rầy Nathalie không ngớt.

            Sợ rằng những bày tỏ lớn lao của dân chúng có thể gây nên những cuộc phiến loạn, Hoàng đế Nicholas I ra lệnh cho âm thầm kéo linh cữu Púshkin giữa đêm khuya trên một chiếc xe trượt tuyết –theo kiểu kéo tử thi một con chó!—về chôn trong tu viện Siatogorski, tỉnh Psov, thuộc Mikhaillovskoye.

            Tuy nhiên, Púshkind đã ngủ giấc ngàn thu trong sự vinh quang chói lòa của riêng ông mà dù cho với uy quyền tột bực, Hoàng đế nước Nga cũng đành bất lực không làm gì được. Hình ảnh nhà thơ vẫn sống mãi trong niềm kiêu hãnh của người dân Nga theo những gì ông đã đem lại cho quê hương họ. Hai chữ “bất tử” đã thực sự được gán lên cái tên của một thiên tài thi ca chỉ mới 38 tuổi đã phải ngậm ngùi từ giã trần gian.

[]

 

 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

“A History of Russian Literature”, D.S. Mirski. (Alfred A. Knopf. Inc. 1949)

“Histoire de Russie”, Nicholas Brian-Chaninov, (Editions Fayard, Paris, 1929).

“Pouchkine”, Henry Troyat. (Editions Albin Michel, 1946).

“Vie de Pouchkine”, Claude de Blesnay. (Editions Spres, Paris, 1946).

“The Poems, Prose and Plays of Pushkin”, Avraham Yarmolinski. (Random House, Inc. 1936).

[]



(9)  Don Juan, nhân vật biểu tượng cho tinh thần tự do. Khởi nguồn từ huyền thoại dân gian, nhân vật này được đưa vào văn chương lần đầu qua bi kịch “El burlador de Sevilla” –(Kẻ quyến rũ ở thành Séville) năm 1630, do nhà viết kịch người Tây Ban Nha, Tirso de Monila, soạn. Nhờ bản kịch, Don Juan trở nên một nhân vật phổ thông của chung mọi người, giống như các nhân vật Don Quixote (của Miguel de Cervantes), Hamlet (của Shakespeare) và Faust (của Goethe). Rồi lại biến hình thành nhân vật “anh-hùng-du-đãng” trong các kịch phẩm, tiểu thuyết, thi ca của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới. Đặc biệt, huyền thoại về anh ta được phổ biến rộng rãi và vững vàng suốt qua bản đại nhạc kịch Don Giovanni của Mozart (viết ra năm 1787), kể chuyện chàng Don Juan khi đang ở vào điểm cao nhất trong cuộc sống phóng túng của mình đã quyến dụ một thiếu nữ quí tộc và giết chết cha cô ta, người đã cố gắng báo thù để rửa nhục cho con. Sau đó, nhìn thấy trên nấm mồ người cha có đặt một hình nộm để tưởng nhớ, anh ta suồng sã mời hình nhân này đi dùng cơm với anh ta. Không ngờ, chính ngay cái tượng quỷ bằng đá kia đã đến bữa tiệc thật, như một báo hiệu cho cái chết của Don Juan sắp xảy đến.

                Trong bản văn nguyên thủy của tác giả Tây Ban Nha, những phẩm chất quyến rũ của Don Juan –như sức sinh động, lòng can đảm ngạo nghễ, và khiếu khôi hài- đã nâng cao giá trị sự kết thúc bi thảm của vở kịch. Sức hấp dẫn phát sinh từ những chuyển  biến nhanh, tạo nên ấn tượng căng thẳng cho độc giả theo những truy đuổi chồng chất mà các kẻ thù của Don Juan đang dồn anh ta đến chỗ hủy diệt. Sự kích thích của bản văn cũng được tạo nên từ việc độc giả nhận biết rằng chàng Don Juan bị đưa vào bước đường cùng đã bất chấp mọi người mọi thứ, ngay cả đến sức mạnh quỷ  thần của kẻ lạ mặt kia. Cuối cùng, anh ta từ chối sự chuộc tội và đời đời rơi xuống địa ngục.

(10)  Không tác phẩm nào Púshkin tự viết về mình đầy đủ cho bằng “Evgénij Onégin”, (như nhà phê bình Belínski về sau đã xác định, “một tác phẩm phô bày rõ ràng và đầy đủ nhất tính chất Púshkin”.) Trong nền văn học Nga, không có tác phẩm nào nói lên đầy đủ và rõ ràng “con người xác thật của tác giả” được như cuốn đó, và cũng chẳng sáng tác nào mà những nét tài hoa của nhà thi sĩ trẻ tuổi phô bày toàn diện và gây ấn tượng mạnh cho độc giả đến như thế. Nhà sử học Nga, Kliouchevski (1841-1911), cho rằng người ta phải nhận xét tác phẩm này như một tài liệu lịch sử do bởi sự vẽ hình sống động cả một xã hội Nga dưới thời tác giả đã sống. Với những nhà văn kế tiếp Púshkin về sau, không ai viết tiểu thuyết bằng thơ, nhưng rõ ràng là họ đã bị ảnh hưởng bởi Púshkin rất nhiều trên những nhận thức và cách bố trí xã hội cho nhân vật của họ; trên những liên quan và các đặc tính nhỏ nhặt nhất về đời sống con người ở thôn quê và thành phố. Đó là những điểm dị biệt trong “Evgénij Onégin”, khiến tác phẩm trở nên là nguồn mạch nguyên thủy, gây được ảnh hưởng rất rộng trên các nhà văn đi sau, như lời Viatcheslas Ivanov, nhà văn Nga thuộc phái Biểu Tượng (1866-1949), đã nói: “Tác phẩm khởi đầu cho một thời hoàng kim của nền tiểu thuyết Nga, và đã tạo nên một trong những biến cố đặc biệt nhất của giòng văn chương hiện đại Tây Phương.” Riêng Dostoievski cũng từng xưng tụng tư tưởng chung thủy của dân chúng Nga mà hiện thân trên hết là nhân vật Tatiana trong “Evgénij Onégin”.

(11)  Hoffmann (Ernst Theodor Wilhelm) (Konigsberg 1776 – Berlin 1822), nhà văn Đức, chuyên viết truyện kinh dị hoang tưởng.

(12)  Sự thực, chính Hoàng thân P.V. Dolgoroukov mới là kẻ chủ mưu mọi việc đê tiện mà Púshkin đang phải điên đầu đối diện.

(13)  Gretch, một người bạn của Púshkin. Một đứa con trai của Gretch vừa chết và Púshkin nhận được giấy cáo phó ba hôm trước, 26/1/1837

Lời Tựa 


Edgar  Allan Poe
Emily Bronte
Lermontov
Paganini
Paul Gauguin 1 - 2 - 3
Pushkin 1 - **2*
Mozart *
Modigliani  


Trang Chủ