Trần Thị Bông Giấy

ALEXANDER PÚSHKIN (1799-1837)

(Kiến Thức Văn Học)

(Trích TÀI HOA MỆNH BẠC I)

 


 

            Một phần tư thế kỷ, sau khi Púshkin đã chết, một nhà phê bình Nga viết rằng: “Púshkin là tất cả của dân tộc Nga.” Ông được đồng bào vô cùng ngưỡng mộ và đặt lên ngang hàng với các vĩ nhân Tây Phương: Shakespeare, Michelangelo, Beethoven. Điều này tưởng không có gì quá đáng bởi vì chính từ Púshkin mà nền văn chương dồi đào phong phú của nước Nga đã được chào đời. Púshkin đem đến cho xứ sở ông một vầng hào quang ngời chói. Ông sáng tạo nên nguồn ngôn ngữ mới, làm rạng danh thi ca và chứng minh được, thi ca –trên tất cả—là sáng tác của trái tim, biểu tượng cho sự điên cuồng nhất, sôi nổi nhất, vô tình nhất, tàn nhẫn nhất; nhưng cũng ở đó, người ta tìm ra được rõ ràng đặc chất của lòng nhân ái cao thượng nhất.

            Sự ảnh hưởng của Púshkin trên các văn nghệ sĩ lớn của Nga cũng không phải là ít. Từ ông mà tài năng của Gogol, Lermon- tov nẩy nở. Với Glinka, nền âm nhạc Nga trở nên dồi dào thêm qua những tác phẩm của Púshkin. Léon Tolstoi cũng đã lấy nguồn cảm hứng từ trong vùng đất văn chương phong phú ấy. Và Moussorgski, Rimski-Korsakof... Và Dargomiski; Tchaikovski… Lúc Púshkin tử thương, Dostoievski mới 16 tuổi; nhà văn đã mong muốn được để tang thi sĩ. Luôn cả Maiakovski trong thời tiền xã hội chủ nghĩa từng phản đối tác phẩm “Evgény Onégin”, về sau cũng đã nghiêng mình cảm phục tác giả của “Viên Kỵ Mã Bằng Đồng”.

            Giới thiệu chân dung Púshkin có nghĩa là trình bày sức dụ hoặc không những chỉ trên tác phẩm, mà còn chính trên con người thi sĩ. Púshkin đã yêu cuộc đời một cách cuồng nhiệt. Yêu cả hai mặt tốt và xấu của nó. Đôi cánh tay mở rộng, mười ngón thẳng dài ra, dù là trên thành công hay thất bại: đó là cách mà Púshkin đã đón nhận cuộc đời. Nhiệt tình ấy luôn luôn gắn bó giữa cuộc đời và thi sĩ, giữa thi sĩ với tác phẩm và giữa tác phẩm với dân tộc và dân chúng Nga. Đam mê ấy đã đeo đuổi Púshkin suốt 38 năm ngắn ngủi sống trên trần thế. Không những vậy, ngay cả trước thềm cái chết, nỗi say đắm này vẫn không hề từ bỏ thi nhân.

 

 

 

I.

(1799–1811)

(Moscow)

            Alexander Sergéyevich PÚSHKIN sinh ngày 26 tháng 5 năm 1799Moscow. Bên nội là một trong vài dòng họ lâu đời nhất nước Nga. Phía bên ngoại mang giòng giõi của Ibrahim Hannibal, con trai một vị vương hầu xứ Ethiopie, Phi Châu. Hannibal cưới một bà quí tộc gốc Balto-German và có được 11 người con với bà. Một trong những người con ấy là ông ngoại của Púshkin.

            Thi sĩ luôn luôn tỏ ra kiêu hãnh vì “600 tuổi quí tộc” của bên nội và “giòng máu Phi Châu” của bên ngoại chảy trong huyết quản. Trong một dịp nói về số phận những người Phi Châu, ông đã gọi họ là “những người anh em của tôi.”

            Thời thơ ấu và niên thiếu, Púshkin trải qua trong một gia đình đầy dẫy không khí phù phiếm của nền văn hóa Pháp thế kỷ 18. Giữa cha mẹ và con cái không có mấy tình thân. Hai ông bà Púshkin là những người theo thời trang Âu Châu, lơ đãng, nhẹ dạ và không quan tâm gì đến bốn người con mà họ đã sinh ra, nhất là với Púshkin. Đổi lại, từ thuở bé, Púshkin cũng tỏ ra không có chút liên hệ sâu đậm nào với cả cha lẫn mẹ. Trước gia đình, trong Púshkin chỉ lưu lại một tinh thần tự do, độc lập. Nếu như sự tự do ấy đôi lần có bị cản trở thì chỉ hoàn toàn bởi cái thể chất yếu đuối hơn là do lòng hiếu thuận, đạo làm con hay bất cứ điều gì.

            Giống như nhiều gia đình quý tộc Nga thời ấy, gia đình Púshkin có tính cách thiên về văn hóa Tây Âu hơn là văn hóa Nga. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính được sử dụng trong nhà. Những vị thầy dạy riêng cho trẻ con phải chính gốc người Pháp. Những quyển sách trên kệ cũng chỉ được viết bằng tiếng Pháp.

            Từ thuở bé, Púshkin đã sớm tỏ ra là một đứa trẻ xung động, thông minh, ham chuộng văn chương và có một trí nhớ đặc biệt. Không khí gia đình lại rất tiện lợi cho sự ham mê này nẩy nở. Những người khách đến chơi thường là trong giới nhà văn. Cha của Púshkin cũng hay sáng tác những bài thơ bằng tiếng Pháp. Một trong các người chú –Basile Púshkin—là thi sĩ khá nổi tiếng, lúc ấy mới trở về Nga sau một thời gian dài sống ở Paris. Ngay đến các người hầu cũng tỏ ra ưa thích thi ca. Sự hiểu biết của Púshkin về tiếng mẹ đẻ cũng như phong tục quê hương chủ yếu là nhờ bà vú nuôi tên Arina Rodionovna và các người hầu ấy. Những khi có dịp gần gũi họ, Púshkin thường yêu cầu họ kể cho nghe những câu chuyện dân gian, và những câu chuyện này ngày càng thấm sâu trong ký ức nhà thơ.

 

 

II.

(1811 – 1817)

(Tsárskoye Sélo)

            Vào năm 12 tuổi (1811), nhờ ông chú Basile dễ mến mà Púshkin được gửi vào trường Trung học Tsárskoye Sélo, trong thành phố Saint-Pétersbourg.(1) Ngôi trường có ký túc xá chọn lọc này được cất lên dưới sự bảo trợ đặc biệt của Hoàng đế Alexander I, chủ ý đào tạo những quan lại tương lai. Ban giảng huấn đều là những người tên tuổi tiếng tăm. Chương trình giáo dục gồm, bên cạnh những môn học cổ điển, còn có vài lớp về chính trị, kinh tế và luật học. Tuy nhiên, mục đích của sự giáo dục là biến các học sinh trở thành những người lịch sự quý phái hơn là những học giả thông thái.

            Púshkin trải qua 6 năm liên tiếp trong ngôi trường đặc biệt này và nó trở nên thân thiết với thi sĩ nhiều hơn là gia đình. Các bạn học, bằng một thứ tình cảm nồng nhiệt và bền bĩ, đã đem lại được cho Púshkin nỗi ấm áp của tình thương mà ông thiếu thốn từ bé. Nhà thơ vẫn ưa thích đọc cho các bạn nghe những tác phẩm của Voltaire, Parny và của những thi nhân nổi tiếng người Pháp. Đôi khi Púshkin lại đọc các bài Latin cổ điển; cũng thường tuyên bố rằng trong số các nhân vật thời Trung Cổ, nhà thơ ưa thích Apuleius(2) hơn Cicero(3). 

            Lúc bấy giờ, văn chương trở nên là một luồng sóng trong trường Trung học Tsárskoye Sélo. Púshkin bắt đầu làm thơ. Những vần thơ đầu tiên được viết bằng tiếng Pháp khi tác giả của chúng vẫn còn mặc bộ đồng phục màu xanh với khăn quàng màu đỏ. Một cách tự nhiên, Púshkin cộng tác với những tờ báo trình bày bằng tay, điều khiển bởi một số học sinh trong trường. Một loạt sáng tác gồm các bài thơ tình, các bản bi ca đầy ước muốn, những mục thi, hoặc những vần thơ thanh nhã… được thi sĩ cho chào đời bằng giọng điệu bất thường, lưu loát và quyến rũ. Hơn hết, các bài thơ trào phúng mới là điều mau chóng tạo nên cho Púshkin cái tiếng vang về một trí tuệ xuất chúng thông minh. Trong các bài phổ biến từ trường Trung học Sélo, thỉnh thoảng có những bài công kích thẳng vào vị đương kim Hoàng Đế Alexander I. Trong giai đoạn này của thi ca Púshkin, trạng thái căng thẳng của tình cảm được chú trọng nhiều hơn là khía cạnh văn chương.

*

            Ngay khi còn ở bậc trung học nhà trường, Púshkin đã được một nhóm các nhà văn trẻ cấp tiến xem là nguồn hy vọng lớn của nền văn chương Nga. Ông kết làm bạn thân với Joukovski và Karamzine.

            Ngày 8/1/1815, Derjavine, một thi sĩ rất trọng tuổi, khi nghe Púskin đọc xong bài thơ “Souvernir de Tsárskoye Sélo” vừa mới làm xong, đã quay về phía cử tọa tham dự mà nói: “Hãy ghi nhớ tên cậu ấy –Púshkin. Đó là người sẽ kế nghiệp tôi.”

            Trước khi rời trường trung học, người ta đã đánh giá Púshkin như một đối thủ ngang hàng với Joukovski và Batyushkov, hai thi sĩ nổi tiếng thời bấy giờ. Trong nền văn học dồi dào của nước Nga, chưa hề có tác giả nào được công nhận một cách sớm sủa và mau lẹ như Púshkin lúc ấy.

 

 

III.

(1817 – Cuối năm 1820)

            Tháng 6/1817, khi vừa 18 tuổi, Púshkin rời trường Trung học Tsárskoye-Sélo. Một tương lai rực rỡ trong cách thức được mọi người công nhận là thiên tài thi ca mở ra trước mặt nhà thơ. Nhưng Púshkin lại không có tiền và cũng chẳng trông mong gì được vào di sản của gia đình. Vì vậy, tuy ưa thích gia nhập vào đội Khinh Kỵ Binh hoàng gia, nhà thơ đành chấp nhận trở nên một nhân viên Bộ Ngoại Giao ở Saint-Pétersbourg với chức vụ bổ nhiệm chỉ thuần trên danh xưng mà chẳng phải làm việc thực thụ. Số lương hằng năm được trả là 700 rúp.

            Bầu máu nóng tuổi trẻ bắt đầu xúi giục Púshkin hành động sai lạc trên những điên cuồng thích thú. Thi sĩ uống rượu, đánh bạc, khiêu vũ, đi nhà thổ, gây chiến, dự các cuộc đấu súng, đeo đuổi các vũ nữ, và trên hết, mang tiếng là “một kẻ bị hành hạ bởi tình dục” với những tác hại kinh khủng trên sức khỏe và cái hầu bao nhỏ bé. Karamzine đã viết về Púshkin thời gian này: “Anh ta bị thách đấu gươm từng mỗi ngày!”

            Rõ ràng là kẻ hậu duệ “mang giòng máu Phi Châu” đã hưởng thụ tận tình tuổi trẻ tươi đẹp bởi những sôi nổi không giấu diếm của lòng ham muốn. Nhà thơ tự khám phá ra trong chính con người mình cái thiên chức yêu cuộc đời một cách say mê.

            Nhưng tất cả các cuộc chơi dù cuồng loạn bao nhiêu cũng đều không làm ngăn trở việc sáng tác của thi sĩ. Về người bạn trẻ, Joukovski không ngừng tuyên bố: “Ngòi bút mới tuyệt diệu làm sao! Tài năng Púshkin giống như một thứ yêu ma khiến tôi như luôn luôn bị đeo đuổi, ám ảnh.”

            Púshkin bắt đầu viết bằng những kinh nghiệm sống. Văn phong trở nên sắc bén hơn. Thi sĩ được quần chúng biết đến nhiều bởi những bài thơ trào phúng công kích thẳng vào những người quyền cao chức trọng trong hội đoàn tôn giáo và chính phủ, ngay cả Hoàng đế Alexander I; đồng thời được ca tụng bởi các bài thơ ngụ ý phàn nàn thương xót cho sự đau đớn của giai cấp nông nô; hay các bài tán dương sự tự do như một thứ tuyên cáo chống lại sự áp bức của bạo quyền.

*

* *

            Lúc ấy, văn giới Nga trong thành phố Pétersbourg phân chia thành hai phía đối lập:

            1/ Phía bảo thủ, dẫn đầu bởi một nhà mô phạm (khi ấy đang nắm chức Phó Đề Đốc và về sau trở nên là Tổng trưởng Giáo dục). Ông này luôn tìm cách tảo trừ nền văn chương ngoại quốc và giữ gìn mối quan hệ cổ truyền dân tộc, điển hình qua các loại sách thuộc về tôn giáo. Phe này cũng chủ trương bênh vực trường phái văn chương trang nghiêm của thế kỷ trước.

            2/ Phe cấp tiến, gồm các nhà văn trẻ nhiều tài năng, chủ trương đổi mới và thế tục hóa ngôn ngữ Nga, đồng thời đào tạo va trau giồi một trường phái văn chương lãng mạn, dễ dãi.

 

            Tháng 3/1820, tập trường thi “Ruslán & Lyudmíla” (viết từ 1817) hoàn thành, nhưng phải đợi cho đến 1822 mới được xuất bản. Một tác phẩm lãng mạn, khoái hoạt, được viết bằng giọng điệu vừa nghiêm trang vừa hài hước khinh bạc mà ngay từ khi xuất hiện của nó, đã là một biến cố, tạo nên rất nhiều ảnh hưởng trên cả một thời đại thanh niên Nga và trở thành mục tiêu chỉ trích nặng nề của đám người già. Dẫu mang dáng dấp của “Bylines”, loạt anh hùng ca được lưu truyền rộng rãi trong nước Nga, nhưng thực chất của bản sử thi thì lại được rút ra từ câu chuyện “Chàng Roland Cuồng Nộ” của Aristoste. Câu chuyện kể:

            Ngay đêm tân hôn, vị hoàng tử Rúslan dũng cảm nhìn thấy vị hôn thê Lyudmíla bị một tên phù thủy gù lưng cướp đi mất. Gã phù thủy cố gắng chiếm cho được trái tim Lyudmíla nhưng vô hiệu. Được trợ lực bởi một vị phù thủy khác, Rúslan, sau vô số các cuộc phiêu lưu, đã tìm ra nơi lưu trú của kẻ bắt cóc trong vùng rừng núi phía Bắc. Sau ba ngày chiến đấu dữ dội cùng gã phù thủy gù lưng, chàng đã chiến thắng, gặp lại nàng Lyudmíla trong khu vườn nhiều hoa thơm cỏ đẹp, và đem nàng trở về.

            Tuy tác giả của bản anh hùng ca là một người trẻ tuổi, nhưng người ta cũng nhận thấy ngay rằng đó là một tác phẩm bậc thầy trong ngôn ngữ Nga, nói lên sự tìm kiếm triệt để ý nghĩa đích thật của cuộc đời trong tâm hồn thi sĩ. Tác phẩm và tác giả kết hợp nhau một cách chặt chẽ. Tính chất tài hoa tăng trưởng dữ dội theo với cuộc sống cuồng loạn của thi nhân. “Ruslán & Lyudmíla” không những chỉ là những gì thuộc riêng Púshkin đã sống và đối diện, mà còn là nỗi suy nghĩ chung của mọi giới tuổi trẻ. Một nền ngôn ngữ mới vừa xuất hiện ở Nga qua tác phẩm ấy. Những diễn tả thi vị là điều về sau này tạo được cho Púshkin cái vị trí thiên tài hàng đầu trong nền thi ca Nga.

            Khi đó, Púshkin chỉ mới 21 tuổi.

            Tuy nhiên, trước khi “Ruslán & Lyudmíla” xuất hiện, những bài thơ cách mạng trào phúng của Púshkin đã thấu đến tai Hoàng Đế Alexander I. Do đó, cuối năm 1820, dù rằng có sự can thiệp của Joukovski và Karamzine, nhà thi sĩ trẻ tuổi vẫn được lệnh phải rời Pétersbourg để đi về vùng Ekaterinoslás, thuộc miền Nam, phục vụ như một hình thức bị lưu đày dưới quyền Đại tướng Inzov Rayévski, một quân nhân nổi tiếng của cuộc chiến cùng Napoléon vào năm 1812.

 

 

IV.

(Cuối năm 1820—1822)

(Kichinev).

            Púshkin rời Pétersbourg với tâm trạng pha trộn giữa sự bồng bột giận dữ và nỗi lắng dịu trong ý nghĩ được giải thoát khỏi những thú vui ăn chơi phóng đãng cũ. Nhà thơ mang theo đến vị xếp mới lá thư giới thiệu của vị Tổng trưởng Ngoại giao, có những lời như sau: “Thiếu thốn mọi liên hệ ấm áp từ gia đình, chàng tuổi trẻ chỉ lưu lại trong tâm tư một thứ tình cảm duy nhất: Lòng ham mê độc lập. Không sự quá quắt nào mà chàng không từng trải qua, cũng như không điều hoàn hảo nào mà chàng không thể đạt đến do từ tài năng xuất chúng…”

            Lá thư còn phát biểu xa hơn rằng Púshkin (kẻ có tội) đã hứa “một cách trang trọng”“sẽ từ bỏ mãi mãi mọi lầm lỗi”, và rằng “tương lai chàng bây giờ thành công hay không đều tùy thuộc vào sự khuyên nhủ của Đại tướng.”

            Đại tướng Inzov không làm cho “cậu bé kinh khủng” phải e dè nặng nề hơn bởi những lời khuyên hoặc bởi nhiệm vụ của một sĩ quan. Thay vào đó, ông tiếp đãi Púshkin đàng hoàng, cho mượn tiền, cho nghỉ phép thường xuyên. Mỗi khi phải đặt Púshkin vào tình trạng cấm túc trong phạm vi kiểm soát của ông, Đại tướng đưa Púshkin đi thăm các người tù và cùng thi sĩ trò chuyện về cuộc cách mạng Tây Ban Nha một cách hứng thú. Cậu con trai –Alexander Rayévski—và cô con gái của Đại tướng rất được Púshkin ngưỡng mộ, tôn trọng. Thi sĩ và Alexander Rayévski chia xẻ nhiều nỗi say mê theo các tác phẩm của Byron và cùng nhau nghiên cứu về vẻ đẹp vùng Crimée rộng lớn. Họ du lịch tới vùng Bắc Caucase, ngụ lại trong lãnh địa của gia đình Rayévski tọa lạc trên một vùng bờ biển quyến rũ; rồi lại di chuyển đến lãnh điïa khác (cũng của gia đình Rayévski) ở Kamena, trong tỉnh Kichnev. Tại đây, người bạn cùng say mê thi ca Byron đã hướng dẫn Púshkin đến tận chỗ ở của những người cầm đầu cuộc phản loạn tháng 12/1825 sẽ xảy ra về sau này.

            Ngoài ra, không một nơi chốn hoang dã nào trong vùng Caucase rộng lớn mà nhà thơ không từng đặt chân đến. Có chuyện kể rằng Púshkin đã gia nhập vào một nhóm gypsy để đi lang thang suốt các nơi của miền Nam Bessarabie. Tâm tư thi sĩ thắt lại vì cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ. Các cảm xúc mạnh mẽ đã được ghi lại rất rõ ràng trong các vần thơ thời kỳ này.

            Rốt lại, những tháng năm lưu đày hóa ra lại là một trong vài khoảng thời gian hạnh phúc hiếm hoi của cuộc đời Púshkin.

            Khi bị buộc phải trở lại nhiệm vụ dưới quyền Đại tướng Inzov ở Kichinev, Púshkin tỏ ra rất buồn chán. Giai đoạn này, thời giờ của thi sĩ được chia ra giữa những cuộc “gặp gỡ nhóm người tháng 12” (Décembristes) và những buổi tối có rượu xâm banh chảy như suối cùng các người đàn bà đẹp. Nhà thơ lại tiếp tục phải lòng tất cả những phụ nữ mỹ miều mà ông giao thiệp. Tuy nhiên, nỗi đam mê lớn nhất trong tâm hồn Púshkin vẫn chỉ là thi ca.

            Khoảng đời hai năm từ 1820 đến 1822 ở Kichinev lại rất bổ ích cho Púshkin. Tại đây, ông sáng tác hăng say hơn khi còn ở St. Pétersbourg.

            Năm 1822, Púshkin viết “Người Tù Ở Caucase”, một bài thơ ngắn rất nổi tiếng, tác phẩm đầu tiên được viết ra trong cuộc lưu đày miền Nam. Câu chuyện như sau:

            Trong cuộc chiến tranh diễn ra đầu thế kỷ 19 giữa người Nga và người miền núi vùng Caucase, một sĩ quan Nga trẻ tuổi bị bắt và bị đưa đến cầm tù trong bộ lạc xứ Circassie. Bị canh giữ cẩn mật, nhưng chàng tuổi trẻ mơ mộng vẫn như lãnh đạm với số phận của mình và cũng không màng gì đến chiến tranh đang hiện hữu. Đầu óc bị chiếm hữu bởi một mối tình cũ trước đó, chàng gần như không lưu tâm chút nào đến tình cảm kín đáo mà say đắm của một cô gái Circassie dành riêng cho chàng. Cô cố gắng làm khuây giải chàng sau khi đã săn sóc các vết thương của chàng. Chiến tranh vẫn tiếp diễn. Một ngày kia, tất cả những người dân Circassie phải lên đường chinh chiến; nàng con gái Circassie bèn âm thầm phóng thích cho người tù. Không do dự, chàng sĩ quan Nga bèn bỏ trốn ngay. Mới đi được vài bước, chàng bỗng nghe một tiếng động lớn nên quay trở lại: Cô gái Circassie đã ném mình xuống biển  tự tử.

           

            Chủ đề đơn sơ; bài thơ rất ngắn, nhưng lại được xếp là một trong những tác phẩm lớn của Púshkin. Chính thi sĩ cũng từng xác nhận mình trong vai trò người tù: “Những câu thơ đã xuất phát thẳng từ trái tim tôi”. Trên thực tế, Púshkin bị ảnh hưởng rất nhiều bởi Byron, không những chỉ trên hình thức văn chương, mà còn trên khía cạnh lãng mạn của tâm hồn. Giống như Byron, Púshkin đã phải cưu mang sự mệt mỏi nặng nề trong tâm tư và sự chán nản theo một cuộc sống không sinh thú. Đó cũng là tâm trạng chung của lớp thanh niên thế kỷ 19. Nhưng, giống như Byron, Púshkin đã khiến nẩy bật từ trái tim riêng những giòng xúc cảm nói lên được cái tâm trạng buồn chán ấy. Trong bài thơ, một cách cố ý, Púshkin không đưa ra rõ ràng nhân dáng bằng xương bằng thịt của cô con gái xứ Circassie, mà như một ám chỉ cho những cánh hoa mỏng manh mọc lên giữa thiên nhiên rất tàn khốc. Nàng hiện diện như một tiên nữ, một biểu hiệu của tình yêu vô tận, xoa dịu những đau đớn thể xác cho chàng lúc khởi đầu, sau đó trao tặng chàng trái tim thanh khiết, đơn sơ.  

            Bối cảnh câu chuyện đầy màu sắc địa phương, sự rực rỡ và hùng vĩ của vùng Caucase đầy nắng ấm, tính tình hoang dã của những cư dân miền núi… tất cả chỉ là những điều phụ thuộc tự nhiên: Ðó là tính chất bên ngoài của Púshkin. Mà thật thì ông đã đóng một vai trò rất xác định trong bài thơ: trước mặt hai người trẻ tuổi, nhà thơ như biểu tượng cho một khuôn dáng khác tàn bạo hơn: Mặt trái của Thiên Nhiên.

            “Người Tù Ở Caucase” đã đem lại cho Púshkin sự thành công còn lớn hơn cả “Ruslán & Lyumíla” nữa.

*

* *

            Thời gian mới đến Kichinev, Púshkin tỏ ra khá vui thích khi tự cho mình giống như một kẻ lạc loài giữa đám người chưa được khai hóa. Nhưng chẳng bao lâu, nhà thơ đâm ra buồn chán vì tình trạng thiếu thốn tiền bạc, thiếu thốn các cuộc chơi, các nhà hát, những người bạn trí thức, những lạc thú, cũng như sự săn sóc an ủi của các người hầu. Chàng thi sĩ trẻ bắt đầu quay lại với các thói quen phóng đãng cũ, tham dự các trò chơi trơ trẽn, tiêu sắm tiền bạc cách hoang phí, sử dụng toàn những câu nói gay gắt thô tục. Bấy giờ, tất cả mọi điều hành xử đều nói lên tâm trạng đang lịm chết của nhà thơ trong thành phố Kichinev buồn thảm; đồng thời cũng chính là nỗi phản kháng lại đoàn thể quyền thế mà ông, một thi sĩ tài hoa nổi tiếng, đang là nạn nhân của họ.

 

 

V.

(Tháng 7/1823)

(Odessa)

            Mùa hè 1823, Púshkin được lệnh đổi tới Odessa, phục vụ dưới quyền Bá tước Đại tướng chính phủ Vorontsov. Tại đây, thi sĩ được thở nhẹ nhàng không khí tự do có vẻ Âu Châu của hải cảng lớn đẹp như tranh vẽ, trái ngược hẳn với vùng Bessarabie đầy bụi bặm. Ông thụ hưởng mặt trời, biển cả, các nhà hát kịch Ý Đại Lợi và những con sò ở Otton.

            Đời sống nhà thơ lại bắt đầu vô trật tự và thác loạn như khi còn ở Pétersbourg, đánh dấu bởi tình cảm cho cả hai người đàn bà trong cùng thời gian: nàng Dalmatian Rinznich và nữ Bá tước Elizabeth Vorontsov, vợ của vị Tổng trấn vùng Odessa.

Damatian Rinznich đem lại được cho Púshkin cái dục tính mãnh liệt và chính là cảm hứng cho những bài thơ tình hay nhất của thi sĩ thời gian này. Còn tình cảm với bà Bá tước lại đưa đẩy Púshkin vướng mắc vào cái vòng cư xử giả dối giữa ông với Alexander Rayévski (người bạn cùng yêu thơ Byron) lúc bấy giờ cũng đang là tình nhân của bà.

            Mặt khác, những mối liên hệ giữa chàng thi sĩ trẻ với vị Bá tước Tổng trấn lại trở nên không thể chịu nổi. Bá tước Vorontsov không quan tâm đến tài năng của viên thuộc hạ tầm thường. Ông làm cho Púshkin cảm thấy như bị sỉ nhục bởi những che chở bảo trợ của ông. Thêm vào đó, do bởi lòng ghen mà Bá tước thúc đẩy Púshkin xin phục hồi chức vụ cũ ở Pétersbourg. Điều này càng làm nhà thơ nổi giận khi tự nghĩ rằng mình không phải là một viên chức nhà nước, mà là một thi sĩ chuyên nghiệp. Vì vậy Púshkin từ chối.

            Tất cả chân dung Púshkin thời gian này được diễn tả như sau: Một tay, thi sĩ viết những áng thơ tình ca tụng sắc đẹp bà Bá tước, tay kia là những bài thơ trào phúng giễu cợt, công kích người chồng Đại tướng chính phủ và cũng là vị chỉ huy cao cấp của mình. Dù vậy, kinh nghiệm và sự lớn dậy trong vị thế một thiên tài thi ca đã được hình thành rõ rệt trong Púshkin. Tuy sáng tác không đều, lúc chơi lúc làm việc không liên tục, Púshkin cũng đã xếp đặt để đưa ra một công trình thi ca vĩ đại. Văn chương bắt đầu được kể như nguồn suối lợi tức cho một con người hầu như lúc nào cũng ở trong vị thế cần tiền. Một vài bài thơ mang ảnh hưởng André Chenier(4) Nhiều bài khác lại có dáng dấp Byron. Dấu ấn Byron được nhận định rõ ràng trong kỹ thuật cấu kết những bài tự sự mà Púshkin đã viết. Giống như “Người Tù Ở Caucase”, “Suối Nước Bakhchisaráy” (hoàn thành 1822, xuất bản 1824); “Những Kẻ Cướp Huynh Đệ”… đều là những tác phẩm tuyệt diệu trong sự nghiệp thi ca Púshkin.

            Được viết ra thời gian ngắn sau khi bị lưu đày, “Suối Nước Bakhtchisarai” (Bahcisarajskij fontan) là một bài thơ làm gợi nhớ đến nhân vật Ossian (vị anh hùng thi sĩ Tô Cách Lan chuyên đi rong và chép chuyện thần tiên ở thế kỷ thứ III) và cũng gợi nhớ thi sĩ Pháp, Hiệp sĩ De Parny (1753-1814). Ảnh hưởng của Byron được tìm thấy rất rõ ràng trong bài thơ. Cảnh trí trong một khuê phòng được miêu tả với một thể thức lãng mạn và màu sắc phong phú hoàn toàn Đông Phương, làm liên tưởng đến cung điện trong phần hai tác phẩm Don Juan của Byron.

            Câu chuyện kể về nàng Maria, một công chúa người Ba Lan bị Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ bắt đưa vào hậu cung. Vì yêu thương nàng mà hoàng đế đã truất bỏ Zaméra, nàng cung phi được sủng ái trước đó.  

            Giữa bối cảnh của những khoái lạc kiểu Hồi giáo, Maria đã bày ra trong phòng riêng những hình ảnh tượng trưng cho một hải cảng thuần khiết Cơ Đốc giáo, để tại đây, nàng có thể trải qua những ngày giờ cầu nguyện hầu xoa dịu nỗi thương nhớ quê hương xa xôi nung nấu tâm can nàng. Vị Hoàng đế không dám mạo phạm sự ngây thơ vô tội, hay làm tiêu tán nỗi sầu cùng sự hy vọng của người bị bắt. Nhưng Zaméra thì không thể khoan thứ; bị khích động bởi lòng ghen, bà dùng dao găm đâm chết kẻ tình địch. 

            Theo lệnh hoàng đế, những tên lính canh khuê phòng bắt giữ Zaréma. Và để tưởng niệm cái chết nàng con gái trẻ, vị chủ tể đau khổ đã cho đào một suối nước, đặt tên là “Những giọt lệ”, và cho khắc ghi trên một phiến đá những giòng chữ kể về cuộc đời buồn khổ của Maria.

 

            Riêng “Những Kẻ Cướp Huynh Đệ”, đoản văn trong câu chuyện dài về những kẻ sống ngoài vùng pháp luật, cũng mang số phận bị bỏ dở dang như nhiều sáng tác khác không được kết thúc của thời kỳ này. Qua tác phẩm này, sự thật trần truồng của cuộc sống đã được Púshkin đem vào thi ca một cách đầy rung cảm. Tuy nhiên, tư tưởng lãng mạn của nhà thơ lại không đi quá xa. Púshkin không phải là con người nổi loạn từ trong bản chất tự nhiên, mà sự nổi loạn chỉ do bởi sự thúc đẩy của hoàn cảnh. Luôn luôn nhà thơ chỉ muốn xếp đặt để ráp nối sự bình yên vào với cuộc sống. Và càng lúc theo với thời gian, ngòi bút Púshkin càng để lộ một cá chất thực tế hơn.

*

* *

            Tiếng tăm Púshkin nổi như cồn. Những bạn hữu ở Moscow đứng ra xuất bản các tác phẩm của thi sĩ. Dĩ nhiên, các bài thơ trào phúng công kích Bá tước Vorontsov và sự dan díu giữa nhà thơ với bà Bá tước đã thấu tới tai Hoàng đế Alexander I.

 

 

VI.

(Tháng 8/1824 – Tháng 9/1826)

(Mikhailovskoye) (Pskov)

            Tháng 8/1824, Púshkin bất thần bị trục xuất khỏi công việc ở Odessa và nhận lệnh Hoàng đế phải đến cư ngụ vô thời hạn trong lãnh địa của mẹ ông ở Mikhailovskoye, thuộc tỉnh Pskov, dưới sự kiểm soát của cảnh binh và những giáo sĩ có quyền thế. Lý do cho sự trục xuất này đến từ lá thư riêng Púshkin gửi cho một người bạn ở Pétersbourg và bị cảnh binh chận giữ, trong đó thi sĩ  đã viết rằng: “Khi tôi đọc Shakespeare và Thánh Kinh, các vị Thánh Thần vẫn thỉnh thoảng làm trái tim tôi rung động. Bạn muốn biết tôi đang làm gì không? Tôi đang viết những vần thơ lãng mạn, và tôi cũng đang theo đuổi các bài học về thuyết vô thần. Ở đây có một triết gia người Ăng Lê. Ông ta điếc đặc, nhưng tôi lại cho rằng ông là người duy nhất thật sự thông minh. Tôi rất ưa thích gặp gỡ ông ta. Ông đang viết hàng ngàn trang về một cuốn sách luận giải rằng không thể có một đấng Tạo Hóa sáng suốt. Tất cả những chứng cớ yếu ớt được đưa ra từ trước chỉ cốt để an ủi những kẻ vô đạo đức. Còn cái phương pháp của ông ta –mà rất ít người tin—thì trời ơi, lại là điều tôi cho là rất chính xác. Nói chung, cái thuyết vô thần hoàn toàn, dẫu khó chịu, cũng là việc rất đáng thừa nhận.”

            Khác với lần lưu đày giả hiệu từ Pétersbourg đến Kichinev, lần biệt xứ này của Púshkin, ai ai cũng đều biết.

*

* *

            Ngày 9/8/1824, khi đến Mikhailovskoye, Púshkin mới hay rằng cha mẹ ông đã có mặt ở đó từ trước. Những cuộc cãi vã liên tục giữa hai cha con đã khiến nhà thơ rơi vào tâm trạng tuyệt vọng với ý nghĩ rằng một nhà tù hay một tu viện có lẽ còn thú vị hơn cái điïa ngục gia đình mà ông đang cư ngụ. Những căng thẳng ngày càng nặng nề khiến người cha phải quyết định dời cả gia đình sang một lãnh địa khác, từ bỏ Mikhailovskoye và cậu con trai nóng nảy nguy hiểm.

            Púshkin lưu lại trong căn nhà gỗ cũ kỹ được trang hoàng bằng những bàn ghế lỗi thời từ thế kỷ 18. Bầu bạn với thi sĩ chỉ là bà nhũ mẫu già Arina Rodionovna, người vẫn làm tiêu khiển cho ông bằng những câu chuyện cổ tích dân gian trong những đêm mùa đông dài đăng đẵng. Ngoài ra là sự giao thiệp với những người hàng xóm ở vùng quê Trigorkoye.

            Thời gian này, Púshkin sống như một người khách, không quan tâm gì đến những công việc khác trong lãnh địa. Ông đi dạo, cưỡi ngựa, dự những phiên chợ đồng quê và thích tự chen lẫn vào giữa các người hành khất vẫn thường hát những bài ca tôn giáo Nga tại các cổng tu viện trong tỉnh. Ông tránh xa lớp quý tộc nhỏ, ngoại trừ một gia đình hàng xóm gồm toàn phụ nữ: bà Osipova và hai cô con gái. Púshkin chơi bài với họ, chọc ghẹo một cô, ve vãn tán tỉnh cô kia. Rốt cuộc, cả hai người –mẹ và cô gái lớn—đều phải lòng chàng thi sĩ tài hoa rồi vì ông mà cãi nhau. Còn chính Púshkin lại mê đắm theo cô cháu gái –nàng Kern--, một người đã có chồng. Nàng Kern trở thành nỗi cảm hứng cho các áng thi ca tuyệt mỹ của Púshkin giai đoạn này.

            Ngoài ra, Púshkin cũng có mối tình với một cô gái nông nô mà kết quả là cô này có thai. Tuy nhiên, đứa bé được chào đời và lớn lên như thế nào, hoặc sự liên hệ giữa Púshkin và đứa nhỏ ra sao thì vẫn là điều cho tới lúc này, không ai xác định được sự thật.

 

            Đó là một cuộc sống cô đơn và hầu như bị mọi người quên lãng, nhưng với Púshkin thì lại là một thời gian hạnh phúc. Trong lá thư gửi một người bạn, nhà thơ đã viết: “Ở đây không có biển xanh, không cả bầu trời rộng lớn của miền Nam, không có những nhà hát kịch Ý Đại Lợi, không có mặt các người bạn thân, trên hết và thích thú nhất là cũng không có sự hiện diện của những người như đức ông Vorontsov. Sự cô đơn của tôi thật là tuyệt diệu. Có rất ít người để thăm viếng. Tôi chỉ giao thiệp với một gia đình toàn đàn bà nhưng cũng chẳng mấy khi gặp họ. Ngoài ra, mỗi buổi chiều tôi đều đi cưỡi ngựa. Ban đêm lại ngồi nghe những câu chuyện kể của bà vú già Arina. (Hẳn bạn đã từng có lần gặp qua bà vú ấy ở Pétersbourg?) Bà là người bạn và cũng là kẻ duy nhất trong xã hội này đã không khiến tôi buồn chán. Sau buổi cơm chiều, bà thường ngồi kể cho tôi nghe các câu chuyện dân gian như một hình thức sửa đổi và bổ khuyết cho những lỗi lầm mà tôi đã thu nhận từ cái cách giáo dục tồi tệ của gia đình. Thật đúng là những câu chuyện thần tiên tuyệt diệu! Mỗi mẩu chuyện bà kể đều là một bài thơ!”

 

            Xa lánh các trò giải trí cuồng loạn và luôn luôn nhận thức được cái lỗ hổng thiếu xót trong trí thức mình, nên thời gian ở Mikhailovskoye, Púshkin đọc sách rất nhiều, đặc biệt về lịch sử nước Nga.

            Nhà thơ lại tiếp tục sáng tác. Khởi đầu ở đây là “Những Kẻ Du Mục” (Cygane), một trong những bài thơ mang đậm tính chất Byron, xuất bản năm 1823. Một đêm tối trời, Aleko, một chàng trẻ tuổi người Nga, xâm nhập vào trong ngôi trại của các người du mục và cầu xin vị trưởng tộc một chỗ nương náu. Tại đây, chàng bị xua đuổi. Nhưng rồi cô con gái của vị trưởng tộc, Zemphyra, tỏ ra ưa thích kẻ lạ và muốn nhận chàng làm chồng. Thế là chàng tuổi trẻ được tiếp đón và chẳng mấy chốc họ lấy nhau theo phong tục kiếp sống rày đây mai đó. Trong cuộc sống mới, Aleko vẫn bảo tồn những định kiến riêng về sự khai hóa văn minh, về những ức đoán hôn nhân, về lòng ghen. Zemphyra sớm chán nản theo thái độ u sầu của chàng, nên quay trở lại ưa thích những người đàn ông cùng chủng tộc với nàng, đơn giản, khoẻ mạnh, và khoái hoạt. Dù vị trưởng tộc đã cố lòng giảng giải cho chàng nghe về phong tục tập quán của người Tzigane, Akelo không thể cam chịu sự bất hạnh của mình hơn nữa. Một đêm kia, chàng rình tóm được những tình nhân của vợ và giết chết họ. Tuy nhiên, những người Tzigane này vẫn không đòi hỏi công lý và tự bằng lòng trong hành động đuổi kẻ lạ ra khỏi bộ tộc của họ mà thôi.

 

            Cũng vậy, bằng giọng thơ quả quyết tài tình trong tính cách đầy thực tế mỉa mai châm chọc, Púshkin đã viết “Bá Tước Núlin”, phỏng theo “Lucrèce” của Shakespeare: một chủ đề xoàng xỉnh, kể câu chuyện về Bá tước Nulín, một kẻ qua đường, cố gắng quyến rũ một bà giàu có là người đã cho ông ta ở đậu nhân sự vắng mặt của chồng. Để phản đối, người phụ nữ đã tát vào mặt ông ta. Hỗ thẹn, kẻ quyến rũ chỉ còn nước rút lui.

            Đồng thời, nhà thơ lại tiếp tục với hai chương đầu của “Evgény Onégin”, bản văn từng được khởi sự khi còn ở Kichinev. Sáng tác thi ca ảnh hưởng đường nét Byron này chẳng mấy chốc lại tự nổi lên là kiểu mẫu riêng của Púshkin và trở thành tác phẩm tiêu biểu nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của chàng thi sĩ tài hoa.

*

* *

            Từ thuở 12, trong những trang bích báo nhà trường, Púshkin đã từng viết một kịch bản bằng tiếng Pháp. Từ đó trở về sau, ông không ngừng tỏ lộ sự yêu thích cho nền kịch nghệ. Trong những vần thơ kể chuyện, nhất là trong tác phẩm “Những Kẻ Du Mục”, tính chất bi thảm mang đầy kịch tính đã được nhận định rất rõ.

            Bấy giờ, trong tình trạng bị giam lõng cô đơn giữa vùng hoang sơ điền dã Mikhailovskoye, Púshkin đã tạo nên được một cuộc khởi hành mới trong sự nghiệp sáng tác của ông. Thi sĩ bắt đầu viết kịch. Bước thứ nhất lại là một tác phẩm bậc thầy: “Boris Godunóv”. Với kịch bản này, Púshkin hy vọng đem lại được cho ngành kịch của xứ sở ông một định hướng mới. Các nhà hát Nga từ lâu bị thống trị bởi các kịch phẩm trường phái cổ điển Pháp. Lúc bấy giờ, Púshkin tin tưởng rằng “những luật lệ bình dân” thích hợp với tâm tình và khí chất người Nga hơn là “những phong tục nhàn nhã lịch sự” của bi kịch Racine.

            Trong “Boris Godunóv” có những màn mang tính cách kịch Shakespeare. Mỗi nhân vật được cho nói một thứ ngôn ngữ riêng: một sĩ quan nói tiếng Pháp và một sĩ quan khác lại sử dụng tiếng Đức.

            Ngày 7/11/1825, Púshkin kết thúc kịch phẩm “Boris Godunóv”, kịch bản ba hồi bằng thơ. Yếu tố dựng cảnh của hồi thứ nhất được rút ra từ những biến cố của năm 1598, trên hết là buổi lễ tôn vương của hoàng đế Boris Godounov và những tỏ bày của giới quý tộc và dân chúng trước buổi lễ này.

            Hồi hai, liên kết với những biến cố của năm 1603: nói đến sự bỏ trốn khỏi tu viện của Grigori, cực điểm quyền hành của Boris Godounov từ đó dẫn đến sự suy sụp của chính ông. Phần này cũng diễn tả sự hiện diện của Boris trong nội bộ gia đình, giai đoạn lưu lạc ở Ba Lan của chàng Dimitri phản loạn và mối tình của chàng ta dành cho Maria Munichek.

            Hồi ba kể lại những biến cố của thời 1604; cuộc chiến đấu chống lại Dimitri và cái chết của Boris Godounov.

            Chủ đích nhà thơ là muốn đưa ra trong văn chương Nga một bi kịch quốc gia, với toàn những nhân vật lịch sử, như cái tiêu đề đã được ghi nơi trang đầu kịch bản: “Bi kịch lịch sử, hài kịch về những tai ương khác nhau đưa đến trong nước Đại Nga, của Hoàng đế Boris Godounov và của Grichka Orepev”.

            Vì vậy, kịch thơ “Boris Godounov” xoay quanh những dữ kiện quan trọng của các nhân vật lịch sử. Ví dụ như câu chuyện tình giữa chàng Dimitri và nàng Marina Munichek thì không phải là một yếu tố cốt lõi của kịch phẩm, mà Púshkin chỉ dựa vào đó để diễn tả xác thật hơn về con người đã muốn tiếm đoạt ngôi vua.      

            Trong chiều hướng hình thành được chủ đích đó, nhà thơ phải đi theo hai yếu tố căn bản: 1/ Hình thức: nhân vật có thật. 2/ Nội dung: Sự thật mang tính chất lịch sử quốc gia.    

            Ở phần hình thức, nhà thơ đã nghiền ngẫm đọc các kịch bản của Shakespeare để tự rút ra cho mình những hiểu biết về thời kỳ đó. Ở phần nội dung, tác phẩm “Lịch Sử Thời Đại Quân Chủ Nga” của Karamzine với những biến cố chính xác đưa ra, đã giúp ích rất nhiều cho sự hình thành kịch bản của Púshkin. Chính Púshkin cũng đã thừa nhận hai nguồn mạch ảnh hưởng nêu trên như sau: “Sự nghiên cứu lịch sử của Shakespeare, của Karamzine và của các tiền nhân trong cuốn Biên Niên Sử đã xúi giục tôi trong ý tưởng đưa ra một thể thức bi kịch về một trong những thời đại rất đau khổ của dân tộc. Tôi đã bắt chước Shakespeare, phóng vẽ những nhân vật lịch sử một cách tự do rộng rãi. Tôi theo dấu Karamzine, khai triển những biến cố mà ông đưa ra. Cuối cùng, dựa theo cuốn Biên Niên Sử của các tiền nhân, tôi đã tự gắng sức để ước đoán và hiểu thấu về những ý tưởng và ngôn ngữ của thời đại đó.”

            Trong kịch bản, giọng điệu đạo đức và tôn giáo đã đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra, yếu tố lãng mạn cũng được đưa ra nhưng dưới những dữ kiện thực tế theo chủ tâm của tác giả. Điều vừa nói đã hoàn toàn không tìm thấy ở các tác phẩm lãng mạn khác của nước Nga. Đó cũng là một tác phẩm rất quan trọng trong nền văn chương Nga do những yếu tố kết hợp rất đặc thù: Cái kết cấu tâm lý hoàn hảo, sự phong phú về các dữ kiện lịch sử, và cuối cùng là sự hợp nhất rất đáng ca ngợi giữa cá chất và ngôn ngữ diễn tả của các nhân vật.

            Nhưng dù cho “Boris Godounov” đánh dấu một bước tiến quan trọng trong sự vận chuyển nền kịch nghệ quốc gia, nhưng sự thật, Púshkin chẳng làm nên đóng góp giá trị nào cho ngành kịch của xứ sở ông. Nhà thơ đã không thúc đẩy được nền kịch nghệ Nga lớn dậy như ông hy vọng. Ở đây, ông sáng tác không phải những vở kịch kiểu Shakespeare, mà là một loạt những màn lớp nối tiếp nhau một cách dài dòng lỏng lẻo, khó diễn trên sân khấu và không gây được hiệu quả xúc động. Do đó, “Boris Godunóv” dẫu đã được nhân viên kiểm duyệt nhà nước phê bình rằng tinh thần của toàn kịch bản là đề cao quân chủ chủ nghĩa, bản văn vẫn bị giữ lại không cho xuất bản mãi đến năm 1831.

            Sau tất cả, những tháng năm ở Mikhailovskoye vẫn là “những ngày tù gông cùm thôi thúc”. Sự lưu đày này khó chịu hơn lần trước trong cuộc sống và ý nghĩa thi sĩ. Cái ước muốn đi ngoại quốc, một xứ sở nào như Hy Lạp hay các nước Phi Châu, cứ ám ảnh đầu óc Púshkin. Vì vậy, ông làm đơn xin Hoàng đế cho ông được rời nước Nga vì lý do sức khoẻ.

*

* *

            Ngày 28/11/1825, Hoàng đế Alexander I băng hà. Trong hoàng gia, người em trai Hoàng đế định lợi dụng sự rối loạn nhất thời này để chỉ huy quân đội, lật đổ chế độ quân chủ và thành lập một chính phủ Cộng Hòa.

            Trong cuộc khởi nghĩa này có nhóm bạn hữu thân tín của Púshkin tham dự, nhưng có lẽ cho rằng cá chất Púshkin quá lông bông, hoặc ước muốn tránh cho thi sĩ sự nguy hiểm, hay cũng có thể do tinh thần bảo mật của đại cuộc, mà Púshkin không được các người bạn trình bày rõ ràng mọi sự.

            Trong cái xứ Mikhailovskoye buồn tẻ đó, Púshkin chẳng hay biết gì về những xáo trộn tại thủ đô lúc ấy. Một ngày trước khi cuộc khởi nghĩa xảy ra, Púshkin vẫn còn đang ham mê với cái thú nuôi súc vật trong căn thái ấp của giòng họ ngoại mà ông đang lưu trú. Và thi sĩ cũng trải qua cái ngày 26/12/1825 đầy định mệnh với ý nghĩ nó giống như mọi ngày bình thường khác. Nhà thơ vẫn ở lại Mikhailovskoye một cách an ổn cho mãi đến tận ngày 13/7/1826, năm người trong nhóm Décembristes (những kẻ nổi loạn tháng 12)(5) –có một người từng thân thiết với Púshkin—bị treo cổ.

            Vị tân hoàng đế lên  ngôi, lấy hiệu là Nicholas I.

*

* *

            Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa làm cho Púshkin điềm đạm hẳn. Lúc bấy giờ nhà thơ có khuynh hướng quan tâm đến chế độ và sẵn sàng hợp tác với chính quyền hiện tại.

            Dù biết rằng Púshkin chẳng liên can gì, nhưng các bản thảo được tìm thấy trong nhà các người cầm đầu cuộc khởi nghĩa tháng 12/1825 đã khiến thi sĩ vẫn bị nhà cầm quyền nghi ngờ, theo dõi. Một người bạn có uy thế trong chính phủ khuyên Púshkin nên nhún mình viết những tác phẩm có mục đích tốt như “Boris Godunóv”. Púshkin đồng ý. Vì thế, tuy trong lòng âm thầm bực bội vì sự cô lập kéo dài, nhà thơ vẫn cố gắng tập trung đầu óc vào “Evnégy Onégin”.

            Tháng 5/1826, Púshkin làm đơn xin vị tân Hoàng đế cho phép được trở về sống ở Moscow hay Pétersbourg, hoặc là chấp thuận cho xuất ngoại. Trong lá đơn, Púshkin cam kết rằng “quyết tâm không chống lại chế độ đã được công nhận.”

            Sau đó không lâu, trong lá thư gửi một người bạn, Púshkin viết rằng nếu được trả tự do, ông sẽ không lưu lại trong nước Nga nữa. Và thêm: “Chúng ta đang sống trong một thời đại buồn bã. Khi tôi tưởng tượng đến những đường sắt xe lửa, các chiếc du thuyền hay những cuộc thao diễn quân sự ở nước Anh; tưởng tượng đến các nhà hát, các ngôi giáo đường ở nước Pháp, thì cái vùng Mikhailov- skoye hoang dã tiêu điều này làm tôi chán muốn chết và giận điên người lên được.”

            Mùa hè đến mà cũng chẳng có gì thay đổi trong hoàn cảnh của Púshkin. Cuối cùng, do một báo cáo thuận lợi của một nhân viên điều tra đặc biệt, vào ngày 3/9/1826, thay vì bị bắt cầm tù hay bị đày đi Tây Bá Lợi Á thì Púshkin lại được triệu hồi gấp về Moscow và được tân Hoàng đế tiếp kiến cách riêng tư. Những cánh cửa hoàng cung mở rộng. Nhà vua và thi sĩ tay trong tay tiến bước giữa đám quần thần. Những gì thật sự xảy ra giữa vị tân Hoàng đế và nhà thơ tài hoa 27 tuổi thì không ai biết rõ, nhưng kết quả là sự lưu đày của Púshkin bất ngờ được chấm dứt.

 

 

VII.

(Tháng 9/1826–Cuối năm 1827)

(Moscow)

            Sau một thời gian ngắn rời xa Mikhailovskoye, Púshkin bắt đầu chuyển hướng sang viết văn xuôi. Có thể nói rằng, trong văn học Nga, Púshkin là người đầu tiên thực sự là một tiểu thuyết gia, dù rằng vị trí của ông trong lịch sử tiểu thuyết thì không đáng so sánh với chỗ đứng ngất ngưởng mà ông đã tạo dựng được trong lịch sử toàn diện của nền văn học Nga.

            Tác phẩm văn xuôi đầu tiên của Púshkin là một quyển tiểu thuyết lịch sử, “Người Con Nuôi Của Đại Đế Pierre I”, nói về tổ tiên Epiothie bất hạnh của nhà thơ. Được sáng tác theo thị hiếu ham chuộng những bản văn viết về lịch sử tổ tiên lúc ấy đang rộ ra trong tầng lớp độc giả Nga, “Người Con Nuôi Của Đại Đế Pierre I” là câu chuyện thật về một nhân vật vùng Abyssin, thuộc Épiothie, Phi Châu, con đỡ đầu của Hoàng đế Pierre I. Người này là ông ngoại của Púshkin.

            Sau khi hoàn tất sáu chương đầu, Púshkin bỏ dở dang không viết tiếp. (Trong số đó, chỉ có hai chương là được xuất bản năm 1827, trong thời sinh tiền của nhà thơ.)

            Theo dòng kể chuyện, “gã Hắc chủng” là con trai vua Sultan, nước Ả Rập, thuở nhỏ bị bọn thương buôn bắt cóc làm nô lệ đem bán ở chợ; được một vị sứ thần Nga cứu thoát đem về dâng lên Hoàng đế Pierre đệ I. Cậu được Hoàng đế gửi sang Pháp học. Trải qua thời tuổi trẻ dưới triều đình Louis XV, chàng “Hắc chủng” đạt được vừa chức vụ đại úy lẫn cả tình yêu của một nữ bá tước xinh đẹp đã có chồng. Hoàn cảnh của hai kẻ lén lút yêu nhau bất thần bị rơi vào cơn bế tắc nhân sự chào đời của một đứa con trai da màu. Đứa bé bị đem gửi nơi xa, thế vào đó là một đứa trẻ người Pháp, để ém nhẹm dư luận cười chê của giới quý tộc triều đình. Chàng “Hắc chủng” trở về Nga nhân lời kêu gọi của Hoàng đế Pierre I. Chàng đâm ngưỡng mộ tiếng tăm và tài trí của cha đỡ đầu và nhanh chóng biến thành một cộng sự viên đắc lực của Hoàng đế, được Hoàng đế hết lòng yêu mến, tin cậy, và sau cùng là đứng ra cưới cho chàng một cô gái thuộc hàng quí tộc lâu đời ở Nga.

 

            Tới đây, bất thần bản văn bị bỏ ngang.

            Tuy nhiên, từ trang đầu đến trang cuối, Púshkin đã đưa ra cho thấy một tài năng phi phàm không ai có thể so sánh. Những đoạn tả về những người Pháp ở Paris, các tập tục theo lối Tây Phương ở Nga, dư luận chê cười của triều thần và giới quý tộc Pháp trước sự kiện một “đứa bé hắc chủng” sắp chào đời…, đều là những đoạn tả chân tuyệt diệu dưới giọng văn diễn tả thật đơn giản bình dị của Púshkin.

    

            Ngoài ra, Púshkin cũng sáng tác một tập sách giáo khoa theo lời yêu cầu của Hoàng đế Nicholas I, trong đó thi sĩ phô bày rằng, anh em cũng như bạn hữu của những người tham dự cuộc nổi loạn tháng 12/1825 phải biết nhận thức ra sự cần thiết của hình phạt mà người thân họ phải chịu.

            Trong kỳ xuất bản đầu tiên quyển sách này, Púshkin đã hai lần vẽ lên trang thứ nhất bức ảnh đoạn đầu đài với năm người đàn ông bị treo cổ. Có thể Púshkin muốn Hoàng đế Nicholas I tin rằng nhà thơ đã tha thứ cho Hoàng đế cái hình phạt treo cổ các người khởi loạn. Nhưng cảm tưởng thật của thi sĩ được diễn tả rõ ràng hơn trong bài thơ “Lời Nhắn Gửi Tới Siberia(6) viết trong cùng thời gian và được giúi gọn vào tay vợ một người trong “nhóm tháng 12” lúc ấy đang sắp sửa rời khỏi tỉnh thành để đi Tây Bá Lợi Á thăm chồng.

            Tháng 7/1827, sau đúng một năm treo cổ năm người phản loạn trong “nhóm tháng 12”, Púshkin đã viết bài thơ “Arion”, bóng gió tự nói về mình giống như kẻ duy nhất sống sót của một thế hệ bị thất bại mà đại diện là nhóm người nổi loạn tháng 12/1825.

            Cuối năm 1827, cũng trong một bài thơ khác, Púshkin đã tỏ lòng thương nhớ của mình cho “nhóm người tháng 12”. Nếu nhà thơ không chia xẻ được những hành động hoặc không thể đồng tình với quyết tâm mà nhóm người này đã trải, thì ít ra ông cũng nói lên được qua thi ca sự ngưỡng mộ lòng can đảm và nỗi thương xót cho số phận không may của họ.

 

 

VIII.

(Tháng 4/1828)

            “Cùng tất cả triều thần, cho phép trẫm giới thiệu một Púshkin mới và từ nay xin hãy quên con người Púshkin cũ đi!”

            Đó là những lời vị tân Hoàng đế đã nói khi giới thiệu Púshkin với toàn thể các quan văn võ ngay sau buổi Púshkin được triệu hồi từ Mikhailovskoye về Moscow. Tuy nhiên, sự thay đổi tâm hồn mà Hoàng đế nhận thức ra nơi Púhkin đã rõ ràng không ảnh hưởng gì đến những thói quen ngày cũ của nhà thơ.

            Sau buổi tiếp kiến Hoàng đế, Púshkin lưu lại Moscow một thời gian. Danh tiếng ông đang ở tột đỉnh và được hâm mộ đề cao bởi các phụ nữ quý tộc. Chẳng mấy chốc, Púshkin lao trở lại vào cuộc sống vô trật tự không âu lo của một kẻ độc thân như thuở trước. (Ông bị ghi vào sổ đen theo dõi của cảnh sát như một tay cờ bạc khét tiếng). Một lần nữa, nhà thi sĩ trẻ tuổi lại đốt cuộc đời mình bằng ngọn nến hai đầu, nhưng không phải là với sự hài lòng, thỏa mãn. Sự trả giá cho cái “tinh hoa sớm phát tiết” cùng “cá chất trỗi vượt hơn người” đã bắt đầu đến với Púshkin. Những ngày sống thác loạn đã để lại trên đôi môi một màu xám ngắt và trong tâm não, nỗi chán chường mệt mỏi vẫn không rời thi sĩ. Đầy dẫy trong các sáng tác thời kỳ này, niềm hối tiếc những tháng năm lãng phí tuổi xuân đã được tìm thấy rất rõ. Bài thơ trữ tình “Năng Khiếu Thất Thường” được viết ra trong ngày sinh nhật thứ 29, hiển nhiên diễn tả một tâm trạng trống rỗng lạnh lẽo lúc bấy giờ đang liên tục tấn công các giấc ngủ nhà thơ.

            Sống ở Pétersbourg trong một căn phòng tồi tàn của một khách sạn, Púshkin vẫn thường xuyên lui tới thăm bạn hữu ở Moscow. Một thời kỳ chuyển hướng lớn, đúc kết từ bao thao thức bồn chồn, bao đau khổ dằn vặt đã sắp sửa đến với ông. Dưới sự bảo trợ đặc biệt của Hoàng đế cũng như sự ngấm ngầm theo dõi của sở mật vụ, Púshkin không còn sáng tác được nhiều như trước. Thi sĩ cảm thấy mất tự do. Nói đúng hơn, tự do phải đi kèm với những điều kiện. Một lần, Bá Tước Benckendorff, giám đốc sở mật vụ đã khiển trách Púshkin vì dám đọc --mà không xin phép—tác phẩm “Boris Godunóv” cho bạn bè nghe. Trong chiều hướng này, bởi vì mong muốn được xuất bản “Boris Godunóv” mà Púshkin phải đệ trình bản sao tác phẩm cho Hoàng đế xem trước. Với cách cư xử của người bề trên, Hoàng đế Nicholas I khuyên nhà thơ nên chuyển đổi “Boris Godunóv” sang hình thức dã sử, và nhấn mạnh rằng nếu không thế thì tác phẩm sẽ bị cấm lưu hành.

            Sự sâu xé giữa tác phẩm và những mệnh lệnh của Hoàng đế trong cuộc sống, tự do được ban có điều kiện, sự vinh quang trong tả tơi dày xéo… tất cả những nỗi này đã làm cho Púshkin như muốn phát điên. Chỉ những khi đi về miền quê –thường là vào mùa thu mà thi sĩ rất ưa thích--, lưu lại trong nhà bạn bè hoặc nhà một cư dân nào đó, Púshkin mới sáng tác được nhiều. Trong bài thơ trữ tình “Gửi Thi Nhân”, thi sĩ đã phô bày rõ rệt tâm trạng của một kẻ thời lưu sống cuộc đời đáng khinh đầy những thú vui vật dục. Cho đến một lúc nào đó tâm hồn đột nhiên bừng thức dậy vì cái Đẹp thì kẻ ấy chỉ muốn lẩn trốn trong sự cô đơn kiêu hãnh mà Thiên Nhiên duy nhất mới đem lại cho được thôi.

*

* *

            Púshkin có thể “lẩn trốn chính mình và xã hội” trong vùng đồng quê, nhưng không được phép xuất ngoại. Luôn cả sự du hành sang các tỉnh lớn cũng chẳng thể chấp thuận. Trên danh nghĩa, Púshkin được Hoàng đế Nicholas I bảo trợ đặc biệt, nhưng thực thì sự bảo trợ này không đem lại lợi ích gì ngoại trừ một nỗi tổn thương lớn trong tâm hồn nhậy cảm của nhà thơ.

            Hoàng đế chỉ định Bá tước Benckendorff làm người giám hộ trực tiếp của Púshkin. Khi Púshkin không sống theo sự mong đợi của Hoàng đế thì bị Bá tước quở trách giống y hệt một cậu học sinh bị thầy giáo quở trách. Vài tháng sau khi thi sĩ tiếp kiến Hoàng đế, một bản báo cáo của Benckendorff đã được trình lên với những câu như sau: “Púshkin hầu như trở nên khuôn mẫu nhưng chẳng với mục đích gì cả. Nếu chúng ta thắng trong việc chỉ đạo thì ngòi bút và lời nói anh ta sẽ rất hữu dụng cho chúng ta.”

 

            Vào tháng 4/1828, khi cuộc chiến Nga Sô & Thổ Nhĩ Kỳ nổ bùng ra, Púshkin yêu cầu được xung vào quân đội, nhưng Hoàng thân Constantine Pavlovich viết cho Benckendorff rằng thi sĩ được hướng dẫn không phải do lòng yêu nước mà là bởi “lòng ham muốn và những nguyên tắc vô đạo đức” tiêm nhiễm trong hàng ngũ những sĩ quan trẻ. Vì vậy mà Púshkin bị từ chối.

            Thi sĩ lại lần nữa làm đơn xin đi ngoại quốc nhưng lá đơn cũng bị bác. Và ông vẫn bị nghi ngờ theo dõi bởi mật vụ. Một lần, cảnh sát đã khám phá ra trong nhà một vị sĩ quan bản thảo một bài thơ của Púshkin với câu ghi chú ám chỉ đến “cuộc khởi loạn tháng 12”. Mặc dù Púshkin giải thích rằng những giòng chữ kia được viết trước khi xảy ra cuộc âm mưu, cuối cùng, hội đồng thành phố vẫn quyết định đặt nhà thơ dưới sự canh giữ của mật vụ và buộc ông ký giấy cam kết phải đệ trình tất cả những gì sẽ viết ra cho cơ quan kiểm duyệt xem xét trước.

            Việc này mới vừa qua thì vào mùa hè 1828, Púshkin lại gặp phải một việc rắc rối khác. Ba người nông nô đã tố cáo với vị giám mục sở tại rằng ông chủ Púshkin đã làm hủy hoại niềm tin tôn giáo của họ bằng cách đọc cho nghe bài thơ “Gavriliárda” hoàn toàn theo kiểu mẫu chống tôn giáo như trong bài “La Pucelle –v. Jeanne d’Arc” của Voltaire(7) và bài “La Guerre des dieux anciens et modernes” của Parny(8), nhưng khác biệt ở chỗ không cố ý cho cuộc cổ động chống Thiên Chúa giáo mà chỉ là sự dự báo về một tuổi trẻ bất kính, ưa khoái lạc và buông thả tự do. Rút cảm hứng từ vài tiết trong sách Ngụy Phúc âm, bài thơ có cái tựa làm gợi nhớ đến tên của vị Thiên sứ thượng đẳng Gabriel, được Púshkin cấu tạo trong một thể thức hoàn hảo, nói về cuộc phiêu lưu của thánh nữ Vierge với một Ác Ma, cùng thiên sứ thượng đẳng Gabriel, và con chim bồ câu, tượng trưng cho Saint-Esprit.

            Thực sự, có nhiều lý do gây nên nơi chàng tuổi trẻ Púshkin một tư tưởng châm biếm tôn giáo mà kết quả là bài thơ “Gavriliárda”. Đầu tiên, trong những tháng ngày bị đơn độc lưu đày đến Kichinev mùa xuân 1821, sự sùng kính bắt buộc đối với  giáo hội và hoàng đế gậm nhấm trí óc Púshkin khiến ông tức giận. Ông đâm ra có tư tưởng phản kháng chống lại những quan niệm đã thành nếp cổ hủ của giáo hội. 

            Thứ hai, điều phản kháng này phải kể cũng là do từ ảnh hưởng tác phẩm “La Pucelle –v. Jeanne d’Arc” của Voltaire và “La Guerre des dieux anciens et modernes” của Parny. Tuy nhiên phải nhận rằng, ý tưởng phạm Thánh trong bài thơ Púshkin thì không thực sự độc ác, mà chỉ bắt nguồn từ cái tính tinh nghịch của ông. Hoặc đúng hơn, “sự tinh nghịch” này đã đến từ Hoàng thân Viazemski, một nhà văn tên tuổi và là bạn của Púshkin, đã gợi ý sáng tác cho nhà thơ. Mặt khác, không thể phủ nhận biệt tài sáng tạo lối thơ nhái phỏng luôn luôn quen thuộc với Púshkin. Thêm nữa, đã có một sự khác biệt rất lớn giữa “Gavriliárda” với “La Guerre des dieux anciens et modernes”. Tư tưởng Parny gây nên cuộc chiến tranh chống lại giáo hội. Còn của Púshkin chỉ là những biểu tỏ cho sự vui thú, khoái hoạt, vô tư và ham sống.

            Trước sự kiện bài thơ “Gavriliárda”, cách buộc tội của hội đồng tôn giáo hẳn nhiên là nghiêm trọng. Púshkin bèn gửi lên Hoàng đế một mật thơ thú nhận sự việc và đưa ra những lời tạ lỗi. Vì vậy, hình phạt được thông qua nhờ sự can thiệp của Hoàng đế. Song le, bài thơ vẫn duy trì cái quan trọng của nó, bởi đã giúp cho độc giả hiểu rõ hơn về một giai đoạn sống như “một con người bình thường và cũng là một thi sĩ” của Púshkin.

*

* *

            Thời kỳ này, do bởi muốn khỏi bị nghi ngờ mà Púshkin đã có không ít những bài thơ đề tặng cho các nhân vật quyền thế. Trong bài “Poltava”, nhà thơ đã ca tụng Hoàng đế nước Nga hết lòng.

            “Poltava”, bài thơ ba khúc, xuất bản năm 1822. Ở đây, bối cảnh lịch sử cuộc chiến đấu của đại đế Pierre chống lại vua Charles XII của Thụy Điển được lồng trong một câu chuyện tình cảm lãng mạn. Marie, con gái của Kotchoubey, một cận vệ trung thành của Hoàng đế, đã mê mệt say đắm theo lão già Mazeppa, thủ lãnh của sắc dân Cosaques. Muốn được sống cùng hắn, nàng phải bỏ trốn khỏi nhà cha mẹ. Kotchoubey muốn báo thù việc này, nhưng Mazeppa, để trừ khử hắn, đã tố cáo ông mưu phản. Kotchoubey bị giam và bị dày vò tra tấn ngay trong chính tòa lâu đài của mình.

            Thực sự Mazeppa mới là kẻ mưu phản trong sự liên kết với những kẻ thù của Đại đế Pierre. Một đêm kia, chứng đau dạ dầy khiến hắn không thể ngủ được, nên bước đi vẩn vơ chung quanh tòa lâu đài giam Kotchoubey. Trong bóng đêm dầy đặc, bỗng hắn nghe một tiếng hét lớn. Đó là tiếng hét cuối cùng của kẻ tử tội trước khi bị hành quyết. Phần Marie chỉ được báo cho biết cái chết sẽ xảy ra mới trong giây lát trước đó, nên cũng đành bó tay không thể cứu được cha.

            Cuộc chiến tranh ở Poltava bắt đầu. Đoàn quân của Charles XII chạy tán loạn dưới sức tấn công vũ bão của đoàn quân Nga do Đại đế Pierre chỉ huy. Chính tên thủ lãnh Cosaques âm hiểm cũng bị đuổi chạy đến cùng. Marie tiến về phía hắn, lần cuối. Có phải nàng điên? Hay lúc nào cũng yêu thương hắn? Púshkin giữ không đưa ra trong cảnh đó một dấu nét nào quá xác thực. Marie van nài Mazeppa để cho nàng chia xẻ hoạn nạn với hắn. Thình lình, miếng vải che mặt tên thủ lãnh rơi xuống: nàng nhìn thấy hắn y hệt như con người thật của hắn, một ông lão xấu xa gớm guốc mặt loang đầy máu. Thất kinh, nàng chạy xa khỏi hắn trong tiếng cười điên cuồng hoang dã.

 

            Một vài bài thơ trữ tình khác còn đi xa hơn trong việc tự hiến mình cho vị Hoàng đế. Và nhân cuộc nội loạn 1830-1831 của xứ Ba Lan, Púshkin đã diễn thuyết bằng một giọng lưu loát hùng hồn về đề tài một người theo chủ nghĩa quốc gia và một kẻ ái quốc.     

Tuy vậy, chủ đề xã hội vẫn tiềm tàng trong thi ca Púshkin. Giữa những bài tuyên ngôn được sáng tác theo ý nhà cầm quyền, vẫn còn có những vần thơ trữ tình đầy thẩm mỹ. Một lần, Púshkin phát biểu rằng, thi sĩ được sinh ra không phải để buôn bán hay gắn liền con người mình vào những cuộc chiến đấu với đời sống, mà là “dành cho cảm hứng, những âm thanh êm ái và những bài kinh cầu nguyện.”

            Sự thẩm mỹ này chứa đựng rõ rệt chủ đề độc lập trong tâm hồn thi sĩ mà chính tự nó đã là một phản đối ngấm ngầm chống lại chủ nghĩa gia trưởng chuyên chế đang đè nặng trong dân chúng. Lúc bấy giờ và về sau, dù với mục đích nào thì cũng không thể phủ nhận được điều rằng thi ca của Púshkin đã giống như luồng không khí trong lành len lỏi vào vùng không gian chứa đầy tính cách áp bức tù đày.

 

 

IX.

(Mùa đông 1828)

            Lời tuyên bố một lần của Hoàng đế Nicholas I về một “Púshkin mới” quả không sai khi mà trên cả hai mặ            t sự nghiệp và cách sống, Púshkin đã chứng tỏ được một sự dè dặt thận trọng. Vào phần cuối của chương 6 tác phẩm “Evgény Onégin” (viết trong khoảng thời gian sau cùng ở Mikhaillovskoye), Púshkin đã tỏ ra hoàn toàn giã biệt tuổi trẻ của mình. Dẫu rằng vẫn đeo đuổi đàn bà như thuở trước, nhưng bấy giờ là lúc cảm thấy phải ổn định cuộc đời, Púshkin mang trong đầu những ý nghĩ sâu xa hơn về hôn nhân, dù đã có lần nhà thơ tuyên bố rằng “hôn nhân làm tâm hồn con người nghèo đi!”

 

            Mùa đông 1828, tại một buổi dạ vũ ở Moscow, Púshkin được giới thiệu với Nathalie Gontcharova, một cô gái 16 tuổi có sắc đẹp tuyệt vời. Như lệ thường, thi sĩ vẫn luôn luôn dính líu tình cảm với vài người đàn bà đã có chồng cũng như các cô còn độc thân, trong số gồm có “người đẹp tóc vàng” được phác họa một cách kỹ lưỡng trong bài thơ “Chân Dung”, và một cô gái trẻ khác đã hơn một lần được Púshkin gọi là “một thứ yêu ma của thi sĩ.” Nhưng Nathalie Gontcharova vẫn là người gây ấn tượng mạnh nhất trong lòng nhà thơ lúc bấy giờ.

            Mùa Xuân kế tiếp, Púshkin gặp lại Nathalie và ngay lập tức cầu hôn nàng. Từ sau cuộc lưu đày ở Mikhaillovskoye, trở lại phố phường, Púshkin đã tiến hành vài cuộc hôn nhân, nhưng vì nhiều lý do mà rốt lại, chẳng lần nào thành cả. Lần này, oái oăm thay, nhà thơ bị Nathalie từ chối.

            Trong cùng ngày 1/5/1829, Púshkin vừa gửi cho bà mẹ Nathalie một lá thư cảm ơn rằng đã để cho ông hy vọng, vừa bắt đầu cuộc du lịch đến vùng Caucase từng viếng thăm 10 năm trước. Lần này, Púshkin đi sâu hơn về phía Nam.

            Một ngày kia, nhà thơ đến biên giới và nhìn thấy lần thứ nhất trong đời, vùng đất của ngoại quốc. Con ngựa đang cưỡi đi thẳng qua bờ biển Thổ Nhĩ Kỳ. Lúc ấy đất đai Thổ Nhĩ Kỳ vừa mới bị chinh phục dưới gót giầy xâm lược của đoàn kỵ binh Nga. Số phận Púshkin rõ ràng đã định không bao giờ rời thoát được sự bao la rộng lớn của nước Nga và luôn cả quyền lực Nga hoàng. Bấy giờ, thi sĩ đang ở gần mặt trận (cuộc chiến vẫn còn đang tiếp diễn) và có trong tay cái giấy phép thăm viếng người anh ruột –đang trong quân đội chiến đấu. Do đó, Púshkin được tham dự vào những trận đụng độ ít nhất với tư cách “nửa quân nhân, nửa du khách”, hoặc hơn nữa là một sử gia về giai đoạn chiến tranh này

            Hình ảnh Nathalie vẫn không mờ nhạt trong óc Púshkin dù rằng cô ta tỏ ra lạnh lùng với thi sĩ. Púshkin lại bỏ đi về miền đồng quê, cố gắng vùi đầu vào sự sáng tác, và lần nữa làm đơn thỉnh nguyện xin đi ngoại quốc, nhưng vẫn bị từ chối.

            Đầu mùa xuân 1830, người ta lại thấy Púshkin ở Moscow.

 

 



(1)  Vào khoảng 1717-1723, một cung điện bằng đá được dựng lên tại Saint-Pétersbourg, lãnh thổ mà Đại Đế Pierre I đã ban cho Nữ hoàng Catherine I. Cung điện được trùng tu nhiều lần kể từ đó. Trường Trung học Tsarskoye Sélo được thành lập trong khuôn viên cung điện vào hậu bán thế kỷ 18.

(2)  Lucius Apuleius, nhà văn Latin (Madaure, Numidie 125  Carthage 170 trước công nguyên).

(3)  Marcus Tullius Cicero, triết gia và chính trị gia người La Mã (Arpinum 106 – Formies 43 trước công nguyên.) 

(4)  André de Chenier, thi sĩ Pháp (Constantinople 1762 – Paris 1794).

(5) Décembristes (còn gọi Décabristes, phiên âm từ Nga ngữ “Dekabr”, có nghĩa ‘tháng Mười Hai’) là tên gọi của một nhóm nhỏ trong cuộc nổi dậy lật đổ Nga hoàng ngày 26/12/1825, gồm các người trong giới quý tộc có tư tưởng tự do và các sĩ quan trẻ muốn thực hiện những cải cách xã hội và chính trị cho nước Nga kể từ sau cuộc xâm lăng của Napoléon năm 1812. Cuộc chính biến xảy ra nhân dịp lên ngôi của Nicholas I (1825-1855). Nhưng bởi sắp đặt lủng củng và thiếu sự ủng hộ của quần chúng, cuộc nổi dậy tức thì bị dập tắt và những thành viên phải nhận lãnh những hình phạt rất nặng. Trong số 121 người bị đưa ra xét xử trước một phiên tòa đại hình, năm người bị treo cổ, và 102 bị lưu đày khổ sai ở Tây Bá Lợi Á. Nhưng dù thất bại, cuộc nổi dậy cũng đã gây một ấn tượng rất mạnh trên quần chúng, và được các thế hệ sau nhìn như một bước mở đầu cho cuộc cách mạng trong lịch sử cận đại của nước Nga. Trong những thập niên kế tiếp, giới chính trị và các nhà tư tưởng cấp tiến vinh danh nhóm Décembristes như những người tiên phong trong cuộc tranh đấu giải phóng nông nô. Họ cũng cố gắng, trên cách của họ, theo sau bước chân nhóm này.

(6) Có một bài thơ đáp lại thông điệp của Púshkin, gửi ra từ trong chốn tù đày Tây Bá Lợi Á và được phổ biến rộng rãi trong dân chúng, qua đó, nhà thi sĩ vô danh đã khẳng định rằng “những người trong nhóm tháng 12” rất kiêu hãnh vì sự tù đày của họ và tin tưởng rằng “Những đau đớn khổ ải của chúng ta không hoàn toàn vô ích, Một ngọn lửa sẽ được bùng cháy lên từ những tàn đốm nhỏ nhoi’.” Câu dưới, về sau trở nên là phương châm của tờ nhật báo Tia Sáng Bí Mật do Lénin làm chủ bút. 

(7)  Voltaire (tên thật Francois Marie AROUET), nhà văn Pháp (Paris 1694- 1778).

(8)  Parny (Eùvariste Désiré DE FORGES, chevalier DE), thi sĩ Pháp, (1753-1814).

Lời Tựa 


Edgar  Allan Poe
Emily Bronte
Lermontov
Paganini
Paul Gauguin 1 - 2 - 3
Pushkin 1*** -- 2 
Mozart
Modigliani

  
Trang Chủ