VII

(4/1891 – 8/1893)

            Gần hai tháng sau, ngày 8/6/1891 Gauguin tới cảng Tahiti, đúng vào ngày sinh nhật thứ 43 của ông .

            Tahiti là một thuộc địa của Pháp, lúc bấy giờ có chừng mười ngàn cư dân, hết 1/8 là người Pháp và ngoại quốc; ngay tại thủ đô Papeete khoảng ba ngàn rưởi dân, phân nửa là người Pháp, hay Pháp lai và da trắng đủ sắc. Người Trung Hoa có độ vài trăm. Phong cảnh hoang dã với núi cao, rừng thẳm, biển xanh và cây cối xum xuê. Dân bản xứ gốc người Polynesian –còn gọi là Maori-- đa số theo đạo Tin Lành; đàn bà, làn da từ màu ô liu nhạt đến nâu đậm.

            Trước đó, họ vẫn có vua riêng và một chính quyền phong kiến. Nhưng bấy giờ, Tahiti và các hòn đảo lân cận bị đặt dưới quyền cai trị chung của một viên Thống sứ Pháp người da đen, tên Lacascade, dinh cơ đóng tại Papeete. Ông vua cuối cùng của Tahiti, Pomaré V, chỉ có hư danh, vẫn còn sống khi Gauguin đến đó. Trên đường từ hải cảng về Papeete, Gauguin nhận biết rằng có nhiều người Âu Châu đã định cư tại đây, quy tụ lại trong một khu gọi là khu Pháp kiều. Người Pháp và những sắc da trắng khác đã thành lập những xưởng lọc đường, nhà máy cất rượu, xưởng chế tạo bông gòn và giây thừng.

            Khi được vào tiếp kiến Lacascade, viên Thống sứ da đen này đón tiếp Gauguin như một nhân vật quan trọng; vì vậy, Gauguin được người trong tỉnh bàn tán đến nhiều. Nhưng khi ông trình giấy giới thiệu “sứ mạng nghệ thuật”, lập tức ông bị các giới chức Pháp đánh giá  như một viên gián điệp và ra lệnh theo dõi ông trên từng hành động nhỏ. Cho đến lúc Gauguin công khai sống cùng cô gái Pháp lai Tahiti, đối nghịch lại với lệ thường che đậy của những kẻ đạo đức giả trong tỉnh, các vị giám mục và thầy tu hay rình rập đã tuyên bố rằng Gauguin là kẻ gây phiền phức rất nhiều trong dân chúng.

            Trên vài phương diện thực tế của cuộc hành trình tìm trốn tránh, thoạt đầu, Gauguin bị thất vọng dữ dội. Đi vào ngay trung tâm các hòn đảo bờ biển Thái Bình Dương, ông lại tìm thấy chính mình đang ở trong một vùng đất Âu Châu thu hẹp, tràn ngập đám trưởng giả học làm sang kiểu thực dân: một bức hí họa được thổi phồng quá mức trên những bắt chước lố bịch theo những văn minh vật chất. “Đó là Âu Châu, một Âu Châu mà tôi đã tự giải thoát khỏi, trong đó có đầy đủ những loại người đáng ghét của một xã hội trưởng giả thực dân.”

            Tuy nhiên, khi vua Pomaré V băng hà, trong buổi tang lễ, Gauguin mới bắt gặp ý niệm lờ mờ về phong tục tập quán cổ truyền của Tahiti mà ông vẫn ao ước đi tìm. Các cư dân nội địa và từ các hòn đảo lân cận đến Papeete dự đám táng. Xác vua được đặt nằm trong một căn phòng đầy hoa, thân thể bó lại bằng các hàng vải đẹp mắt; trong khi đó, hoàng hậu và các người Tahiti mặc áo choàng đen than khóc theo các câu niệm chú đúng truyền thống. Đám tang bấy giờ là một nghi thức long trọng với các bài diễn văn được đọc lên bởi các đại biểu Phi Châu, vị mục sư Tin Lành và nhiều người nữa. Trên đường về, Gauguin gặp “những người Tahiti thật sự” từ các làng quê đổ đến. Những cư dân này xử sự mộc mạc, tự do, khác hẳn dân thành phố.

            Phần Gauguin, cuộc sống đô thị làm cho ông muốn phát bệnh, tiền bạc eo hẹp phải mượn đàng này đàng kia.

            Khi gặp trong đám tang đức vua Pomaré V có những con người “Tahiti thật sự”, Gauguin tin là họ vẫn còn tồn tại ở nơi nào đó trong quần đảo. Ông bèn bán đi tất cả các vật dụng rồi dời đến một ngôi làng ở Mataiea, cách thủ đô 25 dặm dọc dài theo bờ biển Thái Bình Dương. Tại đây, sống giữa những người bản xứ mà chẳng có lấy một người da trắng nào khác, Gauguin tự tay dựng nên một mái nhà sàn từ trên cao nhìn xuống hồ nước.

            Bấy giờ, từng chút, ông cố gắng loại bỏ những điểm đặc biệt của văn minh trên con người mình; đi chân không, mặc khố và cởi trần y hệt đàn ông bản xứ, nhập đoàn câu cá với họ và tự làm quen với những phong tục cùng cách suy nghĩ của họ. Trong khi Pièrre Loti –người cũng tìm đến sống trong Tahiti và có một cô vợ bản xứ—luôn luôn vẫn duy trì trên dáng cách hình ảnh một người Tây phương văn minh ý thức được địa vị ưu đãi của người da trắng, thì Gauguin nhận thấy ông có nhiều điều cần phải học từ các người bản xứ. Ông hòa đồng với họ không khó, bởi vì “từ căn bản, tôi đã có sự lai giống hòa tan trong máu”.          

            Thoạt tiên Gauguin đem theo từ Papeete một cô tình nhân lai Pháp, nhưng chẳng bao lâu, ông gửi cô ta về thủ đô và nhận một cô bản xứ tên Tehoura làm vahiné –theo ngôn ngữ Maori có nghĩa là Vợ (người vẫn nhiều lần xuất hiện trong tác phẩm ông). “Tôi bắt đầu nghĩ ngợi đơn giản, không những để bớt đi lòng căm thù kẻ khác, mà còn để yêu họ. Tôi đang được thụ hưởng từng nỗi vui của cuộc đời, thú vật, con người, trong tự do của tôi. Tôi đã trốn thoát khỏi những giả dối và đang đi vào thiên nhiên với sự chắc chắn rằng ngày mai cũng lại giống như ngày hôm nay, tự do và thú vị.”

            Những lời viết này làm cho các người bạn ở Paris xanh mặt vì ganh tị.

            Và trước khi chấm dứt năm 1891, Gauguin đã vẽ ra những bức Tahiti đầu tiên.

            Chuyến du hành tới đảo Tahiti cũng có nghĩa đã làm hoàn tất chuyến du hành theo một khái niệm hội họa mơ ước trong Gauguin. Bức tượng về người phụ nữ Maori đứng trong tư thế hoàn toàn khác biệt hẳn với kiểu mẫu khỏa thân cổ điển, ông nhìn thấy khi thoạt đặt chân lên đảo, đã kích thích óc sáng tạo của ông. Và ông tuyên bố: “Cuối cùng tôi được tự do! Bây giờ tôi có thể vẽ, yêu đương, ca hát rồi chết!”

 

*

* *

            Thời gian này, phần lớn những bức tuyệt diệu nhất của Gauguin thành hình (như bức “Ta Matete”). Những họa phẩm đã biểu thị một mức tiến xa trên những giải quyết tư tưởng của Gauguin. Thay vì phạm vi rộng lớn của màu sắc đơn giản, bao chung quanh bởi những đường nét chắc chắn (của thời kỳ Britanni trước kia), người ta tìm thấy một nghệ thuật rõ ràng đạt suốt qua cách dùng màu đậm, nhạt và giảm thiểu đi những đường nét lồ lộ đập ngay vào mắt. Trong hầu hết mọi trường hợp, cảnh gần và khoảng cách ở giữa rõ ràng cố định; không còn nữa những vết kỳ quái trên các nhân dáng bị cắt bởi bờ rìa của nền vải. Gauguin cho thấy đã thoát khỏi khuynh hướng nghệ thuật Nhật Bản và đang hướng về một truyền thống sử dụng nhiều hơn các khoảng rộng, nghệ thuật làm mẫu và sự pha trộn màu sắc. Chắc chắn rằng trong thời kỳ này, người ta không tìm thấy nữa những bức vẽ đúng kiểu như “Vision après le sermon” hay “Chân Dung Tự Họa Với Vầng Hào Quang” trước kia.

            Vài bức vẽ người Tahiti (như bức “Ia Orana Maria”) mang chủ đề Thiên Chúa giáo, dù rằng những khuôn dáng Thánh kinh được thủ diễn bởi các người Tahiti. Với điều này, Gauguin lý luận, các người bản xứ mộc mạc sẽ tưởng như tìm thấy chính họ qua hội họa của ông.

            Một nhóm tranh khác được cảm hứng từ truyền thống và niềm tin tôn giáo của người Polynésien thời kỳ trước Thiên Chúa giáng sinh. Gauguin đã nói rõ trong tác phẩm “Noa-Noa” rằng sự hiểu biết của ông về các giáo phái cổ xưa chủ yếu thâu lượm từ người vợ bản xứ. Thực sự, điều này không đúng bởi hai lý do:

            1/ Ở Tahiti, những bí mật tôn giáo không hề được bộc lộ với đàn bà.

            2/ Truyền thống tin tưởng đã không còn nữa thời gian Gauguin tìm đến Tahiti.

            Đúng hơn, sự hiểu biết ông đề cập ở trên chỉ đến từ quyển sách của tác giả Moerenhout, một lãnh tụ người Mỹ, viết về các vùng hải đảo miền Nam Thái Bình Dương, tựa đề “Voyages aux Iles du Grand Océan”, xuất bản năm 1837. Gauguin sao chép lại nhiều đoạn từ quyển này, đem vào trong quyển “Ancien Culte Mahorie” của riêng ông, biên soạn năm 1892; và sau đó dùng chúng lần nữa gần như từng chữ một trong sự sửa soạn hình thành quyển “Noa-Noa”. Bức họa “Mặt Trăng và Trái Đất” rõ ràng cảm hứng bởi truyền thuyết trích theo đoạn văn đối thoại giữa Fatou và Hina (những thần linh của Trái Đất và Mặt Trăng trong huyền thoại Tahiti).

            Khi Gauguin vẽ những người Tahiti đang thờ cúng các tượng thần của họ, ông miêu tả cho thấy một cổ tục đã không còn tồn tại nữa ít nhất là 50 hay 60 năm trước đó. Không hài lòng với Tahiti của thời gian ông sống, qua hội họa, ông tỏ rõ nỗi ưa thích tìm kiếm sự xưa cổ trước thời kỳ phát triển văn minh Tây Phương, hay nhìn lại một cách hoài cảm thời gian Tahiti bị đặt dưới luật lệ cai trị của các vì vua Maori và bởi xã hội bí mật của người Areois (chẳng hạn bức “Phụ Nữ Với Những Quả Xoài”, 1896).

            Diễn tả về đàn bà Tahiti, Gauguin đã viết: “Sự không cân xứng trên thân thể với bờ vai rộng và cái mông nhỏ làm phân biệt đàn bà Maori cùng tất cả các đàn bà khác, thỉnh thoảng cũng là nguyên nhân khiến họ không được đàn ông ưa thích. Tuy nhiên họ vẫn mềm mại duyên dáng, bắp đùi to nhưng không bè ra, vì vậy mà trông tròn trịa hơn. Da họ màu vàng bóng; đôi mắt lúc nào cũng đắm chìm vào những giấc mơ thăm thẳm như để xuyên thủng một sự bí mật khó dò nào.”

*

* *

            Nhưng rồi chẳng bao lâu, các lá thư Gauguin gửi về Paris bắt đầu mang những lời phàn nàn theo bệnh hoạn và tiền bạc túng hụt. Đầu mùa xuân 1892, ông bị ói ra máu và phải thường xuyên đi khám bác sĩ tại Papeete. Ông viết cho de Monfreid: “Khi tôi trở lại Paris, anh sẽ thấy tôi gầy như một cô gái!”

            Gauguin hy vọng bán được tranh, bấy giờ các bức vẽ ở Britanni tìm thấy thị trường tiêu thụ ở Đan Mạch nhưng ông để cho Mette giữ hết số tiền thu vào, thành ra trong túi cũng chẳng có xu nào! Ông gửi về hàng loạt các thùng tranh vẽ ra tại Tahiti cho các nhà mại bản khác nhau, trong số có Maurice Joyant và Tanguy, luôn cả de Monfreid. Nhưng rồi các sáng tác này không được giới thưởng ngoạn lưu tâm đến, lý do dễ hiểu là họ còn quá xa lạ với nghệ thuật Tahiti của Gauguin. Nếu lưu lại trong nước Pháp và vẽ thêm nhiều bức Britanni giống như những bức cũ, chắc chắn là Gauguin sẽ bán được chúng ngay. Nhưng ông không muốn làm vậy. Ông viết cho de Monfreid: “Tôi là một người mạnh mẽ, biết cách khuất phục may rủi theo những ước muốn của mình.” Ông tin tưởng rằng nếu như trở về Paris, ông có thể chứng tỏ được giá trị của các bức Tahiti và từ đó sẽ kiếm ra tiền.

            Thêm các cay đắng bởi những xung đột giữa cá nhân với chính quyền thực dân --những kẻ kết tội Gauguin là “say sưa và luôn vây quanh các cô gái bản xứ”-- lúc nào cũng “xâm lược cái giường” ông, Gauguin bị khai trừ bởi xã hội người da trắng ở Tahiti và gần như bị thúc  đẩy phải trở về Pháp.

            Bệnh hoạn và chán nản, Gauguin đáp tàu vượt biển. Sau một chuyến đi dài mệt lử dưới các điều kiện mà chỉ những con người mạnh mẽ và đầy nghị lực như ông mới có thể chịu đựng nổi, ngày 30/8/1893, Gauguin lên bờ tại cảng Marseille với duy nhất bốn quan còn lại trong túi!

 

 

VIII

(9/1893—7/1895)

            Trở lại Paris đầu tháng 9/1893, bằng 250 quan tiếp tế của Sérusier, Gauguin mướn một căn phòng ở số 8 Rue de la Grande Chaumière. Nỗi ao ước đầu tiên của ông là tổ chức một cuộc triển lãm gần 50 tác phẩm độc đáo mang từ Tahiti về.

            Trong hai năm trải qua ở Tahiti, vùng nhiệt đới với cảnh sắc trữ tình đã mở rộng tầm nhìn và cảm xúc Gauguin, khiến ông thấm nhuần trong nỗi hân hoan của cuộc đi tìm vùng thiên đàng xưa cổ. Trong những bức Tahiti đầu tiên (“Rêverie”, “Près de la Mer”“Ave Maria”), Gauguin vẫn còn tiếp tục nhịp điệu đã tạo ra trong Britanni. Nhưng chỉ sau vài tháng, nghệ thuật ông trải rộng, đơn giản hơn trên đường nét, nhiều cộng hưởng trong màu sắc và nhiều sâu sắc hơn trong nội dung. Rõ ràng các bức tranh Gauguin đem về Paris lần này đã là những bức tuyệt diệu.

            Tuy nhiên, muốn tổ chức một cuộc triển lãm, Gauguin cần phải có tiền. Ông bèn đến gặp ông giám đốc viện Beaux-Arts –lúc ấy là Roujon—để bán những bức tranh như lời hứa của Ary Renan trước đó. Nhưng Roujon thẳng thừng từ chối bằng câu nói: “Hội họa của anh ‘cách mạng’ đến nỗi không gây được trong tôi ngay cả một lời phỉ báng!”

            Nhờ các bạn văn thi sĩ cũ góp phần trong việc tổ chức mà cuộc triển lãm được mở ra tại phòng tranh Durand-Ruel ngày 4/11/1893. Bài tựa trong quyển mục lục là của Charles Morice.

            Phần công chúng, cho dù sự tò mò bị khuấy động, và cho dù có đọc được những lời khen ngợi Gauguin của vài nghệ sĩ (Mallarmé đã kêu lên: “C’est extraodinaire qu’on puisse mettre tant de mystère dans tant d’éclat” –Kỳ diệu thay khi người ta có thể đặt để biết bao nỗi bí mật trong từng ấy màu sắc sáng lạn”), nhưng do bởi hoang mang trước kỹ thuật độc đáo của nét cọ Gauguin, cũng như bởi sự dốt nát riêng về lịch sử, tôn giáo và phong tục người Tahiti mà cả công chúng lẫn báo chí đều tỏ ra không hiểu chút gì về các bức Tahiti này. Gauguin chỉ bán được 11 tác phẩm, tổng cộng khoảng 100 đô la.

 

 

            [Về sau Pissarro viết kể với con trai về buổi triển lãm: “Degas là người duy nhất để lộ sự hâm mộ tác phẩm Gauguin. Monet và Renoir nhận thức chúng rõ ràng là tồi. Riêng cha thì nhìn thấy Gauguin (kẻ vẫn tiến hành các lý thuyết riêng của mình và từng đoan xác với cha rằng, những người trẻ sẽ tự đắm chìm họ trong sự tìm về cội nguồn hoang dã, trong đó có đặt để sự cứu độ cho họ) chỉ là một kẻ luôn luôn xâm phạm vị trí của người khác; ngay lúc này thì ông đang cưỡng đoạt sự hoang sơ của vùng biển Thái Bình Dương”.]

 

 

            Chẳng phải Pissarro là người duy nhất tỏ ra hằn học với Gauguin; luôn cả các nhà phê bình còn ăn ý với nhau khi nói đến “cái bình bể đáng tội nghiệp” (một bức điêu khắc của Gauguin), hay khi gợi ý rằng Gauguin nên thuyết phục một họa sĩ người Maori chính cống nào đó đến dựng nhà ngay trong Vườn Bách Thú ở Paris! Một nhà phê bình đã viết: “Nếu bạn muốn làm cho con cái bạn cười, hãy đem chúng đến tham dự cuộc triển lãm của Gauguin!” Khi đọc thấy câu này, Gauguin bật khóc.

            Riêng Degas đã mua bức “Hina Tefatou”. Trong buổi triển lãm, có vài người trẻ đến bên cạnh Degas, xin ông giải thích cho hiểu về tranh Gauguin. Degas không đáp thẳng câu hỏi, chỉ kể cho họ nghe câu chuyện ngụ ngôn Chó Rừng và Chó Nhà của La Fontaine. Con Chó Nhà được nuôi nấng bổ béo, có đeo giải băng nơi cổ. Con Chó Rừng gầy ốm, sống lang thang không no đủ, nhưng nhất định từ chối không đánh đổi tự do để nhận những an nhàn bó buộc. Xong, Degas kết luận với đám người trẻ: “Voyez vous? Gauguin c’est le loup!” (Các bạn biết không, Gauguin chính là con chó rừng ấy!”) Khi Degas quay lưng rời phòng triển lãm, Gauguin gọi lại, đơn giản nói: “Monsieur Degas, ông đã để quên cây gậy của ông!” và cầm trao cho Degas cây gậy có khắc trổ đem từ Tahiti về, lúc ấy đang treo trên tường nhà triển lãm.

            Cuộc triển lãm là một sự thất bại não nề. Charles Morice về sau kể lại: “Tất cả mọi dự tính đều tiêu tan cả. Không ai có bất cứ ý niệm mơ hồ nào về nỗi đau khổ đang nghiến chặt trái tim Gauguin.”

            Và Charles Morice tiên đoán: “Có lẽ Gauguin sẽ bỏ đi lần nữa... xa khỏi những suy tàn phân hủy và khỏi bè lũ chúng ta. Chính chúng ta đã đẩy Gauguin đi xa. Anh đã nói với tôi: ‘Tôi không còn muốn nhìn lại  Châu lần nào nữa.’”

            Nhưng dẫu cho tác phẩm có bị hắt hủi, Gauguin vẫn luôn nghĩ rằng mình đã đi đúng đường nghệ thuật để có thể mặc kệ tất cả mọi sự phản đối của giới thưởng ngoạn chung quanh. Ông cố gắng tỏ ra lãnh đạm, không biểu thị sự tổn thương tình cảm vô ngần mà ông cảm nhận. Ông viết cho con gái Aline: “Con bảo, nếu như bán được nhiều tranh, xin cha mua quà cho con; nhưng thật không may, cha bán không được nhiều. Dù vậy, cha cũng sẽ rất vui mà gửi vài món quà nhỏ để con đặt dưới gốc cây Giáng Sinh. Con thấy đó, con yêu dấu của cha, con sẽ không nổi cáu với cha nếu như trong nhà không có đủ tiền để sống. Một ngày kia có lẽ con sẽ hiểu rằng trên đời này, không người nào tốt hơn cha đâu!”

*

* *

            May thay, từ cái chết của người chú tên Isidore Gauguin ở Orléans, Gauguin được thừa hưởng khoảng mười ba ngàn quan. Điều này cho phép ông thuê một căn phòng ở số 6 Rue Vercingétorix, trong đó, ông trang trí theo một kiểu thức rất đặc biệt như đã làm dạo trước với căn phòng tại quán café của cô Henry ở Le Pouldu và căn lều của chính ông ở Tahiti. (Từ dữ kiện này cho thấy, tất cả mọi thứ chung quanh Gauguin đều được chuyển đổi thành nghệ thuật.) Các cửa sổ được bao bọc bằng những bức họa; thêm thắt với câu đề từ đăïc biệt: “Ici, Te farùrù” (Nơi đây, người ta làm tình). Các bức tường được vẽ lên màu vàng có đốm chấm, trên đó, Gauguin cho treo các bức tranh của chính ông, của Van Gogh hay các họa sĩ khác; luôn cả vũ khí giáo mác và cái búa man rợ của một giống thổ dân Úc Châu.

            Tìm lại được chút nào thói quen phong lưu thuở trước, vào những tối thứ năm, Gauguin mở ra những buổi tiệc nhỏ thân mật với bạn bè, có sự tham dự của Julien Leclercq, August Strindberg, Paul Sérusier và nhiều văn nghệ sĩ khác nữa.

            Đây là thời kỳ của “thói thích phô trương” bởi vì trong mọi cách ăn mặc và cư xử, Gauguin biểu lộ một sự kỳ dị “không giống ai”, đến nỗi thường lôi kéo sự chú ý chọc ghẹo của đám đông theo sau mỗi lần ông đi dạo trên đường phố. Luôn luôn ông mặc cái áo khoác ngoài màu xanh nước biển, có hàng nút bằng ngọc trai; bên trong là áo chẽn cùng màu với hàng nút dài, nơi cổ thêu những hàng sọc màu vàng và xanh lá cây; đầu đội cái mũ phớt màu xám phất phơ giải băng màu da trời; nơi tay cầm cây gậy được trang hoàng với những vết khắc man rợ có giát hạt trai rực rỡ. Để hoàn tất trang phục đặc biệt của mình, ông dắt theo một cô nhân tình da nâu, Pháp lai Mã Lai, được biết qua cái tên Annah (thường xuất hiện trong nhiều tác phẩm của ông.)

*

* *

            Trở lại Britanni lần nữa vào tháng 4/1894, có Annah đi cùng, Gauguin nối kết với Armand Seguin và Roderic O’Conor, các môn đệ cũ của ông.

            Ngày 25/5/1894, Gauguin, trên vai đeo lủng lẳng con khỉ con của Annah, cùng Annah và Séguin đi dạo trong Concarneau, một làng đánh cá nhỏ thuộc Britanni. Có vài đứa trẻ đi theo trêu chọc, ném đá vào Annah và con khỉ của nàng. Séguin dừng lại bẹo tai một đứa bé. Người cha đứa bé từ quán rượu gần đó chạy ào ra, khởi sự đánh nhau với Séguin. Gauguin vội vã lao vào trợ giúp. Các người đàn bà nhà quê hoảng sợ kêu thét lên, lôi kéo thêm vào trận đánh bốn chàng thủy thủ say từ trong quán chạy ra. Khi ấy Séguin đã nhảy xuống sông lặn mất. Trong khi Annah đứng run rẩy thì Gauguin vẫn bình tĩnh, một mình đánh nhau với năm kẻ thù và quật ngã ba người. Không may, một thủy thủ từ phía sau tấn công tới, đá mạnh vào người Gauguin làm ông ngã chúi, chân vướng vào một cái lỗ. Gã kia vẫn cứ liên hồi đá lên lưng lên cổ Gauguin bằng đôi giày đế đinh của hắn. Cuối cùng, khi cảnh sát đến, bốn thủy thủ bỏ chạy mất, luôn cả Annah, người tình mà Gauguin đã liều mạng vì cô. Gauguin được đưa về bệnh viện Pont-Aven trong tình trạng rất thảm thương. Kết quả là một bên mắc cá chân của ông bị bể, đau dữ dội, đến nỗi liên tiếp trong nhiều tuần lễ, ông không ngủ được và phải dùng đến á phiện hay rượu mạnh để làm dịu cơn đau.

            Trong khi Gauguin nằm bệnh viện Pont-Aven thì Annah bỏ về Paris, “trả ơn” cho sự bênh vực dũng cảm của tình nhân bằng hành động lục lọi phòng vẽ ông, lấy đi tất cả mọi thứ quý giá, trừ ra những bức tranh, rồi trốn mất.

 

            Cú đổ vỡ cuối cùng trong một chuỗi liên tiếp những bất hạnh đã xảy ra là sự đứt đoạn hẳn với Mette. Mette từ chối tìm đến Paris theo lời mời tha thiết của Gauguin vào đầu năm 1894 sau khi nhận biết rằng Gauguin tỏ ra chẳng muốn chia xẻ với vợ con số tiền thừa hưởng từ cái chết của ông chú. Trong một lá thư gửi Schuffenecker, Mette đã viết: “Nếu anh ấy cần gặp chúng tôi, anh ấy biết tìm chúng tôi nơi đâu. Còn tôi, tôi không bao giờ cho phép mình chạy rông khắp nơi như một con điên.”

            Tháng 9/1894, Gauguin nói với de Monfreid rằng đã quyết định sẽ bán tất cả các tác phẩm và đi đến sống trong vùng biển Thái Bình Dương.

            Tháng 1/1895, trong cuộc “mây mưa” với một cô gái làng chơi ở Montparnasse, Gauguin bị vướng bệnh giang mai.

*

* *

            Bạn hữu lại sắp xếp để làm một cuộc bán đấu giá khác cho Gauguin tại Hôtel Drouot, kiếm tiền lên đường sang Tahiti lần nữa.

Sau khi tham dự buổi biểu diễn đầu tiên đầy thành công vở kịch “Người Cha” của August Strindberg, kịch tác gia người Thụy Điển, tại Théâtre de l’Oeuvre, Gauguin mang ý nghĩ muốn nhờ Strindberg viết bài giới thiệu cho cuốn mục lục tranh trong cuộc bán đấu giá sắp đến của ông. Nhà viết kịch hồi âm bằng một lá thư dài, giải thích rằng ông ta phải từ chối lời yêu cầu bởi vì “không thể hiểu thấu” được nghệ thuật Gauguin và “lại cũng không thích nó.” “Nhưng tôi biết rằng sự thú nhận này sẽ chẳng làm bạn ngạc nhiên, cũng không xúc phạm bạn. Tôi nghĩ, dường như sự cừu địch của kẻ khác chỉ càng làm cho bạn có thêm sức mạnh. Cá nhân bạn, khát khao gìn giữ tính nguyên vẹn cổ xưa, xem ra lại rất hạnh phúc trong mối ác cảm mà sự hoang sơ này đã khích động lên kẻ khác.”

            Và Strindberg bào chữa cho sự từ chối bằng lời diễn tả: “Trong các giấc mộng ban đêm, tôi luôn bị ám ảnh bởi những bức tranh đầy mặt trời mà tôi nhìn thấy trong phòng tranh của bạn. Bạn đã sáng tạo một trần gian và thiên đàng mới. Nhưng còn tôi, kẻ yêu sự phối hợp giữa ánh sáng và bóng tối, lại không nghe dễ chịu được trong vùng ánh sáng bừng bừng rực cháy của bạn. Cũng thế, trong thiên đàng của bạn có ngự trị một bà Eva không phải là mẫu đàn bà lý tưởng của tôi.”

            Rồi tác giả quyển “A Madame’s Defense” so sánh Gauguin với một người cổ sơ thù ghét văn minh; một Titan (trong huyền thoại Hy Lạp) ganh tị với đấng Tạo Hóa; một đứa trẻ muốn cầm lấy những món đồ chơi của mình bẻ ra thành từng mảnh nhỏ rồi cấu tạo nên một cái mới khác. Lá thư kết thúc với câu: “Chúc bạn lên đường may mắn. Chỉ cầu xin bạn một điều, là hãy trở về và đến thăm tôi lần nữa. Có lẽ lúc ấy tôi sẽ học được cách hiểu tác phẩm bạn khá hơn và sẽ có thể viết một bài tựa thật sự cho một tập mục lục khác trong một Hôtel Drouot nào đó, bởi vì chính tôi cũng đang cảm nhận nỗi cần thiết lớn lao để chuyển đổi tư tưởng thành hoang dã và sáng tạo một thế giới mới.”

            Lá thư đáp trả của Gauguin gửi Strindberg có những câu sau đây: “Tôi mang ý nghĩ mời bạn viết bài tựa cho cuốn mục lục kể từ khi tôi nhìn thấy bạn, vừa đàn guitare vừa hát, lại cũng vừa quan sát với đôi mắt xanh của người miền Bắc Âu, những bức họa trong phòng tranh tôi. Sở dĩ xin bạn là bởi vì khi ấy từ bạn, tôi nhận thức rõ được nỗi xung đột giữa sự văn minh làm bạn đau khổ với tính cổ sơ đã làm cho tôi hồn nhiên tươi trẻ. Bà Eva đã bị khai hóa trong thế giới văn minh khiến bạn –và hầu hết các nam nhân—đâm ra ghét phụ nữ. Trong khi bà Eva xưa cổ –mà bạn đã sợ hãi khi nhìn qua các bức tranh tôi—chỉ là một bà Eva trần truồng tự nhiên, không làm trơ trẽn đôi mắt chúng ta như bà Eva rất đẹp của bạn đã tạo...”

            Toàn thể hai lá thư được in vào cuốn mục lục tranh đã làm sửng sốt bối rối không ít cho khách thưởng ngoạn trong cuộc bán đấu giá tại Hôtel Drouot ngày thứ hai, 18/2/1895.

            Giữa gần 50 tác phẩm, chỉ có 9 bức được mua, trong số đó Degas mua hai bức “Vahine no te vi”“Olympia” (phỏng theo tranh Manet). Tổng số thu vào lên đến 19.664 quan, nhưng trừ đi mọi phí tổn, tiền hoa hồng và các bức Gauguin phải mua trở lại, ông chỉ còn được trong túi 1.430 quan.

            Đau đớn từ bệnh viêm cuống phổi kinh niên, Gauguin ao ước được sưởi ấm trong vùng mặt trời Polynesien lần nữa. Tuy nhiên, ông phải lưu lại Paris thêm vài tháng để chữa cho dứt bệnh.     Thời gian này, ông đến làm việc trong xưởng điêu khắc của Chaplet và cấu tạo nên tác phẩm tuyệt vời nhưng thật đáng kinh hãi “Oviri”, trình bày một nhân dáng phụ nữ với đôi mắt ốc nhồi, đang bóp cổ một con quái vật trong khi nó đang làm cho bà thụ thai. Tác phẩm không được nhận trưng bày trong cuộc triển lãm nghệ thuật hàng năm do Viện Beaux-Arts tổ chức.

            Gauguin liên lạc với vài nhà mại bản tranh, trong số có Levy và Chaudet, được họ cam kết rằng sẽ mua hết các bức tranh ông gửi từ Tahiti về Paris.

            Ngày 6/5/1895, Gauguin chào tạm biệt de Monfreid -- lúc ấy đang sắp sửa đi nghỉ hè ở vùng núi Pyrénées nhưng long trọng hứa không bao giờ bỏ rơi Gauguin trong cơn hoạn nạn.

            Sau khi bán vài bức tranh đây đó, nhà họa sĩ sẵn sàng để rời khỏi nước Pháp. Charles Morice (thi sĩ và cũng là phê bình gia người Pháp, 1861-1919) nói lời giã từ với ông trong tờ Le Soir số 28/6: “Ngày mai, một nghệ sĩ vĩ đại –người rõ ràng đã phát bệnh vì thế giới Tây phương này của chúng ta—đang để Paris, nước Pháp, Âu Châu lại đàng sau với không chút nào ý định trở lại.”

            Ngày 3/7/2895, Gauguin đáp chuyến tàu Australien, ra khơi ở hải cảng Marseilles, và từ đây vĩnh viễn từ bỏ quê hương.

 

 

IX

(8/1895 –9/1901)

            Cuộc viếng thăm Tahiti lần thứ nhất có nhiều điều thi vị mộc mạc; nhưng lần thứ hai lại biểu tượng cho toàn thể một thời kỳ nghèo khó, bệnh hoạn và eo hẹp tiền bạc không ngừng quấy nhiễu Gauguin. Cái xương mắc cá bể dạo trước nay đau nhức trở lại; thêm vào đó là hiệu quả của bệnh giang mai bị nhiễm ở Montparnasse bắt đầu hành hạ ông. Bàn chân Gauguin xưng vù lên, tạo nên mọi điều đau đớn khó chịu, đến nỗi trong một thời gian dài, Gauguin hoàn toàn không thể làm việc.

            Ngoài ra, trừ một số nhỏ bất thường từ Chaudel ở Paris gửi sang, Gauguin không nhận được món tiền bán tranh nào của bạn bè hay các nhà mại bản. Khi khám phá rằng Mette đã buộc Schuffenecker phải gửi cho bà một loạt tranh của chồng, Gau- guin kêu lên: “Một người vợ Đan Mạch thì lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình! Từ lâu rồi, tôi đã không có nghĩa gì với họ; nhưng kể từ bây giờ, chính họ mới là người không còn nghĩa lý gì đối với tôi! Tôi sẽ không bao giờ cần biết đến họ nữa.”

            Tất cả bạn hữu Paris đều thưa thớt thư từ, chỉ còn mỗi George-Daniel de Monfreid vẫn trung tín trong tình bạn, bấy giờ đang xúc tiến việc giao dịch với chừng 15 nhà mại bản, những kẻ đồng ý trả 160 quan cho mỗi bức tranh Gauguin sẽ gửi về.

            Đã quá bực tức bởi “tai ương tiền bạc” (dù rằng Gauguin từng thú nhận với de Monfreid “bất cứ khi nào tôi có tiền trong túi và hy vọng trong tim, tôi tiêu phí không tiếc tay ngay!”), Gauguin càng thêm đau khổ vì hậu quả của tai nạn xảy ra ở Britanni và chứng bệnh giang mai bị vướng ở Montparnasse (trong thời kỳ ấy không thể nào chữa khỏi). Ông than thở với de Monfreid: “Sức mạnh tôi đã tiêu tan do từ sự sự hủy hoại của những đêm mất ngủ và những ngày đau đớn vì cái chân xưng vù, biến thành màu chàm thẫm. (...) Tôi đợi chờ nơi đây giống như con chuột bị nhốt trong cái thùng quẳng dưới đáy biển sâu.”

 

 

            [Về sau người ta thường hay tưởng tượng hình ảnh Gauguin đứng ngồi uể oải dưới những tàng cây ăn trái trong khi các cô gái vùng hải đảo nhảy múa chung quanh làm vui cho ông. Thực sự, nếu ông uể oải là do bởi đôi chân đau nhức không bước đi dễ dàng được. Nếu các cô gái hát cho ông nghe là do đôi mắt ông sắp phải mù vì bệnh giang mai. “Ánh sáng đôi mắt tôi hầu như không còn nữa”, Gauguin đã nói như thế với vị bác sĩ.]

 

 

            Chẳng thể chịu đựng lâu hơn nữa, ngày 6/7/1896, Gauguin phải xin đến chữa trị tại bệnh viện “dành cho người nghèo” ở Papeete. Tại đây, ông được tiêm á phiện để làm dịu cơn đau.

            Sự thật, ông đã không nhập viện. Ông viết cho Charles Morice hay về điều này như sau: “Những nhân viên bệnh viện sỉ nhục tôi đủ cách. Sau hàng lố những điều bắt buộc tôi phải làm, bấy giờ họ cấp cho tôi một cái thẻ nhập viện với phí tổn phải trả là 5 quan một ngày, trên có đề chữ ‘nghèo khổ’. Như bạn có thể hiểu, dù rằng rất bệnh, tôi cũng phải từ chối sự hòa lẫn chung với lính tráng và đầy tớ. Sự thật, ở đây cũng như ở Pháp, hoặc tại bất cứ nơi nào, kẻ không có tiền luôn luôn bị đối xử rất tệ. Tuy nhiên, điều tôi vừa nói chỉ có ý nhắm vào các người Âu Châu ở Papeete; chứ còn các thổ dân trong vùng tôi cư ngụ, họ rất tử tế và đáng kính trọng.”

            Charles Morice khi nhận thư, biết ra những đau khổ này, đã đi đến viện Beaux-Arts để nài xin giám đốc Roujon nhận cho trang trí vài bức tranh Gauguin trong viện, nhờ đó Gauguin có thể hưởng được tiền huê hồng; nhưng Roujon đấm thùm thụp lên tay ghế mà trả lời: “Không bao giờ! Ngày nào tôi còn ngồi ghế giám đốc này, ngày đó Monsieur Gauguin sẽ không được hưởng gì của nhà nước.”

            Dù vậy, từ lá đơn của một nhóm nghệ sĩ do Puvis de Chavannes đại diện ký, Roujon bị thuyết phục là “phải nên làm cái gì đó cho một nghệ sĩ Pháp đang đói khổ trong cuộc sống tha hương”, nên đồng ý gửi đến Gauguin 200 quan như một kiểu “khích lệ nghệ sĩ”.

            Biết rõ mọi chuyện khi đang còn rất bệnh, lúc tiền tới tay, Gauguin gửi trả lại cho Roujon. Sau đó họa sĩ viết cho de Monfreid: “Suốt đời, tôi luôn cố gắng tranh đấu thoát ra, không để phải chịu ơn mưa móc của chính quyền. Tôi đã không ngừng hy sinh mọi thứ hầu giữ gìn chân giá trị của mình; không bao giờ thèm cầu xin nơi nhà nước. Tất cả cố gắng của tôi sẽ mất hết giá trị nếu ngày nào tôi bắt đầu ngỏ lời van xin chính quyền.”

            Tình trạng sống bi thảm của Gauguin được phản ảnh lại trong hàng loạt bức họa mà ông thực hiện trong những tháng năm này. Bức “Chân Dung Người Nghệ Sĩ (Tại Golgotha”) được vẽ ra năm 1896 sau một tràng những bất hạnh liên tiếp đưa đến khiến ông phải kêu lên: “Tôi thật nản chí, tuyệt vọng và không thể nghĩ  được còn điều gì tệ hơn sẽ xảy ra.”

            Khuôn mặt xanh lướt, vóc dáng tiều tụy, nét đau khổ cùng cực lộ hẳn nơi Gauguin. “Cuộc du hành sang Tahiti lần này là một cuộc phiêu lưu điên rồ, buồn bã và gớm ghiếc. Tôi nghĩ, chỉ có cái chết mới giải thoát giùm tôi khỏi tất cả mọi đau khổ.” (Folle mais triste et enchantée aventure que mon voyage à Tahiti... Je ne vois rien sinon la mort qui délivre de tout), ông thú nhận như thế với de Monfreid. Và thêm: “Càng già, tôi càng thấy mình trở nên hoang dã.”

 

 

            [Cũng vậy, trong bức “Le Cheval Blanc” màu sắc hài hòa ảm đạm của thời kỳ 1897-1898, họa sĩ đã biểu thị rõ ràng cho thấy nỗi đau khổ tuyệt vọng của mình như thế nào.]

 

 

            Nhưng, giữa sự bệnh hoạn và quá độ khó khăn vật chất, dù luôn luôn bảo rằng không thể tiếp tục cưu mang đời sống hơn nữa và phải bỏ rơi hội họa, Gauguin vẫn tiếp tục vẽ trong sự can đảm ghê gớm, với những màu sắc sáng lạn. Qua nét cọ, ông miêu tả về huyền thoại và phong tục Polynésia mà ông học từ sách vở hay từ chính ngay những giao tiếp với các người bản xứ đang cùng ông chia xẻ đời sống.

 

 

            [Trong chuyến khởi hành từ Marseilles đi Tahiti ngày 3/7/1895 trước đó, Gauguin đã viết cho Charles Morice những lời như sau: “Không có gì lưu lại cho tôi nơi xứ sở xa xôi ấy, ngoại trừ ngôi mộ của chính tôi, giữa sự tĩnh lặng và những cánh hoa”.]

                                                                   

 

            Tư tưởng chết quấy rầy ông, nhưng ông không làm gì để ngăn chận nó đừng đến.

            Ngày 3/3/1897, Gauguin gửi 8 bức tranh về cho de Monfreid; trong số gồm bức tự họa, có ghi chữ “à l’ami Daniel”, một món quà cho người bạn trung thành. Một sáng tác khác là bức khỏa thân mang tựa đề “Không Bao Giờ Nữa”.

 

            Không bao giờ nữa!

            Trong một lá tư ngắn gọn, Mette báo cho Gauguin hay là con gái Aline của họ đã chết tại Copenhagen ngày 18/1/1897. “Tin đưa đến không làm tôi xúc động chút nào”, Gauguin viết cho de Monfreid.

 

 

            [Về sau, ông tỏ thật cảm nghĩ mình với Molard, một người bạn nhạc sĩ tại Paris: “Tôi xấu hổ mà thú nhận rằng khi nhận tin dữ từ vợ tôi, đôi mắt tôi ráo hoảnh và tôi không trả lời nàng. Từ khi còn bé, sự bất hạnh không ngừng đeo đuổi tôi. Chưa bao giờ tôi gặp may, chưa bao giờ biết đến niềm vui. Tất cả luôn luôn chống lại tôi, đến nỗi có lần tôi phải kêu lên: ‘Thượng Đế ơi, nếu Ngài có thật, tôi sẽ tố cáo Ngài về sự bất công đầy nham hiểm mà Ngài đã đổ lên cuộc đời tôi.’”]

 

 

            Đã tuyệt vọng, Gauguin càng thêm tuyệt vọng. Ôi! Aline, con người duy nhất trong gia đình đã tỏ ra không ghê tởm khuôn mặt đói ăn của ông trong lần gặp gỡ cuối tại Copenhagen, kẻ vẫn còn yêu thương và mong chờ ngày trở lại của ông.

            Tháng 10/1897, Gauguin viết cho de Monfreid: “Lá thư này có lẽ là lá cuối cùng tôi gửi đến bạn. Nếu không có gì xảy ra trong tháng này, tôi sẽ phải chấp nhận một quyết định.”

            Tháng 11/1897: “Nếu có điều gì đưa đến, tôi xin bạn hãy giữ tất cả các bức họa tôi đã gửi cho bạn như một hình thức tưởng nhớ đến tôi.”

            Và viết cho Charles Morice: “Trái tim tôi bị nhói rất nhiều. Tôi nghe đau đớn và mỗi ngày đều bị ói ra máu. Có lẽ tôi không được nhìn thấy cuốn Noa-Noa in ra trước khi chết...”

            Ngày đầu tháng 12/1897, Gauguin không nhận được tiền bán tranh từ Paris gửi đến, nhưng lại nhận tờ Revue Blanche số tháng 10/1897, có xuất bản một phần tác phẩm “Noa-Noa”.(8)

            Mùa Giáng sinh đến, sự cô đơn càng dữ dội hơn trong lòng Gauguin. Ông viết cho Mette sau ngày sinh nhật thứ 49 của mình: “Có thể nào lương tâm em vẫn yên ổn để không đón chờ cái chết như một sự giải thoát?”

            Ông cũng phá tan sự im lặng trong lòng theo cái chết con gái: “Giống như mẹ anh, tên con là Aline. Nấm mồ con ở xa kia với những cánh hoa mọc đầy trên đó, tất cả những thứ ấy đều chỉ là ảo ảnh. Nấm mồ thực sự của Aline là ở đây, ngay giữa trái tim anh; những giọt nước mắt anh là những cánh hoa cho con gái.”

            Trong các bức tranh vẽ ra thuở trước, Gauguin tự đồng nhất mình với Chúa Jésus lúc bị đóng đinh trên đồi Golgotha. Nay ông tin chắc điều đó, –như đã viết cho de Monfreid lúc nghe tin chết của Mallarmé rằng “Nghệ sĩ là kẻ phải sống và chết cho nghệ thuật của họ.” Gauguin đã thất bại trong việc đi tìm một Thiên Đàng Đã Mất và biết rằng không bao giờ có thể tìm được nó trong suốt cuộc đời này.

            Thế nhưng, ngay bờ vực của sự đau khổ tuyệt vọng, nỗi kiêu hãnh kéo Gauguin về với hội họa và ông lại tiếp tục vẽ với một nghị lực hoang dã. Trong trạng thái này, ông sáng tạo ra tác phẩm vĩ đại “d’Où venons-nous? Qui sommes-nous? Où allons-nous?” (Chúng ta từ đâu đến? Chúng ta là ai? Chúng ta sẽ đi về đâu?) mà Jean Leymarie đã gọi là “lời thú tội cao cả của Gauguin trước Thượng Đế.”

            Bức tranh dài gần 4 mét, trình bày “một nhóm nhân dáng được đặt ngồi bên này hay bên kia, ở giữa là một người đàn ông trên người đeo vỏn vẹn chiếc khố, đang giơ hai cánh tay lên mà hái lấy một quả trên cây” này có thể được gọi là một bản đại hòa tấu tuyệt diệu, một tác phẩm bậc thầy, trong đó quy tụ tất cả trái chín trong nghệ thuật Gauguin, từ màu sắc, cách cấu trúc cho đến tư tưởng và ước muốn. Một sự diễn tả sâu thẳm ý nghĩa về những giấc mơ hoang dã, hài hòa giữa màu xanh da trời, màu vàng và xanh lá cây Verronesse tươi sáng, tạo nên ảo tưởng kỳ diệu về một đời sống đầy tính chất thiên đàng.

            Để đi đến cường độ diễn tả ấy, Gauguin đã phải lặn chìm rất sâu trong những thống khổ tinh thần và thân xác. Bức tranh này không chỉ đại diện cho một sự giải thoát, mà còn nói lên điều, dưới ảnh hưởng của thiên nhiên trên hòn đảo hoang dã, ảo tưởng của Gauguin sống dậy dữ dội hơn để đạt được tới điểm tuyệt đối tự do.

Lớn lên trong thế giới văn minh Tây phương, và ngay cả từ trước khi đến Tahiti lần thứ nhất, Gasuguin vẫn luôn bị lôi cuốn bởi các vấn đề của con người thời cổ đại. Bức “d’Où venons-nous? Qui sommes-nous? Où allons-nous?” thật đã phơi bày rõ nỗi băn khoăn không ngừng ấy trong tâm hồn họa sĩ.

            Dù vậy, ý nghĩa chính xác của bức tranh vẫn luôn mờ tối, giống như Gauguin đã viết: “Giấc mơ của tôi thì mơ hồ, không thể hiểu thấu và cũng không bao gồm điều ẩn dụ nào cả.”

            Và ông đặt “tất cả nghị lực, tất cả đam mê đau đớn nhất” vào trong ấy, như lời thư viết cho de Monfreid. Ông cũng nói với bạn rằng ông “ngưỡng mộ tác phẩm, giống như một ảo tưởng tuyệt vời bắt nguồn từ hội họa, làm cho cuộc sống càng thêm phong phú” (...) “Trước khi chết, tôi muốn sáng tạo nên một tác phẩm lớn vẫn cưu mang trong óc. Trọn cả tháng, tôi nồng nhiệt vẽ ngày vẽ đêm (...) Tôi tin rằng, tác phẩm này không những chỉ vượt trội tất cả những bức đi trước, mà rồi cũng sẽ không bao giờ tôi còn tạo được tác phẩm nào khác hay hơn.” (...) “Bây giờ thì tôi chỉ muốn được yên tĩnh, yên tĩnh và hoàn toàn yên tĩnh. Tôi cũng muốn chết trong an bình và quên lãng. Nếu tôi phải tiếp tục sống thì mong được sống trong an bình và quên lãng.

            Vấn đề sẽ thế nào giả như tôi là học trò của Sérusier hay Bernard? Và nếu tôi đã làm nên một tác phẩm đẹp thì không gì có thể giấu đi được sự thật. Nhưng nếu tác phẩm tôi vô giá trị, tại sao phải cố gắng bao bọc chúng lại trong sự lừa đảo mà bảo rằng chúng có một giá trị nào đó? Dù sao chăng nữa, xã hội sẽ không bao giờ có thể lên án tôi bởi vì tôi đã không dối trá.”

            Kết quả rõ ràng là bức họa vĩ đại lưu lại cho đời sau, trong đó, Gauguin đã tự chứng tỏ được sự vượt trội của chính mình.

 

            Cuối tháng 12/1897, Gauguin vẫn không nhận được lá thư nào từ Paris gửi đến. Tuyệt vọng và đau khổ, ông bèn cầm trong tay chai Arsenic (chất thuốc vẫn dùng để rắc vào cái chân đau nhức), đi qua những đồn điền dừa, nằm dài ra giữa đám cây dương xỉ và nuốt chất độc vào miệng, trong khi mắt vẫn nhìn đăm đăm ra biển, hy vọng rằng những con kiến rừng sẽ cắn nát thân xác ông. Nhưng bởi vì uống quá liều nên sau đó không lâu, Gauguin ói ra hết chất thuốc. Và ông kể với de Monfreid: “Cuối cùng, sau một đêm đau đớn khủng khiếp, tôi trở về nhà. Trọn một tháng tiếp đó, tôi nghe hai bên thái dương thật khó chịu vì những cơn xây xẩm choáng váng. Tôi lại phải luôn luôn bị nôn mửa ra tất cả những gì ít ỏi đã ăn vào bụng.”

 

             [Qua các lá thư viết gửi về de Monfreid thời gian này, Gauguin bày tỏ cho thấy tình trạng sống thiếu thốn, sự làm việc vất vả, sự chiến đấu với bệnh hoạn, những ngông cuồng, nỗi đau đớn thể xác, sự bất ổn tâm tư, nỗi ám ảnh tình dục, kết quả tàn hỏng của lòng kiêu ngạo bị thương tổn, những tranh chấp vô hiệu quả với chính quyền thực dân da trắng... Nhưng ông vẫn tuyệt đối tin tưởng các họa phẩm của mình sẽ “lưu lại vĩnh cữu như những tác phẩm của một thiên tài”. Ông cũng tâm sự với de Monfreid về lòng ghét bỏ đối với Emile Bernard, kẻ đã “phản bội niềm tin” trong ông. Với Schuffenecker, người khuyên nhủ Gauguin “nên xin làm việc với chính quyền thực dân cho qua cơn túng thiếu”, Gauguin trả lời bằng những lời thư nghiêm trang rằng ông “sẽ không bao giờ van vỉ, hay bỏ rơi sự độc lập bởi những xin xỏ giúp đỡ từ bất cứ ai.”]

 

 

            Người đàn ông mặc khố y hệt dân bản xứ nhưng có đôi mắt của một người văn minh, luôn kêu nài rằng không muốn được ca ngợi hay có được danh vọng, nhưng lại chờ đợi trong lo ngại theo sự phán xét của vài người bạn ở xa trên những tấm canvas được gửi về! Cuộc sống đơn giản không hoàn toàn khiến Gauguin thỏa mãn; ông vẫn còn ý thức đến sự hâm mộ và quan tâm của các người kế tục trên những gì ông đã tạo ra.

*

* *

            Cùng thời gian này, Gauguin không ngừng lưu tâm đến sự liên hệ của màu sắc và âm nhạc trong các bức tranh ông vẽ. Qua cuộc phỏng vấn của tờ Écho de Paris ngày 13/5/1895, trước khi khởi hành đi Tahiti lần thứ hai, Gauguin khẳng định rằng màu sắc sử dụng tùy tiện sẽ trực tiếp hữu hiệu trên xúc cảm con người. Được hỏi tại sao lại như thế, chẳng hạn như vẽ các con chó màu đỏ và bầu trời màu hồng, Gauguin trả lời: “Tất cả mọi điểm trong tác phẩm tôi đều được tính toán một cách có chủ tâm. Đó là âm nhạc, nếu bạn muốn nghĩ thế. Môït sự diễn tả trực tiếp không hàm ý nghĩa, nhưng giống như âm nhạc, nó kích thích đầu óc mà không cần đến sự trợ giúp nào của tư tưởng hay hình ảnh.”

            Lúc người phỏng vấn hỏi tại sao ông không muốn được phân loại như một người cách mạng, Gauguin đáp: “Thật là một câu hỏi khôi hài! Trước kia Roujon cũng hỏi tôi điều ấy. Tôi đáp rằng, tất cả các nghệ sĩ mà tác phẩm của họ không giống với tác phẩm người đi trước thì đều được gán cho cái tên cách mạng.”

 

 

            [Sérusier kể lại, trong một dịp chuyện trò, ông nghe Gauguin nhấn mạnh: “Cây cỏ thì màu xanh. Đúng rồi, hãy vẽ nó ra với màu xanh đẹp nhất trên dĩa màu của bạn.” Và trong một dịp khác: “Màu sắc trong ống thuốc vẽ không phải là màu sắc của thiên nhiên. Nếu bạn thấy bóng tối trong mắt nhìn bạn là màu xanh nhạt, cứ vẽ nó ra với màu xanh nhạt nhất mà bạn có.”]

 

 

            Trong phản ứng chống lại phái Ấn Tượng, Gauguin được coi như một người tiên phong của nghệ thuật hiện đại trong việc tìm về nguồn cội thô sơ của thời cổ đại. Người ta đã từng biết Gauguin tỏ lòng ngưỡng mộ nền điêu khắc Nhật Bản và Romanesque như thế nào. Trong khi sống với Schuffenecker ở Paris đầu năm 1888, Gauguin khởi sự làm những tác phẩm điêu khắc bằng gốm dựa trên những đồ gốm cổ xưa chưng bày trong Viện bảo tàng Guimet. Năm kế tiếp, 1889, ông trình bày một tượng thần Peruvian qua bức chân dung “La Belle Angèle”. Năm 1889, từ một căn lều của người Java tại Hội Chợ Quốc Tế Paris, ông mang về nhà bức tượng một cô vũ nữ Java bằng gỗ theo hình trụ và dùng làm cảm hứng để khắc một tượng khác cho chính mình. Khi đi đến Tahiti, Gauguin đem theo ít nhất là hai bức hình chụp về đền thờ Bârâbadour của người Java và một bức vẽ trên tường của Ai Cập. Bức “Ia Orana Maria” được rút hình dáng và bộ tịch từ các tượng Java này và bức “Faa Iheihe”, một trong những sáng tác trữ tình và bí mật nhất của Gauguin, chào đời năm 1898, chính đã phô bày khái niệm “giống như tượng thần” trong óc họa sĩ. Cảm hứng về những bức vẽ trên tường của Ai Cập thì hiển nhiên được nhận rõ trong “Ta Metete” của năm 1892.

            Say mê nghệ thuật Polynesian, Gauguin cấu tạo hình dáng nhân vật tác phẩm giống như các tượng thần cổ xưa theo một quy ước tương tự. Trong phương diện này, ông là người có ảnh hưởng rất lớn trên nghệ thuật thế kỷ 20. Sự khám phá giá trị đẽo hình bằng gỗ ở Phi Châu, sự khai triển của phái Cubisme, Fauvisme và những họa sĩ phái Expressionisme Đức đều chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi Gauguin. Mặt khác quan trọng không kém chính ở sự việc Gauguin là người đầu tiên đã làm sống dậy nghệ thuật tranh khắc trên gỗ mà khoảng giữa thế kỷ 19 đã gần như bị thoái hóa bởi hàng khối tranh mô phỏng những bức vẽ bằng mực (giống như những bức của Gustave Doré.)

*

* *

            Tháng 5/1898, ở Paris, Daniel de Monfreid mở ra một cuộc triển lãm riêng tại phòng vẽ của ông, giới thiệu những bức mới nhận từ Gauguin, trong số có cả bức lớn “d’Où venons-nous? Qui sommes-nous? Où allons-nous?” với một số khách giới hạn gồm Degas, Renoir, Redon, Carrière, Rodin, Mirbeau, Arsène Alexandre, Geffroy, diễn viên Coquelin, Anatole France và các biên tập viên tờ Revue Blanche. Còn những “môn đệ” của Gauguin thì tuyệt đối bị ngăn chận không cho tham dự.

            Trong dịp này, Ambroise Vollard (nhà văn cũng là nhà mại bản tranh người Pháp, 1868-1939) đã mua 8 bức, rồi sau đó cho triển lãm lại bức lớn “d’Où Venons-nous?..” tại phòng tranh riêng của ông ta.

            Cũng nhờ số tiền bán tranh này mà Gauguin trả được hết các món nợ cũ và cuộc sống bắt đầu dễ chịu ra.

*

* *

            Khi căn nhà của Gauguin ở Tahiti liên tiếp bị kẻ trộm quấy phá rồi chuồn mất, Gauguin nghĩ rằng ông đang là nạn nhân của một chính quyền thờ ơ đối với đời sống của dân. Ông đệ trình vấn đề lên Charlie, ủy viên công tố. Nhưng bánh xe công lý quay quá chậm; vì vậy, Guaguin công khai gửi một lá thư đến nhờ đăng trong tờ Les Guêpes, xuất bản hàng tháng tại Papeete, trong đó, ông thách thức Charlie một cuộc đối thoại tay đôi. Charlie không trả lời; Gauguin bèn đăng thêm nhiều bài khác, luận điệu công kích chính quyền.

            Phấn khởi bởi những điều này, Gauguin đứng ra thành lập riêng một tờ nguyệt san trào phúng 4 trang, lấy tên Le Sourire (Tiếng Cười), trong gồm những bức hí họa do chính ông vẽ. Thất bại một nỗi là tờ báo chỉ được bán bằng cách “chuyền tay nhau”.            Số đầu tiên (ra ngày 21/8/1899) Gauguin nhắm mũi dùi vào luật sư Goupil và đường hỏa xa Papeete – Mataiea mà ông này dự trù sẽ thành lập vì nhu cầu riêng của công việc.

            Tài luận chiến của Gauguin lọt vào mắt Cardella, chủ nhân tờ Les Guêpes thuộc nhóm ủng hộ Thiên Chúa giáo, đối nghịch với tờ Océanie Francaise của nhóm Goupil ủng hộ Tin Lành.

            Tháng 2/1900, Cardella –người ngẫu nhiên là thị trưởng Papeete—mời Gauguin viết thường trực cho tờ Les Guêpes. Một chiến dịch hăng say chống lại viên Thống sứ thuộc địa người Pháp (lúc ấy là Gallet) xảy ra sau đó. Gallet được mô tả như “một kẻ bạo ngược dã man”, một “ông Lăng Xăng lúc nào cũng ưa chúi mũi vào chuyện người khác; lại không ngừng chưng diện đẹp đẽ cho cái thân xác lùn mập và bộ mặt ngốc nghếch của mình.”

            Tháng 4/1900, Gauguin ngưng xuất bản tờ Le Sourire để bỏ hết thì giờ vào chính trị với một nỗi hăng say đặc biệt; đêm đêm lại tiếp tục miệt mài trong các cuộc mây mưa trác táng.

            Trong hai năm đóng vai ký giả bút chiến và kẻ hoạt động chính trị sôi nổi, thực sự các lợi ích của dân bản xứ không phải là vấn đề chính Gauguin cần đặt ra. Xuyên qua các bài viết và diễn văn, Gauguin đã bộc lộ cho thấy nỗi đau khổ của một cá nhân bị lâm vào hoàn cảnh khó khăn nên nẩy sinh sự bất mãn chống đối trong đầu óc. Điều thiệt thòi duy nhất cho ông là thời gian ấy, ông không còn ngó ngàng gì đến hội họa mà chỉ là kẻ tuân lệnh, làm lợi ích cho những vị chủ nhân điều hành tờ Les Guêpes mà thôi.

            Ngày 24/2/1901, Edourd Petit lên thay Gallet trong chức vụ Thống Sứ và được sự tán thành của phe Thiên Chúa giáo.      

            Tháng 8/1901, Cardella tuyên bố rằng tờ Les Guêpes không còn xuất bản hằng tháng đều đặn nữa.

 

 

X

(9/1901 – 5/1903)

            Để tạo dựng một đời sống rẻ hơn và cũng có đề tài mới cho hội họa, Gauguin quyết định dời đến Marquesas, quần đảo rộng chừng 1.500km về phía đông bắc Tahiti. Bán tất cả các vật dụng, kiếm được 5.500 quan, ngày 10/9/1901, Gauguin đáp tàu La Croix du Sud rời Papeete đi Marquesas.

            Sáng sớm ngày 16/9/1901, chiếc La Croix du Sud cập bến Autuona, ngôi làng chính nằm trên bãi biển phía nam đảo Hiva-Oa (La Dominique). Bị cai trị bởi một nhóm các nhà truyền giáo đạo Thiên Chúa (Monsignor Martin làm giám đốc) và Charpillet, một trung sĩ cảnh sát bạo ngược tàn ác, ngôi làng Autuona có được một y tá cho chừng 500 cư dân, tên Kỳ Đồng, người Việt Nam, tính tình hòa nhã, bị lưu đày khỏi quê hương ông vì lý do chính trị. Bệnh tình Gauguin ngay lập tức được đặt dưới sự chăm sóc của Kỳ Đồng.

            Ngày 27/ 9/1901, Gauguin mua nửa mẫu đất của hội truyền giáo rồi tự tay dựng lên một ngôi nhà, nằm ngay trung tâm làng, bao chung quanh là những cây cổ thụ miền nhiệt đới, đối diện tiệm bán thực phẩm của một người Mỹ tên Ben Varney. Trong ngôi nhà được đặt tên “Maison du Jouir” (Ngôi nhà khoái lạc), Gauguin trang trí các bức tường bằng năm mươi bức ảnh chụp và phác họa khỏa thân.

            Bấy giờ nhờ có tiền bán tranh theo giao kèo với Vollard gửi đều đặn từ Paris sang, Gauguin có thể thoải mái mua thức ăn đầy đủ hơn trước. Trong những bữa ăn nấu theo kiểu Âu Châu, các người khách được mời gồm có Ben Varney và một chủ quán cạnh tranh khác tên Frébault; Reiner, một người cảnh vệ quê ở Alsace đã định cư tại Tahiti; Guilletoue, một người Basque, nổi  tiếng với tài săn nai rừng; và Kỳ Đồng, người bạn Annamite trung thành của Gauguin. Rượu vang và rượu rhum tuôn chảy hàng đêm; tiếng đàn tiếng hát lôi kéo người dân bản xứ tụ lại căn nhà họa sĩ.

            Ngôi Nhà Khoái Lạc (!) –sự chọn tên có dụng ý thách đố với hội truyền giáo, những người vẫn bị Gauguin gọi là đạo đức giả—thì thật đúng là một sự trêu chọc, dễ dàng gây phẫn nộ cho giáo khu gần đó. Hai cánh cửa của nó luôn được mở rộng cho các cô gái điếm trẻ; và Gauguin, bị kích thích bởi rượu và thuốc phiện, tưởng tượng rằng ông yêu thương tất cả bọn họ, giống như những con người trong thuở khai thiên lập địa.

            Nhưng cũng nhiều lúc khác Gauguin tự nói với mình: “Bây giờ là ban đêm. Tất cả đều yên ngủ. Đôi mắt tôi nhìn đăm đăm vào những giấc mơ không thể hiểu thấu nơi khoảng không gian vô tận trước mặt. Và tôi cảm tưởng như tìm gặp được một cảm giác êm ái trên con đường buồn bã hy vọng mà tôi đang bước đi.”

            Sự khích động làm sống dậy trong những bức vẽ một nhân dáng giang hồ, thăng trầm trôi nổi, bây giờ hầu như gần kề điểm kết thúc. Cậu thủy thủ tập việc, ngày nào ra khơi đi Rio de Janeiro, nay biến thành một ông lão buồn bã, thoái hóa, ưa gây gỗ, cáu kỉnh và căm thù thế giới văn minh Tây Phương.

            Viết cho de Monfreid, Gauguin tâm sự: “Bạn không thể tưởng tượng nổi sự bình an mà tôi đang thụ hưởng nơi đây, hoàn toàn đơn độc, bao bọc chung quanh bởi cây cỏ xanh tươi. (...) Nếu đã từng sống ở đây, bạn sẽ không thể thấy nơi nào êm đềm hơn thế nữa.”

            Nhưng nỗi an bình không tồn tại lâu. Những tưởng sẽ bắt gặp được một xã hội thực sự hoang dã, thay vào đó, lần nữa, Gauguin lại chỉ khám phá thấy ảnh hưởng của người Âu châu đang là nguyên nhân phá hoại hầu hết mọi truyền thống xã hội của thổ dân trên đảo.

 

 

            [Ba năm cuối đời, hoàn cảnh vật chất của Gauguin không quá cơ cực, nhưng sự cay đắng khó chịu ông nhận lãnh càng nhiều hơn trước. Điều này nẩy sinh từ sự bướng bỉnh khích động theo cảm nghĩ  nhân đạo, sự tôn trọng công lý và khí chất hiếu chiến thích gây gỗ của ông.]

*

* *

            Ngày 18/3/1902, Thống sứ Edouard Petit từ Papeete đến thanh tra Marquesas. Cư dân bị buộc phải trả thuế nặng hơn cho những con đường được sửa sang lại để đón tiếp ông ta. Tính thù ghét sự bất công nổi dậy, Gauguin đại diện cho đám thổ dân, xin vào gặp Thống sứ để kêu nài, nhưng bị đuổi ra. Tức giận, ông bèn thảo một lá đơn, công khai phản đối chế độ thuế má và tiền phạt vạ quá nặng, đả kích các hành động sai lầm của chính quyền thực dân Pháp.

            Sức khoẻ suy sụp bất ngờ càng làm tăng thêm trong lòng Gauguin sự phẫn nộ. Cầm bộ dân luật trong tay, Gauguin đi ra bãi biển, bắt chuyện với các cư dân Marquesas và cố gắng trình bày cho họ thấy rằng họ không cần thiết phải gửi con họ đến trường học.

            Ngày lễ Bastille 14/7, chính quyền Pháp tổ chức ăn mừng trên các hòn đảo. Charpillet, viên cảnh sát trông coi đảo Marquesas, xin Gauguin ngồi ghế chủ tọa, chấm điểm các màn trình diễn ca vũ của những nhóm dân trong làng hay từ các hòn đảo lân cận kéo về.

            Trên bộ môn ca, Gauguin quyết định cấp giải thưởng hạng nhất cho ca đoàn Tin Lành với bài hát “Marseillaise”, hạng nhì cho ca đoàn Thiên Chúa giáo bài “Lời Ngợi Ca Nữ Anh Hùng Jeanne d’Arc”. Những “nữ tu dịu dàng” và các “nam tu tốt bụng” của ca đoàn Thiên Chúa giáo đâm ra phẫn nộ vì ganh tị. Từ đó tất cả nhóm này đều cố tình phát âm sai cái tên Gauguin thành ra “Coquin”, có nghĩa là “tên vô lại”. Thêm nữa, bởi “thành tích về đàn bà” của họa sĩ mà Monsignor Martin, giám đốc hội đạo Thiên Chúa giáo bèn ra một thông cáo nghiêm khắc, lưu ý các cô gái bản xứ “không được đến gần Maison du Jouir”.

            Nhân đó, như một hành động trả thù, Gauguin làm nên bức tượng bán thân “Père Paillard” (tạc hình linh mục Lechery) đặt ngay giữa vườn nhà, bên cạnh bức tượng người hầu gái tên Thérèse (mang tiếng là tình nhân của cha Lechery) và một khuôn mặt “giống như khỉ” của linh mục Orens. Hầu hết dân đảo Marquesas ai cũng nhìn thấy cái cười khúc khích của đám học trò và nụ cười bệnh hoạn của các tăng lữ địa phương mỗi khi các người này đi ngang qua ngôi nhà Gauguin.

Tội nghiệp Gauguin theo những giải khuây tầm thường như thế! Ông thấy không còn đủ sức để tìm một người đàn bà làm “vahiné” cho mình, nên thay vào đó, quyết định sửa lại bản thảo cuốn “Giáo Phái Thiên Chúa và Thời Đại Mới” mà ông đang viết dở. Sau khi đổi cái tựa thành “Tinh Thần Mới và Đạo Công Giáo”, Gauguin thêm vào chừng 20 trang gay gắt về chủ đề hôn nhân, thẳng thắn tố cáo giới tăng lữ, những kẻ tạo ra luật lệ trên những gì được mô tả như “sức mạnh của sự xâm lăng” vào đời sống hôn nhân của giáo dân.

*

* *

            Trong một tờ báo cáo dài ngày 28/8/1902, gửi chính quyền thực dân ở Papeete, Charpillet khiển trách “sieur  Gauguin phiền nhiễu” này giống như một “kẻ xúi bẩy thổ dân chống đối nhà nước và Giáo hội Công giáo.”

            Khi sức khoẻ suy giảm và thị giác yếu đi bởi bệnh giang mai, Gauguin phải ngồi vào đàn phong cầm chơi vài khúc nhạc. Một bữa, ông giao lại cho Ben Varney dúm thuốc phiện và cái ống tiêm vì sợ rằng có thể dùng quá liều, nhưng lại dặn Ben Varney cho ông “xin lại nó trong trường hợp cần thiết.” Đồng thời băn khoăn về những cơn hồi hộp tim và đôi chân không thể đứng vững, Gauguin nhờ Ben Varney đăït mua giùm ở Papeete một chiếc xe ngựa. Ông cũng mời vị mục sư Tin Lành tên Paul-Louis Vernier, biết chút ít về thuốc men, đến chữa trị cái ung nhọt sau mông ông.

            Tuy nhiên Gauguin vẫn không thấy khoẻ trở lại. Song song với những nỗi phiền não bên ngoài, trái tim ông nhiều khi dấy lên đau đớn. Ông nghĩ đến điều trở về quê hương.

*

* *

            Lúc bấy giờ, sau ba tháng gián đoạn mọi thư từ vì chiếc tàu La Croix du Sud bị đắm, de Monfreid đã thật kinh ngạc khi đọc những lời thư của bạn viết ngày 25/8/1902 như sau: “Nếu không chữa khỏi được những vết lỡ bám sâu trên cả hai chân gây nên đau đớn rất nhiều, tôi nghĩ sẽ khá hơn nếu tôi trở về Pháp, thay đổi không khí trong ít lâu. Bây giờ tôi có thể sắp xếp để sống gần bạn trong miền Nam, ngay cả đi Tây Ban Nha tìm đề tài mới.”

            Nhưng Gauguin cũng viết thêm: “Thật xấu hổ nếu như phải rời khỏi một hòn đảo đẹp như đảo Marquesa này!”

            Qua lá thư hồi âm đầy những lời lẽ kính trọng dành cho họa sĩ, de Monfreid khuyên Gauguin nên chống lại ý muốn ấy: “Bây giờ anh đã trở nên một nhân vật huyền thoại giữa đám nghệ sĩ Paris, người từ các hòn đảo xa xôi gửi về thủ đô những bức tranh không thể bắt chước và làm bối rối kẻ khác. Tác phẩm anh là của một con người vĩ đại đã biến mất (hay dường như thế) khỏi mặt đất. Kẻ thù anh (có rất nhiều như luôn luôn vẫn có với những người thường làm giới trưởng giả khó chịu) sẽ không nói gì được và không dám tấn công anh bởi vì anh đang ở rất xa họ. Anh không nên trở về và hãy nên hưởng thụ sự miễn giảm mà chỉ những nhân vật vĩ đại đã chết mới có được. Chắc chắn rồi anh sẽ trở nên một phần của lịch sử hội họa.”

            Có lẽ người bạn de Monfreid tử tế của Gauguin đã hơi cường điệu do bởi tình cảm và sự tôn kính dành cho Gauguin. Nhưng sự nhận xét của de Monfreid được chia xẻ bởi giới trẻ, những người (như Sérusier, Morice Denis) ngay cả nếu không hoàn toàn tán thưởng các bức họa Gauguin thì cũng đủ trình độ để hiểu được chúng.

*

* *

            Từ khi không thể vẽ được nữa, Gauguin quyết định dành hết thì giờ để tự chứng minh với hậu thế về hội họa của ông. Trong nhiều đêm dài trên đảo, khổ sở vì chứng mất ngủ, Gauguin ngồi ghi xuống những ý tưởng về nghệ thuật, về các họa sĩ ông đã ưa thích mà theo quan niệm ông, xứng đáng với chỗ đứng thường xuyên trong lịch sử hội họa. Có vài câu viết châm chọc nói về các nhà phê bình “chỉ nghiên cứu quá khứ” trong khi những gì thật sự quan trọng phải là ý nghĩa dành để “dẫn đến con đường nghệ thuật thế kỷ 20”.

            Tháng 9/1902, Gauguin gửi những cái gọi là “Câu Chuyện Kể Của Họa Sĩ” này về cho nhà phê bình André Fontainas để xuất bản trong tờ Mercure de France, nhưng bị tờ này bác đi.

            Vài tháng sau đó, Gauguin gửi bản văn khác tựa đề “Avant et Après” (Trước và Sau). Ông viết cho André Fontainas: “Tôi nhất định muốn nó được xuất bản ngay cả nếu phải bán đi vài bức tranh của tôi đang lưu lại nhà de Monfreid để kiếm tiền xuất bản. Dẫu rằng đây không phải là một tác phẩm văn chương, nhưng ít nhất có vài điều hoàn toàn khác biệt với mọi tác phẩm: người văn minh và kẻ bán khai đối mặt nhau.”

            Trong “Avant et Après”, Gauguin kể lại những ký ức tuổi thơ, mọi ý nghĩ, các giai thoại và cái nhìn riêng về hội họa, đồng thời cố gắng giải thích niềm tin trong cuộc đời bi tráng và lạ lùng của mình: “Tôi tin rằng nghệ thuật có một nguồn mạch tuyệt diệu thiêng liêng và sống mãi trong tâm hồn những kẻ đã từng bị rung động vì ánh sáng của nó. Một lần đã thưởng thức nỗi hân hoan đón nhận từ nghệ thuật vĩ đại, người ta không thể trốn chạy mà cứ phải luôn tưởng nhớ đến nó.”

            Và, giống như lời tuyên bố với Mette rằng “bổn phận của một nghệ sĩ là làm việc và trở nên mạnh mẽ”, Gauguin lúc nào cũng phải “bảo tồn nghị lực đạo đức” riêng “bằng cách khép chặt trái tim”.         Niềm tin trở nên một nghệ sĩ lớn không bao giờ bị dao động trong Gauguin và điều này giúp ông kháng cự được định mệnh quá thường gây trở ngại cho cuộc sống làm nghệ thuật của ông, tạo cho ông cái tiếng tăm là “một người mạnh mẽ, hành động bất cứ caí gì mình muốn.”

            Gauguin bác bỏ phái hội họa Biểu Tượng thuần lý của Puvis de Chavannes (1824-1898) và ủng hộ phương pháp nhiều tính trực tiếp cá nhân. “Trong hội họa cũng như trong âm nhạc, người ta phải tìm kiếm sự ám thị, gợi ý nhiều hơn miêu tả.”

            Đối chiếu nghệ thuật của mình với của Puvis de Chavannes, Gauguin viết: “Puvis giải thích tư tưởng ông ta, vâng, nhưng ông không vẽ ra được tư tưởng ấy. Ông ta giống như một người mẫu Hy Lạp, trong khi tôi là một kẻ hoang dã, một con sói rừng, không đeo cổ cồn. Khi gọi tên một bức tranh là ‘Tinh Khiết’ và để giải thích nó, Puvis sẽ vẽ ra một người con gái trinh trắng với cành huệ trong tay –một biểu tượng rất nhàm chán, nhưng cũng rất dễ hiểu. Còn tôi, dưới cái tựa ‘Tinh Khiết’, tôi sẽ vẽ một phong cảnh với dòng suối trong suốt không có dấu chân con người văn minh dẫm lên nó làm cho dơ bẩn.”

            Tác phẩm “Avant et Après” cũng là một nguồn tài liệu phong phú về những biến cố xảy ra trong thời gian Gauguin lưu lại trên đảo Hiva-Oa. Ngày 7/1/1903, quần đảo Tuamotu bị tàn phá bởi một cơn bão dữ dội. Dòng sông Makemake chảy xiết làm lụt lội; ngôi nhà Gauguin dựng gần đó bị ngập nước cả bên trong.

*

* *

            Từ bây giờ Gauguin hoàn toàn dấn mình vào sự giúp đỡ các cư dân, đại diện họ mà công khai đối mặt với Claverie, người thay thế viên cảnh sát Charpillet. Thoạt tiên, ông tố cáo Claverie về sự đối xử không đúng trong cuộc điều tra tội phạm, làm chết một phụ nữ Autuona. Sau đó, được thúc giục bởi Guilletoue và Reiner, những chủ quán tạp hóa mà Gauguin xem như bạn hữu, ông tố cáo một viên cảnh sát khác, Guichenay, về tội buôn lậu thuế những hàng hóa tốt, đem vào làng để đổi lấy rượu vang.

            Sau cùng, ông chỉ bảo cách thức hành động cho 29 cư dân theo đạo Tin Lành ở thung lũng Hanaiapa Hanapaoa, những người đã bị phạt sai lầm vì tội say rượu. Ông xin ra tòa thay mặt họ mà tự bào chữa, nhưng điều này vô ích: mỗi người trong bọn họ vẫn bị kết án 5 năm tù và 100 quan phạt vạ.

            Vài ngày sau đó, trong một cuộc cãi cọ dữ dội với Claverie, Gauguin giận điên đến nỗi đâm thổ huyết trên đường về nhà. Ông bèn viết một bản báo cáo, gửi thẳng tới vị quan tòa và những viên thanh tra, lúc ấy đang có mặt ở Marquesas. “Một cư dân”, ông nhấn mạnh “do bản chất tự nhiên, đã rất nhút nhát sợ sệt khi đứng trước mặt người Âu Châu, những kẻ mà dưới mắt họ, thật quá khôn ngoan và tốt đẹp hơn họ rất nhiều. Hoặc cũng vì nhớ lại những phát súng đại bác đã nổ trên quê hương họ thuở trước mà họ không ngần ngại nhận bất cứ tội danh nào gán lên cho họ, dù họ vô tội; bởi họ biết, sự chối nhận sẽ càng làm cho họ phải chịu đựng hơn những hình phạt khắc nghiệt khác.”

            Khi kết thúc cuộc điều tra, viên thanh tra Salles bèn đệ trình lên Cơ Quan Thuộc Địa một bản báo cáo buộc tội Gauguin, gồm những điều như sau: “Nhà họa sĩ này thuộc phái Ấn Tượng, tình trạng sức khoẻ xấu, sống trong một cái nhà gọi là Ngôi Nhà Khoái Lạc, ủng hộ cho tất cả những suy đồi đạo đức của cư dân, và tệ hơn hết là đã điều khiển để làm giảm bớt con số học sinh đang theo học trong trường Cơ Đốc giáo ở Autuona từ 300 xuống còn đến 70.”

            Thống sứ Edoaurd Petit còn dữ dội hơn viên thanh tra khi thêm vào các điều mô tả rằng Gauguin “giống như một người Pháp thấp kém, làm ô danh mẫu quốc” và cho phép viên cảnh binh Guichenay kiện Gauguin vì tội phỉ báng ông ta.

*

* *

            Ngày 27/3/1903, viên sĩ quan cảnh sát Pambrun tống đạt đến Gauguin một lệnh đòi, buộc ông phải xuất hiện trước quan tòa Horville ở Marquesas bốn ngày sau đó.

            Ngày 31/3/1903, quan tòa Horville bác bỏ đòi hỏi của Gauguin rằng muốn “giao vụ án cho một tòa khác xử và buộc phải có cả sự hiện diện của viên cảnh sát Claverie”. Rốt cuộc, “sieur Gauguin” bị kết án ba tháng tù với một món tiền phạt 500 quan.

            Kết quả xử phạt của nền công lý bất công này là một cú đấm thẳng vào đầu Gauguin để từ đó ông không bao giờ có thể trỗi dậy được nữa.

            Trong tâm trạng hoang mang, ngày 2/4/1903, Gauguin đệ trình một lá đơn chống án lên tòa Papeete, đồng thời viết cho Charles Morice một lá thư dài trình bày mọi chuyện, thúc giục Morice tập hợp ý kiế quần chúng ở Paris theo vấn đề của ông ở Tahiti. “Tôi bị lọt vào cái bẫy của cảnh sát. Hãy hành động nhanh và tích cực giùm tôi. Nếu chúng ta thắng, cuộc chiến thắng thật vinh quang, tôi sẽ hoàn tất được một thành quả lớn lao trong Marquesas, nhiều điều bất công trái với đạo lý sẽ bị gạt bỏ. Tất cả mọi nỗi như vậy sẽ chẳng bõ công tranh đấu của chúng ta.”

            Rồi, cũng trong lá thư ấy, chuyển đề tài sang hội họa, Gauguin tuyên bố với Maurice rằng chính ông là “một kẻ hoang dã”. “Những con người hoang dã thật khá hơn chúng ta. (...) Bạn đã lầm mà cho rằng tôi sai khi một lần tôi tự gọi mình là kẻ bán khai. Sự thật, tôi chính là tên hoang dã ấy.”

            Gauguin viết thêm, điều hoang dã ông đã đạt là một đặc tính ưu tú hiện đang quá thiếu thốn trong nền hội họa đương thời, làm cho ông trở nên “không thể bắt chước” được. “Thật sự những hiểu biết của tôi vẫn còn rất ít. Nhưng ai có thể phủ nhận rằng, những cái ít này nếu được tiếp tục tác động bởi kẻ khác, sẽ không trở nên là điều gì đó vĩ đại? Trải qua bao nhiêu thế kỷ rồi mới sáng tạo nên được ngay chỉ ‘một sự giống nhau’ trong tiến trình hội họa?”

            Và Gauguin kết luận: “Tác phẩm của một người là lời giải thích hay ho nhất của người ấy.”

*

* *

            Đã thiếu thốn tiền bạc, bấy giờ Gauguin lại phải vướng thêm nợ nần trong những phí tổn của chuyến đi Papeete và tiền trả trước cho một luật sư. Để kiếm tiền nhanh chóng, ông gửi về de Monfreid ba bức họa, hy vọng nhận được 1.500 quan từ Fayet. “Tôi đã tàn đời rồi, sức khoẻ gần như hoàn toàn suy sụp theo những căng thẳng hiện tại trong đầu óc. Xin bạn hãy tích cực hành động càng nhanh càng tốt và nói cho Mosieur Fayet hay rằng tôi vĩnh viễn biết ơn ông ta.”

            Lá thư cuối cùng Gauguin gửi về de Monfreid (tháng 4/1903) kết thúc với những lời: “Tất cả những lo nghĩ này đang giết chết tôi!” (Toutes ces préoccupations me tuent!)

*

* *

            Quả thật là Gauguin “đang chết” giữa những buồn phiền làm trái tim khó thở và các giấc mơ dữ quấy phá khiến không thể ngủ được, nhưng ông vẫn kiên trì chịu đựng một cuộc chiến đấu. Chỉ hai người thường xuyên bầu bạn với Gauguin thời gian cuối cùng này là vị mục sư Tin Lành Paul-Louis Vernier và người đầy tớ già tên Tioka. Mục sự Vernier đã lắng nghe một cách kinh ngạc những lời độc thoại không ngớt của Gauguin, qua đó, họa sĩ dẫn giải những lý thuyết cách mạng trong hội họa, kể lại các kỷ niệm trong cuộc đời giang hồ xa cũ.

            Mất ngủ trầm trọng và thường xuyên bị tấn công bởi những hồi tưởng lộn xộn, Gauguin cầu xin Ben Varney cho lại dúm thuốc phiện và cái ống tiêm.

            Và để tránh đôi mắt tọc mạch của kẻ khác, Gauguin tự giam thân ở nhà trọn một tuần, ẩn nấp trong cái xó của mình giống như con thú rừng bị thương. Ngay người bếp Kahui cũng không còn thấy Gauguin sai bảo gì nữa trên sự nấu nướng. Riêng mục sư Vanier lại được người tớ già Tioka báo cho hay rằng “ông chủ da trắng đang rất bệnh.”

            Sáng sớm ngày 8/5/1903, Gauguin bảo Tioka mời mục sư Vernier đến. Về sau mục sư kể lại: “Vẫn còn nằm trên giường, Gauguin phàn nàn về những cơn đau dữ dội trong thân thể. Ông hỏi, không biết bây giờ là ban ngày hay ban đêm, buổi sáng hay buổi tối? Ông nói cho tôi hay rằng ông vừa trải qua hai cơn ngất xỉu. Rồi ông nói về Salambô (Flaubert). Tôi để ông nằm dài trên giường. Trông ông có vẻ dịu xuống và yên nghỉ sau câu chuyện phiếm với tôi.”

             11 giờ trưa hôm ấy, Kahui đi gọi mục sư lần nữa. “Đến nhanh, ông da trắng đã chết!”

            Vernier thuật lại. “Quả nhiên, tôi thấy Gauguin đã chết, một chân rớt khỏi giường, nhưng vẫn còn ấm chút ít. Người tớ già Tioka kể cho tôi hay về những gì đã xảy ra: ‘Tôi định đến xem ông ta thế nào. Tôi kêu lên từ dưới nhà: Ko-Ki, Ko-Ki! Không nghe gì hết, tôi đi lên để nhìn: Ai, ai!’ Vừa kể, Tioka vừa tự vò đầu bứt tai theo cách của người Marquesas để gọi hồn người chết trở về cõi sống. Rồi ông ta khởi sự hát một bài hát truy điệu. Chính tôi cũng cố gắng hát theo nhịp chuyển động của giọng điệu, nhưng vẫn vô hiệu. Rõ ràng Gauguin đã chết vì chứng liệt tim. Tioka và Kahui chạy đi gọi bạn hữu của họ đến. Chẳng mấy chốc, Căn Nhà Khoái Lạc đầy nghẹt những người rên rỉ khóc lóc.”

            Cũng trong căn nhà tang tóc ấy, mục sư Vernier tìm thấy cạnh giường người chết có dựng tác phẩm cuối cùng: Bức vẽ phong cảnh tuyết trắng mùa đông ở Britanni, một đề tài thật lạ lùng trong hoàn cảnh sống của nhà họa sĩ cô đơn nơi xứ sở đầy nắng ấm trên một hòn đảo hoang vu của vùng biển Thái Bình Dương.

*

* *

            Viên cảnh sát Claverie khi điền giấy khai tử của Gau- guin, đã cố ý thêm vào một cách nham hiểm: “Nghe nói ông ta sống nhờ vào vợ và các con, nhưng tên của người vợ thì không được biết.”

            Riêng mục sư Vernier lại giận điên lên khi hay rằng vị tổng giám mục và vài tu sĩ Thiên Chúa giáo (những kẻ thường xuyên bị Gauguin sỉ nhục) đã đứng ra đảm nhiệm lo liệu đám tang, ban cho Gauguin cuộc lễ theo nghi thức đạo Thiên Chúa và dời tất cả các vật dụng còn lại của Gauguin tới nhà thờ của họ.

            Vượt cao hơn cả trong ngôi làng Autuona hẻo lánh ấy là cây thánh giá màu trắng của nghĩa địa Thiên Chúa giáo trên ngọn đồi Hueakihi; nơi đây, vào ngày thứ bảy, 9/5/1903, Gauguin được đặt nằm nghỉ giấc ngàn thu. Cha Saltel làm một lễ miễn tội trước sự chứng kiến của số ít người. Người tớ trung thành Tioka dựng nơi đầu mộ họa sĩ tấm bia bằng đất sét nung, trên đề vỏn vẹn hàng chữ “PAUL GAUGUIN, 1903”

 

 

            [Hơn 60 năm sau, một tấm bia khác được thay thế, có đề thêm câu viết của chính Gauguin trước khi chết: “Tôi đã sống và làm việc rất nhiều, đã dùng trọn đời mình cho sự ngay thẳng, sáng suốt và can đảm.”]

 

 

            Trong bản báo cáo gửi hội đoàn Thiên Chúa giáo, Monsignor Martin đã viết: “Không có sự kiện quan trọng nào xảy ra ở đây, ngoại trừ cái chết đến bất ngờ với một nhân dáng buồn bã mang tên Paul Gauguin, một họa sĩ nổi tiếng và là kẻ thù của Thượng Đế cũng như của tất cả mọi điều cao quý.”

*

* *

            Cuộc bán đấu giá những gì Gauguin lưu lại diễn ra trong Autuona ngày 20/7/1903. Ben Varney mua Căn Nhà Khoái Lạc và miếng đất chung quanh với giá chừng một ngàn quan. Ông Vermeersch, người quản lý sổ sách của thành phố Papeete, nhờ họa sĩ Le Moine giúp biên soạn một danh sách những vật dụng khác để sửa soạn cho cuộc bán đấu giá thứ nhì tại Papeete ngày 2/9/1903. Trong khi thu dọn, họ lược bỏ đi phần lớn “các bức tranh, các phác họa, những văn bản ghi chú các dấu hiệu mơ hồ và những mảnh điêu khắc mới gọt đẽo” mà trong sự định giá của Le Moine đã không cho thấy chút “hứng cảm tinh thần” nào ngoài một sự “tưởng tượng bệnh hoạn.”

            Riêng George-Daniel de Monfreid trở nên vô cùng xao xuyến khi không nhận thêm được lá thư nào của người bạn thân gửi về từ phương xa. Tại Saint-Clément trong vùng núi Pyré- nées, ngày 9/6/1903, de Monfreid đã viết: “Gauguin thân ái, xin cho phép tôi được hỏi anh vài điều, những điều thường nằm trong óc tôi: ‘Nếu trước khi tôi chết mà đã xảy ra chia cách vĩnh viễn với anh, tôi biết phải làm sao?’”

 

            Năm 1906, một cuộc triển lãm tưởng niệm Gauguin được tổ chức tại Salon d’Automne, Paris, gồm không ít hơn 227 bức sơn dầu, phác họa, điêu khắc và mô phỏng, rút ra từ sự sáng tác phong phú trong đời Gauguin. Cuộc triển lãm đã là một cái tát vào mặt những nhà phê bình từng phỉ báng Gauguin và tạo nên một chiến thắng chứng minh hùng hồn cho những năm dài chiến đấu của ông.

Cuộc phiêu lưu của Gauguin đi đến một kết cuộc bi thảm. Nhưng trước khi chấm dứt, nó đã cho chào đời nền nghệ thuật hiện đại.             Tháng 6/1899, Gauguin viết cho Maurice Denis như sau: “Phần đầu của dự tính tôi đã ra trái quả. Bây giờ bạn có thể làm điều gì bạn muốn mà không khiến cho ai phải công phẫn cả.”

            Henri Matisse ghi nhớ nằm lòng câu nói này.

            Tuy nhiên, không ai diễn tả ý nghĩa thật trong cuộc phiêu lưu vĩ đại của Gauguin hay hơn Henri Focillon, nhà sử học nghệ thuật người Pháp (1881-1943): “Chẳng phải do bởi một cố gắng giả tạo hay bởi ảnh hưởng của văn chương mà Gauguin cố tìm cho mình con đường đi đến những vùng biển của một quá khứ xa xưa. Ông dường như đã ở đó từ rất lâu, và cũng từ đó mà trở về với chúng ta suốt qua những bóng tối đêm dài và ánh mặt trời rạng rỡ buổi sáng, trong tay giữ một tượng thần bằng gỗ được đánh bóng bằng dụng cụ bằng đá.”

            []

 

 

 

Tài Liệu Tham Khảo:

* Pháp ngữ:               

 “Paul Gauguin” (Charles Morice) (Eùditions Floury, 1919).

“Gauguin, Sa Vie Ardente et Mísérable” (Henri Perruchot) (Éditions Le Sillage, 1948) 

“Le Noveau Dictionnaire des Ouvres” (Eùditions Robert Laffont       1994).

   

* Anh ngữ:

“Gauguin” (Ronald Alley) (String Books. London 1961)

“Lives of Famous French Painters” (Herman J. Wechsler) (Washington Square Press, Inc. 1952)

“Modern French Painters” (R. H. Wilenski) (Vintage Books, Inc. 1960)

“Gauguin’s Paradise Lost” (Wayne V. Andersen. 1971)

“Gauguin” (Giuseppe Marchiori) (Bản dịch từ Ý sang Anh ngữ của CarolineBeamish) (Grosset & Dunlap, Inc. 1967)

“History of Art Criticism” (Lionello Venturi) (E.P. Dutton & Co., Inc. 1936)

“Symbolist Art” (Edward Lucie-Smith) (Oxford University Press. New York, 1979).

[]

 

         

         

 

      

 

           



(8)  Noa-Noa: bản tự thuật của Gauguin, kể lại cuộc hành trình sang Tahiti lần thứ nhất, 1891-1893. Xuất bản năm 1894, bản Noa-Noa đầu tiên có ghép thêm những bài thơ của Charles Morice. Lần xuất bản năm 1901, Charles Morice thêm vào nhiều dữ kiện về hoàn cảnh sống khổ sở khi ấy của Gauguin. Bản Noa-Noa nguyên thủy của Gauguin không được xuất bản cho mãi đến năm 1956. (Theo Le Nouveau Dictionaire des Ouvres.)

Lời Tựa 


Edgar  Allan Poe
Emily Bronte
Lermontov
Paganini
Paul Gauguin 1 - 2 - 3**
Pushkin 1 - 2

Mozart
 
Modigliani

Trang Chủ