Tháng 6/1887, có đủ lộ phí từ việc đào kênh, Gauguin cùng Laval đáp chuyến tàu Amérique đi Martinique và cập bến Saint Pièrre ngày 11/6/1887. Tại đây, hai người nghệ sĩ thuê căn chòi ngay trung tâm của một đồn điền trồng dừa. Cư dân gồm các người da đỏ, Trung Hoa và Phi Châu. Rõ ràng là cả hai đã “tìm ra thiên đường thật sự.” 

            Nhưng trong mảnh đất thiên đường ấy vẫn có những điều không ổn. Mùa đông còn dễ chịu, nhưng mùa hè thật điên người vì cái nóng khủng khiếp. Charles Laval vốn không khỏe, chẳng bao lâu sau khi đến Martinique, lại vướng vào cơn sốt nặng, trong một lúc mê sảng đã toan tự tử. Khi ấy dẫu cũng đang rất khổ sở vì chứng kiết lỵ bị nhiễm ở Panama, Gauguin vẫn tận tình săn sóc cho Laval qua cơn nguy hiểm.

            Tháng 9/1887, Gauguin vẽ trở lại. Quả nhiên, chuyến đi này không vô ích; nó thỏa mãn cho Gauguin tất cả những ước mơ giang hồ mà ông ôm ấp trong thời tuổi trẻ. Đàn bà ở đây không chỉ “mập mạp và xấu xa”, lại còn là da đen và dễ gần gũi. Cuộc sống đơn giản, văn minh trở nên không cần thiết.

            Dưới ánh mặt trời chói lọi, Gauguin sáng tạo chừng 30 bức tranh. Ông say mê vẽ những ngọn dừa, bụi chuối và các người bản xứ. Cỏ cây vùng nhiệt đới, các bãi biển hoang vắng, vẻ dữ dội của đại dương, bóng tối dịu dàng của đêm vắng... tất cả đều được trình bày bằng rất nhiều xúc cảm trong tâm hồn họa sĩ. Vài trong số tác phẩm thành hình tại đây cho thấy một sự dần dần thoát ly khỏi kỹ thuật của phái Ấn Tượng và là chìa khóa mở ra các sáng tác thời kỳ tiếp theo ở Britanni (lần thứ nhì). Gauguin đơn giản hóa thể thức, dùng nhiều hơn những màu đậm, màu xanh da trời, màu tím hoa cà và các màu đỏ. Ông viết: “Trước kia tôi chưa từng bao giờ vẽ những bức quá rõ ràng, sáng sủa như hiện tại, dù rằng bây giờ sức khoẻ tôi khá suy yếu.”

            Tuy nhiên, do bởi chứng kiết lỵ vẫn không chữa khỏi được, vị bác sĩ ở St. Pièrre khuyên Gauguin nên trở về Pháp. Ngoài ra, làm sao mà sống nơi đây lâu hơn nếu không có gì để tạo ra tiền? Vì vậy, tháng 11/1887, trong khi Laval còn lưu lại Martinique thời gian ngắn thì Gauguin xin vào làm việc trên một tàu thủy, quá giang về Pháp. Giờ đây –giống như bà ngoại Flora Tristan năm 1833 từng đáp chuyến tàu tại Bordeaux khởi hành đi Péru—Gauguin trở về Pháp trong tâm trạng của một chàng lãng tử đã quá mệt nhoài tìm về vùng quê hương cũ. Chuyến tàu mơ ước có thể rã tan trong đại dương sâu thẳm, nhưng những tác phẩm bấy giờ của Gauguin vang vọng bài ca hải đảo và sẽ không bao giờ bị quên lãng từ đây.

            Một ngày giữa tháng 11/1887, gia đình Schuffenecker ở số 29 Rue Boulevard tìm thấy Gauguin đang ngồi trước cửa, khăn tay chận mũi, ho sù sụ vì một chứng cảm hàn. Mùa đông đang trở về trên thành phố Paris. Tuyết vẫn rơi không ngớt. Đói khổ và lạnh lẽo, Gauguin vẫn ngửng cao đầu. Ông không còn một xu dính túi nhưng cảm biết hơn lúc nào về một nỗi tự do đang tuôn chảy trong người. Từ bây giờ ông đã hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng của phái Ấn Tượng.

 

 

IV

(11/1887 – 10/1888)

            Lưu lại nhà Schuffenecker, tháng 12/1887, Gauguin có dịp gặp và kết bạn với họa sĩ George Daniel de Monfreid, người hâm mộ ông rất nhiều và cũng là người duy nhất ông không bao giờ cãi vã với.

            Về sau, kể lại cuộc gặp gỡ này, Daniel de Monfreid đã viết:

            “Khi tôi gặp Gauguin lần đầu tại nhà Schuffenecker, trông anh dường như vừa mới trải qua những biến cố tâm lý dữ dội nào đó. Thái độ anh ngạo mạn, cái nhìn lãnh đạm, sắc sảo, nhưng đầy nghi vấn. Cái miệng mím chặt trong một nỗi im lặng bí ẩn; anh không gây được chút nào thiện cảm trong tôi. Thêm nữa, quan điểm của anh về nghệ thuật thật xấc xược trong một giọng điệu độc tài quyết đoán. Dù vậy, những bức họa mà tôi nhìn thấy thì quả là kinh khủng; chúng gõ mạnh lên tâm hồn tôi những âm điệu ngất ngây.”

            Trong hoàn cảnh vô cùng túng bấn, hy vọng lại loé lên với Gauguin như trong lá thư ông viết cho vợ: “Có một người từ công ty Goupil vừa đến tìm anh và tỏ ra hoan hỉ vì các bức họa của anh. Ông ta trả anh 900 quan để mua ba trong số các bức ấy; lại dự tính sẽ mua thêm các bức khác nữa.”

            Người mại bản tranh tình cờ khám phá ra tài năng Gauguin chính là Théo van Gogh. Rung cảm theo những bức phong cảnh tươi mát vùng Martinique của Gauguin, Van Gogh đã xúi giục em trai đứng ra tổ chức một cuộc triển lãm chung các sáng tác bằng gốm và sơn dầu của Gauguin, cùng những họa phẩm của Pissarro và Guillaumin tại cửa hàng tranh công ty Goupil vào tháng 5/1888. Théo cũng mua thêm bức “Những Cô Gái Phi Châu” (Négresses) với giá 400 quan.

 

 

            [Về sau, khi đã định cư tại Arles, Van Gogh viết cho Bernard như sau: “Bạn phải nên lưu ý về Gauguin. Bức Négresses của anh ta hàm chứa nét trữ tình dữ dội; tất cả những gì anh ta sáng tạo đều mang phẩm chất nhẹ nhàng, hoang dã, đầy tính lạ lùng kỳ bí trong đó.”]

 

 

            Cuộc triển lãm không đạt thành công. Các bức tượng bằng gốm lôi kéo sự chú ý của khách thưởng ngoạn, nhưng không bức sơn dầu nào của Gauguin được mua đến dù đó là những sáng tác nổi bật nhất của ông. Các nhà phê bình tỏ ra hoàn toàn lãnh đạm. Sự thất bại này làm khích động càng nhiều hơn tính cáu kỉnh trong con người Gauguin, đặc biệt khi chứng kiết lỵ mang về từ Panama vẫn còn hành hạ ông. Túng thiếu, đói khổ, Gauguin đâm căm phẫn nguyền rủa tất cả mọi người, và lại mang ý  nghĩ từ bỏ Paris.

            Trở lại Britanni, Gauguin trải qua những tháng mùa đông cô đơn lạnh cóng trong căn nhà trọ Mère Gloanec. Sức khoẻ suy giảm vì bệnh đau gan và hỗn loạn bao tử, ông tự tách rời không giao thiệp cùng ai cả. Trong một lá thư gửi Mette, ông đã viết: “Em phàn nàn về sự cô đơn của em? Anh còn cô đơn hơn nữa trong căn phòng trọ từ sáng đến tối, tuyệt đối cô đơn, không có ai để cùng trao đổi đến ngay cả một câu chào hỏi.”

            Rồi viết cho Schuffenecker: “Tôi thưởng ngoạn thiên nhiên trong câm nín ấp ủ và để thấm sâu vào hội họa. Bạn là một kiểu mẫu Parisien chính thật. Còn tôi chỉ là kẻ giang hồ. Tôi yêu Britanni. Tôi tìm thấy được sự hoang dã thô sơ tại đây. Khi đôi guốc gỗ của tôi vang dội trên nền đá, tôi tưởng như nghe được những nốt nhạc điếc, nặng nề và đầy sức mạnh mà tôi từng mong tìm kiếm trong hội họa...”

            Thật khó để tìm từ ngữ nào diễn tả được cường độ cảm xúc của Gauguin hay hơn câu nói trên.

            Quả nhiên, đây là cái hướng hội họa mà Gauguin đang tiến đến. Tuy nhiên thời tiết khắc nghiệt đã làm ngăn trở rất nhiều mọi cố gắng của ông. Trời mưa liên miên, bùn lầy ngập lụt, cảnh sắc u sầu buồn thảm, lại thêm sự túng thiếu tiền bạc là điều làm suy sụp tinh thần Gauguin không ít. Trong một lá thư gửi Van Gogh, --khi ấy đã xuống Arles—Gauguin bày tỏ hết những khó khăn tài chánh của mình: “Tôi không có ý muốn thúc giục em trai bạn, nhưng nhờ vài giòng của bạn về vấn đề này, có lẽ đỡ cho tôi hơn, hay ít nhất cũng giúp tôi thêm kiên nhẫn. Chúa ơi, tiền bạc là điều vô cùng đáng sợ đối với nghệ sĩ.”

            Phần Van Gogh lại không ngừng khuyên nhủ Gauguin nên tìm đến Arles ở với ông. Van Gogh đã viết cho Théo như sau: “Em đừng ngại. Anh và Gauguin sẽ sống chung trên những gì anh tiêu xài cho chính anh.”

            Thế rồi giữa Vincent ở Arles, Théo ở Paris và Gauguin trong Pont-Aven, những lá thư trao đổi liên tục được gửi đi từ mùa xuân cho đến mùa thu 1888.

*

* *

            “Điều quan trọng hơn hết cho một nghệ sĩ là tự do và tìm kiếm cho được tự do của mình”, Gauguin đã viết như thế. Ông cũng cần sự cô đơn để thỏa mãn những giấc mơ riêng, nhưng trong sự cách biệt hoang vu nhất, ông cũng không rơi vào tình trạng “một mình”. Ở Britanni có một nhóm họa sĩ trẻ thường quy tụ trong nhà trọ Mère Gloanec. Với vẻ cáu kỉnh khó gần cận và phong thái ngạo mạn bẩm sinh của một người quý tộc Tây Ban Nha, Gauguin nhanh chóng tạo ra uy thế và được các họa sĩ ở đây xem như người “trưởng nhóm”. A.S. Hartrick, họa sĩ Tô Cách Lan đã kể lại như sau: “Không ai từng gặp Gauguin mà lại có thể quên anh. Cao lớn, tóc đen, da ngâm ngâm, đôi mắt u ám, anh ăn mặc giống như một ngư phủ địa phương trong cái áo đan màu xanh đậm, đội chiếc mũ bê rê sặc sỡ lệch một bên, đặc biệt nhất là chân mang đôi guốc gỗ. Cách nói năng đơn giản nhưng đầy vẻ quyền hành trịch thượng. Trên thái độ tỏ rõ một sự tự tin, liều lĩnh, trầm lặng và hầu như khó lay chuyển, dù rằng anh có thể dễ dãi và hoàn toàn vui vẻ đáng yêu nếu như anh muốn.”

            Chamaillard, họa sĩ trẻ cư ngụ trong Britanni cũng kể: “Khi tôi xin Gauguin chỉ dẫn cho cách vẽ như thế nào, anh bảo tôi cứ nên lang thang dọc theo bờ sông rồi vẽ ra bất cứ cái gì nhìn thấy và thích thú. Anh nói: ‘Bạn hãy hiến mình trọn vẹn cho nghệ thuật, như vậy là đủ! Sự tuyệt diệu của thiên nhiên nằm ngay chính trong tâm ý mỗi người.’”

            Với khái niệm này như điểm đầu tiên dẫn vào hội họa và bằng một nhiệt tình sôi nổi, Gauguin tụ họp được chung quanh ông tất cả những họa sĩ trẻ tại Pont-Aven, trong số có cả Paul Sérusier, một triết gia nhiều hơn họa sĩ.

            Cũng tại Pont-Aven, Gauguin gặp lại Schuffenecker, Laval, Moret và cả Emile Bernard. Bernard từng gặp Gauguin tại Pont-Aven tháng 8/1886. Lần này dẫu được Schuffenecker  giới thiệu, cả hai vẫn không tỏ ra mấy thân thiện với nhau.

            Tuy nhiên lần thứ hai lưu lại Pont-Aven (từ tháng 2 đến tháng 10/1888), Gauguin rất thích thú theo những tác phẩm mới nhất của Bernard, thể hiện một kiểu thức và màu sắc mà Bernard và Anquetin đã sáng tạo dưới ảnh hưởng của Cézanne và các họa sĩ Nhật Bản.

            Khi Gauguin nhìn thấy bức “Các Phụ Nữ Bretons Trên Cánh Đồng” của Bernard, ông đã –theo lời Bernard kể lại—bị thu hút mãnh liệt. Lập tức ngay sau đó, Gauguin vẽ nên sức “Vision après le Sermon: Lutte de Jacob avec l’Ange” (1888, 73x92cm). Bức này miêu tả giây phút –phỏng theo một bài thuyết giáo—những nông dân trong tính cách đơn giản của họ, tưởng tượng rằng đang nhìn thấy Jacob vật nhau với thiên thần. Vị tu sĩ xuất hiện nơi nền góc phải. Thay vì vẽ ra trước thiên nhiên, đây là tác phẩm thực hiện từ ký ức và sự tưởng tượng –những gì mà Gauguin gọi là “trừu tượng”. Những khuôn dáng “thật” (là các nông dân) được đặt kề bên những khuôn dáng tưởng tượng. Tính chất hão huyền của cảnh vật nổi bật hơn bởi màu sắc thất thường, đặc biệt là tấm nền màu đỏ rực rỡ. Ảnh hưởng của phái Ấn Tượng được tìm thấy rất ít, thay vào đó, có những màu nhạt bao quanh các đường nét rõ ràng, xác định theo thể thức đơn giản, làm nẩy sinh một “nghệ thuật mới” rất đặc biệt. Chỗ thụt vào phía góc trái bên trên của bức tranh được sáng tạo bởi cách vẽ những hình thể chồng lên nhau và thu nhỏ lại theo tỷ lệ. Những nhân dáng đang vật nhau được rút ra từ bức gỗ khắc “Mangwa” vẽ một nhóm đô vật của họa sĩ Nhật bản Hokusai.

            Khi bức tranh này hoàn tất, Gauguin đưa tặng cho ngôi giáo đường gần Pont-Aven –không phải do lòng mộ đạo mà chỉ vì ông muốn được nhìn xem cái hiệu quả giá trị của tác phẩm trong sự đặt để nó giữa khung cảnh Gô-Tích của ngôi giáo đường bằng đá ra sao. Nhưng bức họa bị từ chối.

*

* *

            Bức “Vision après le Sermon” là tác phẩm chìa khóa mở ra tất cả những khai triển trong nghệ thuật phái “Pont-Aven” mà Gauguin được xem như người sáng tạo thứ nhất(6) và cũng là sự khai triển nghệ thuật hiện đại. Nó còn đánh dấu cho sự cắt đứt rõ ràng của Gauguin với phái Ấn Tượng và phái Tự Nhiên (Naturalisme).

            Đây là thời kỳ mà văn chương phái Biểu Tượng (Symbolisme) đang lan tràn ở Âu Châu. Những nhà văn của thời đại mới đang tấn công các nhà văn cũ phái Tự Nhiên qua sự đề cao những sáng tác cấu tạo bằng trí tưởng tượng mà không còn rút thẳng từ thiên nhiên. Điểm chủ yếu của phái Pont-Aven là “làm đậm màu sắc và đơn giản hóa thể cách”. Gauguin đã viết: “Chú tâm tới nhịp chuyển động của phái văn chương Biểu Tượng, tôi cũng muốn sáng tạo một thể loại như thế trong hội họa.”

            Lúc này, Gauguin trở nên là người chống lại phái Tự Nhiên. Giữa ông và những người đồng thời theo phái Tự Nhiên “giống như ảnh chụp” có một khoảng cách rộng. Trong khi họ bận rộn với việc bắt chước thiên nhiên càng tỉ mỉ càng tốt thì Gauguin đã tiến hành một khái niệm chưa từng thấy trong lịch sử hội họa: “Sự tìm về thời cổ đại, trước cả nghệ thuật thời Phục Hưng.”

            Ông viết cho Van Gogh như sau: “Tôi hoàn toàn đồng ý với bạn về sự không quan trọng của tính cách chính xác trong nghệ thuật. Nghệ thuật là một sự trừu tượng, nhưng không may, càng lúc chúng ta càng không hiểu như thế. Tất nhiên, nói lên điều này, đám họa sĩ quê mùa ở đây ai cũng nghĩ rằng tôi là một gã điên!”

            Từ bây giờ, nỗi khao khát vượt quá thế giới tự nhiên  chung quanh là một nhu cầu lý tưởng của nghệ thuật, và điều này không ngừng ám ảnh Gauguin.

 

            Tháng 8/1888, vừa mới xong bức “Vision après le Sermon”, Gauguin đã viết cho Schuffenecker: “Một lời khuyên với bạn: đừng vẽ thẳng từ thiên nhiên nhiều quá. Nghệ thuật là bài học trừu tượng tự nhiên, nghiền ngẫm suy tư về nó mãi sẽ tạo thành kết quả và đó là con đường duy nhất làm cho mình thăng hoa hầu có thể sáng tạo giống như đấng Tạo Hóa.” (Ở đây cho thấy tiếng vang của tư tưởng Delacroix, Baudelaire và Edgar Poe, những nhà văn, nghệ sĩ mà Gauguin rất ngưỡng mộ.)

            Gauguin viết tiếp: “Các tác phẩm sau cùng của tôi đang đi đúng đường, trong đó tôi đã tìm ra một vẻ điệu mới cho hội họa; đúng hơn là sự xác nhận trên các thí nghiệm đầu tiên với những điểm chủ yếu theo một thể loại và màu sắc đơn độc riêng tôi.”

 

 

V

(10/1888 – 12/1888)

            Cả hai Gauguin và Bernard cùng gặp Van Gogh ở Paris năm 1886-1887. Dù rằng Van Gogh đi tới Arles tháng 2/1888 và sáng tác ở đó trong cô đơn cách biệt, ông vẫn hay biết những biến cố xảy ra ở Pont-Aven. Bernard gửi ông nhiều lá thư diễn tả về các bức tranh mới của chính mình, ngay cả kèm theo vài bản phác họa. Thời gian ấy, Van Gogh đang bận rộn với dự tính thành lập Hiệp Hội Tương Trợ Nghệ Sĩ trong căn nhà màu vàng ở Arles, giống như những giao tiếp giữa các nghệ sĩ Nhật Bản. Đặc biệt là ông muốn cùng các họa sĩ trao đổi chân dung tự họa như dấu hiệu liên kết tình cảm và đời sống chung. Trong chiều hướng này, để đáp trả một bức chân dung tự họa của Van Gogh, Gauguin gửi đến một bức của chính ông (bây giờ nằm trong bộ sưu tập của con trai Théo, V.W. van Gogh); Bernard cũng gửi đến Van Gogh một bức họa tương tự.

            Ngày 8/10/1888, Gauguin viết gửi Schuffenecker:

            “Năm nay tôi đã hy sinh tất cả mọi điều, tự thúc ép chính mình để làm một biến đổi khác biệt hơn những gì thường làm. Trái quả gặt hái sẽ lâu đến, nhưng tôi tin là nó phải có.” (...) “Tôi đã hoàn tất một bức tự họa cho Vincent van Gogh bởi vì anh ta hỏi xin tôi điều ấy. Tôi tin đó là một trong những bức đẹp nhất của tôi: tuyệt đối không thể hiểu nổi (xin lấy danh dự mà nói), nó quá trừu tượng. Thoạt nhìn, nó giống cái đầu của một kẻ cướp, một Jean Valjean trong tác phẩm Les Misérables của Victor Hugo; nhưng nó cũng hiện thân cho một họa sĩ làm ô danh phái Ấn Tượng, kẻ du lịch khắp thế giới với sợi xích sắt kéo lê trong chân. Bức vẽ hoàn toàn kỳ dị. Đôi mắt, cái miệng, cái mũi trông giống như những cánh hoa trong một tấm thảm Ba Tư. Vì thế cũng có thể nói rằng nó hiện thân cho phái Biểu Tượng. Màu sắc là một loại màu xa cách hẳn thiên nhiên; bạn hãy hình dung vật gì đó bằng gốm bị xoắn ốc dưới một lò lửa nung có độ nóng dữ dội, tất cả các màu đỏ và tím đều làm thành sọc: Cái lò nung của trí óc tôi. Nền tranh tô màu vàng có chấm với những cánh hoa nhỏ rải rác trên ấy, giống như tờ giấy dán tường trong phòng ngủ một đứa trẻ con.”

            Từ tháng 6/1888, Van Gogh đã thúc giục Gauguin đến Arles, hứa hẹn rằng em trai ông sẽ trợ cấp tài chánh cho cả hai. Nhưng cho mãi đến Chủ nhật 21/10/1888, chàng nghệ sĩ lang thang mệt mỏi, bằng số tiền lộ phí giúp đỡ của Théo, mới đáp chuyến xe lửa ở Quimperlé, để rồi hai ngày sau, lúc 5:15 sáng, đến ngay nhà ga Arles.

*

* *

            Khi ấy Gauguin đã 40 và Van Gogh 35 tuổi. Cuộc sống chung kéo dài hai tháng là một câu chuyện bi thảm được biết đến nhiều trong giới nghệ sĩ. Van Gogh dùng trọn số tiền Théo gửi cho hàng tháng để trang hoàng đẹp đẽ căn nhà màu vàng (thuê với giá rẻ 15 quan một tháng) tiếp đón Gauguin.

            Thoạt đầu, cả hai người nghệ sĩ đều tỏ ra rất hài lòng với cuộc sống mới này. Van Gogh lo việc chợ búa, Gauguin đảm nhận chuyện nấu ăn. Thì giờ còn lại, họ đắm mình hoàn toàn vào việc vẽ tranh và thảo luận nghệ thuật, hy vọng tìm ra một trường phái hội họa mới cho miền Nam. Nhưng chỉ sau vài ngày sống chung, các cuộc bàn luận trở thành gay go tranh cãi, kéo dài hằng đêm trong bầu không khí nguy hiểm. Tình tương thân tương trợ mà Van Gogh ao ước đã không thấy xuất hiện. Dù rằng họ thường có những thỏa thuận hay ho giống nhau trong nghệ thuật, nhưng khí chất và sở thích cả hai lại đối nghịch dữ dội với nhau. Van Gogh mềm mỏng nhân ái bao nhiêu thì Gauguin mạnh mẽ ích kỷ bấy nhiêu. Với bản tánh gần như hung bạo, Gauguin luôn đóng vai trò giáo sư lấn lướt những quan niệm nghệ thuật của Van Gogh. Van Gogh vẽ một cách thôi thúc bởi nhu cầu nóng sốt của tình cảm; Gauguin lại ghét sự tùy hứng và chỉ vẽ chừng mực đều đặn.

            Trong nhật ký, Gauguin đã viết: “Vincent và tôi rất ít khi đồng ý nhau trên cái nhìn về hội họa. Anh ta ngưỡng mộ Daumier, Daubigny, Ziem và Rousseau, những kẻ mà tôi không thể chịu nổi. Mặt khác, anh ta ghét Ingrès, Raphael, Degas và tất cả những người mà tôi ưa thích. (...) Anh ta rất thích tranh của tôi, nhưng khi tôi hoàn tất bức nào thì anh ta luôn luôn chỉ cho tôi thấy rằng tôi đã làm một lỗi chỗ này, một sai lầm chỗ kia. Anh ta lãng mạn, trong khi tôi có nhiều khuynh hướng nghiêng vềâ một tình trạng xa xưa, trước cả thời Phục Hưng. Khi vẽ tranh, anh ta chú ý đến những điều phụ trong cách pha màu, giống như Monticelli, còn tôi lại hoàn toàn lơ là với những điều ấy.”

 

            Nếu phân tích cụ thể, người ta sẽ thấy những khác biệt này rõ ràng, chẳng hạn như bức “Các Phụ Nữ Arles” của Gauguin có khá nhiều điểm giống với bức “Bộ Hành Tại Arles” của Van Gogh; qua đó, Gauguin dùng thể cách đơn giản, hầu hết mang tính hình học cân xứng. Còn của Van Gogh lại lượn vòng uốn khúc giống như ngọn lửa, gây cảm xúc rất cao trong cái nhìn kẻ thưởng ngoạn. Trong khi cây cọ Gauguin rất dè dặt, của Van Gogh lại cực kỳ chủ đôäng và đóng một vai trò quan trọng trong hiệu quả cấu tạo. Dù rằng ngày tháng chính xác của cả hai bức tranh không được ghi rõ, nhưng dường như Gauguin hoàn tất tác phẩm trước và Van Gogh dùng sáng tác của bạn như điểm khởi sự cho chính mình. Khác hẳn Gauguin, Van Gogh cần có cái gì trước mặt trong khi vẽ tranh, hoặc là thiên nhiên, hoặc là một tác phẩm nghệ thuật khác. Sự kiện Gauguin cố gắng bắt Van Gogh phải áp dụng theo phương pháp làm việc của mình đã là một trong những nhân tố dẫn đến cơn điên loạn cuối cùng của họa sĩ.

            Ngoài ra, quan điểm cả hai về phong cảnh vùng đồng quê Arles cũng hoàn toàn khác biệt. Van Gogh nhìn tất cả mọi sự trong màu sắc ảm đạm của Daumier; còn Gauguin lại được nhắc nhớ đến sự rực rỡ của tranh Puvis de Chavannes hay các bức họa Nhật Bản. Lại nữa, Provence (Arles) rất khác với Britanni (Pont-Aven); nó không phải là nơi của “những tòa nhà bền vững, cũng không mang tính chất xúc cảm của tinh thần”. Tuy nhiên, Gauguin nhận thức Provence như “nguồn cội của kiểu mẫu nghệ thuật hiện đại đáng kính trọng.” Riêng Van Gogh, khi nhìn thấy vài bức vẽ ở Martinique của Gauguin, đã tuyên bố: “Các phụ nữ da đen được anh ta diễn tả tuyệt diệu quá!”

            Trước khi khởi hành đi Arles, Gauguin đã gửi đến Van Gogh một bức chân dung tự họa. Van Gogh nhìn bức tranh và phê bình: “Một tù nhân không có chút tia sáng vui tươi!” (mặc dù Gauguin khi nói với Schuffenecker về bức tranh, đã nhận rằng “đó là một trong những sáng tác tuyệt diệu nhất của tôi”.)

 

 

            [Về sau trong quyển “Avant et Après”, Gauguin kể lại: “Tôi nghĩ ra ý tưởng vẽ chân dung Van Gogh trong khi anh ta đang đắm mình vào bức tĩnh vật về các cánh hoa mặt trời mà anh ra rất mê thích. Khi bức tranh của tôi hoàn tất, Van Gogh kêu lên: ‘Thật đúng là tôi, nhưng mà tôi lúc đã hóa điên!’” Riêng Van Gogh, khi nhận xét với Théo về bức này, cũng đã nói: “Đúng là anh, nhưng với vẻ cực kỳ mệt mỏi và giống như đang mất trí.” Mặc dù vậy, nhà nghệ sĩ vẫn linh cảm theo sự quỵ ngã của mình một ngày không xa.]

 

 

            Trong nhật ký, Gauguin kể lại những dấu hiệu đầu tiên về chứng điên loạn của Van Gogh như sau: “Ngay buổi tối hoàn tất bức chân dung cho Van Gogh, chúng tôi đi đến quán café. Anh ta gọi một ly rượu áp xanh nhẹ. Bỗng dưng anh ta ném cái ly đầy rượu vào đầu tôi. Tôi tránh kịp và kẹp chặt anh ta trong tay, đi ra ngoài quán, băng qua công trường Victor Hugo...”

            Sáng hôm sau, Van Gogh tỏ sự áy náy, xin lỗi Gauguin vì hành động đêm trước. Nhưng buổi tối trước lễ Giáng Sinh, cơn điên lại nổi lên với ông. Đang bước trên đường tối, Gauguin nghe tiếng chân Van Gogh đến gần, nên quay lại, chằm chằm nhìn Van Gogh, thấy trên tay Van Gogh có lưỡi dao cạo sáng loáng. Gauguin bèn bỏ đi đến ngủ trong khách sạn. Còn Van Gogh, cũng ngay đêm ấy, cắt cái tai của mình và gửi nó như món quà tặng cho cô gái điếm tên Rachel nơi một nhà thổ. Sáng sớm ngày Chúa Giáng sinh, trong khi Van Gogh được đưa vào nhà thương, Gauguin đánh điện gọi Théo đến Arles. Ngày 26/12 kế tiếp, Gauguin theo Théo trở về Paris mà không cần đợi xem tình trạng sức khoẻ Van Gogh ra sao. Hai người nghệ sĩ không bao giờ gặp lại nhau từ đó.

 

 

            [Sự thật, Van Gogh vốn đã là người rất dễ bị khích động; bất cứ nguyên nhân tác động dữ dội nào cũng có thể đẩy ông đến gần hơn với nỗi điên loạn. Gauguin hiểu tất cả những điều này, nhưng thay vì làm giảm bớt, ông lại càng tỏ ra vui thích một cách độc ác hơn trong sự dày vò bạn và dần dần tiêu diệt hết những nhiệt tình của bạn. Trong nhật ký, Gauguin viết: “Van Gogh đã rút từ tôi những bài học lợi ích. Lúc tôi đến Arles, anh ta chỉ là đứa trẻ đang lần mò tìm kiếm lối thoát khỏi phái Ấn Tượng, trong khi tôi đã là một người đàn ông trưởng thành. Và cũng chính từ tôi mà anh ta học được những nguyên tắc về Tổng Hợp.”

            Tuy nhiên vấn đề cần phải đặt lại trước những lời này của Gauguin. Dĩ nhiên không phải vô lý mà những bức tranh tuyệt nhất trong thời kỳ còn ở Pháp của Gauguin được vẽ ra sau khi trải qua sự giao thiệp với Van Gogh. Cũng không phải là “mất thể diện” như lời ông viết –khi kết bạn với Van Gogh, người nghệ sĩ rất có từ tâm, luôn luôn lượm lặt những điều tốt ở bất cứ nơi nào có thể. Nhưng Gauguin là con người quá tự cao tự đại nên không bao giờ muốn nhận rằng mình đã hàm ơn kẻ khác. Thái độ Gauguin về Van Gogh được minh họa rõ nhất vào năm 1890, sau cái chết bi thảm của Van Gogh (mà ông tỏ ra vô cùng thờ ơ khi nhận tin) và đang lúc Théo bị lâm vào tình trạng ngập máu. Lúc Bernard nài xin Gauguin góp tay vào việc tổ chức một buổi triển lãm tranh Van Gogh để tưởng niệm người nghệ sĩ quá cố, Gauguin đã trả lời một cách tàn nhẫn: “Tôi không có hứng thú trong việc trình ra trước công chúng những tác phẩm đẻ non của một gã điên!” Ngoài ra, Gauguin cũng khuyên Bernard nên chống lại việc triển lãm tranh Van Gogh, nại lý do không thành thật ràng “điều ấy có thể dẫn Théo đến sự điên loạn như ông anh Vincent”: “Quá nhiều người nói hội họa chúng ta là rồ dại. Chúng ta phải chịu tổn thương danh dự đã nhiều; vậy không nên thực hiện bất cứ điều lợi ích nào cho Vincent.(7) 

            Mối bận tâm của Gauguin theo tiếng tăm riêng đã tương phản rất nhiều so với sự đại lượng nổi tiếng của Van Gogh. Trong những lá thư khác nhau gửi Bernard hay Théo, Van Gogh viết: “Sự hiện diện của Gauguin ở Arles đã làm thay đổi ý nghĩ về hội họa của tôi”“tôi nợ Gauguin rất nhiều.” Lòng đại lượng ấy cũng tỏ rõ trong lá thư gửi Albert Aurier vài tháng trước khi Van Gogh tự sát: “Bài viết của anh (trong tờ Mercure de France) về tương lai của nền ‘hội họa miền nhiệt đới’, theo tôi nghĩ, sẽ chính xác và gây được nhiều ảnh hưởng hơn nếu như anh chịu khó phân tích kỹ về tranh Gauguin trước khi đề cập đến tôi].       

 

 

VI

(1/1889 – 3/1891)

            Paris, một lần nữa, Gauguin đến lưu trú tại nhà Schuffenecker. Bức “Le Peintre Schuffenecker et sa Famille” vẽ gia đình Schuffenecker, thực hiện thời gian này, cho thấy nghệ thuật của Gauguin đã trở nên thành thục. Có nhiều khoảng trống hơn, những nhân dáng được nghiên cứu kỹ, nhưng sự đơn giản và sức mạnh sáng tạo của thời kỳ sau vẫn chưa phát lộ hẳn.

            Schuffenecker là người có lòng từ ái, vóc dáng nhỏ bé, cả thẹn. Ông được nói đến như một kẻ bị chế ngự rất nhiều bởi cá chất quả quyết của Gauguin, con người ở nhờ mà hầu như chiếm trọn căn nhà, gỡ những bức tranh của Schuffenecker xuống để treo những bức riêng của mình lên; chiếm hữu phòng vẽ và ít nhất một lần, bằng điệu bộ rất “ông chủ”, đã đóng sập cửa trước mặt Schuffenecker, không cho ông này bước vào. Người vợ Schuffenecker, sau một thời gian ngần ngại trước nét mãnh liệt lôi cuốn của Gauguin, đã ngã lòng và âm thầm dan díu với Gauguin ngay trong nhà mình.

*

* *

            Sau khi Gauguin rời khỏi Arles, Van Gogh, khi nói về người bạn bất thường, đã cảnh cáo em trai “không được khinh xuất trong những giao tiếp với con người đáng sợ ấy” (...) và  “quả là khủng khiếp khi mà sự náo động thật xung khắc với ước muốn và nhu cầu trong con người anh ta.”

            Điều nhận xét này đúng. Gauguin không bao giờ biết rõ mình sẽ làm gì, đi đâu thời gian tiếp đó. Trong óc ông hoang mang đủ thứ hướng nhưng cuối cùng ông hăm hở để tâm theo Hội Chợ Quốc Tế sắp được tổ chức tại Paris ngày 1/5/1889. Ông nhìn thấy đây là dịp tốt để phô trương phái Tổng Hợp (Synthetisme) của mình, tạo nên một chuyển động đột ngột, điều sẽ chứng tỏ được sự ly khai của nghệ thuật ông đối với phái Ấn Tượng và Tân Ấn Tượng.

            Phòng triển lãm trong Palais des Beaux-Arts (cũng thuộc Hội Chợ Quốc Tế) được dành riêng cho cuộc Triển Lãm Kỷ Niệm 100 năm thành lập căn nhà nghệ thuật, trong đó quy tụ các tác phẩm hội họa và điêu khắc của những nghệ sĩ nổi tiếng; gồm luôn vài tác phẩm của Monet và Pissarro; 15 bức của Manet và một bức của Cézanne. (Chẳng bức nào của Gauguin được nhận hết.)

            Không xa phòng triển lãm bao nhiêu, có quán Café des Arts. Khi ấy, chủ nhân quán này –Volpini, người Ý—đang chờ đợi người mang những cái gương tới để trang hoàng quán cho kịp ngày khai mạc hội chợ. Schuffenecker bèn đến hỏi xin Volpini cho treo những bức tranh của ông và bạn hữu. Volpini bằng lòng. Gauguin nhẩy cỡn lên vui sướng rồi nhanh chóng sắp xếp một danh sách chừng hơn 10 bức của ông (trong gồm “Les Mangos: Martinique”, “Jeunes Lutterus”, “Femme dans les Vagues”, “La Ronde des Bretonnes”), và đề nghị Bernard, Ray, Fauché, Laval, Van Gogh, Schuffenecker, George-Daniel de Monfreid góp phần tổ chức. Tranh được lồng trong những cái khung màu trắng. Cuốn mục lục ---theo sáng kiến đúng kiểu Gauguin—ngoài bìa trình bày bằng những sọc xanh trắng đan nhau với hai bức họa chụp lại của Gauguin; tên các họa sĩ triển lãm đề ngay bên dưới hàng chữ “Le Groupe Symboliste et Synthétiste” (Nhóm Họa Sĩ Biểu Tượng Và Tổng Hợp). Cuối cùng, các bức tường trong Café des Arts đều được bao kín bằng gần 100 bức tranh của một “nhóm họa sĩ tùy hứng” không chuẩn bị trước.

            Kết quả đáng buồn là không bức nào được mua đến. Khách thưởng ngoạn khi nhìn chúng, đã bật lên những cái cười chế nhạo.

*

* *

            Cuộc triển lãm của nhóm Gauguin –dù với nhiều điều kiện không thuận lợi, các bức tranh được nhìn ngắm giữa mùi vị và tiếng trò chuyện ồn ào của một quán ăn rẻ tiền—lại gây nên được một hiệu quả tốt. Nó phô bày Gauguin với Pierre Bonnard, Edouard Vuillard và đám sinh viên Académie Julian (các họa sĩ nhóm Nabis tương lai); làm biến đổi Sérusier từ một người hâm mộ Gauguin cách lưỡng lự sang một kẻ sùng bái điên cuồng. Nó cũng lôi cuốn được sự chú ý của thi sĩ Charles Morice (về sau là người viết tiểu sử Gauguin) và nhà phê bình Albert Aurier viết cho tờ Mercure de France.

            Thời gian này tại Paris, Gauguin bắt đầu quen biết với các văn thi sĩ phái Biểu Tượng (Jean Moréas, Charles Morice, Stéphane Mallarme, Paul Verlain, Octave Mirbeau) và được họ đón tiếp như một đại diện lãnh tụ Biểu Tượng của hội họa. Ông trở nên là khuôn mặt quen tại những quán Café Voltaire, Café Côte d’Or... nơi các nghệ sĩ phái này hay tụ họp. Ông cũng thường đến tham dự những buổi tiếp tân “thứ Ba” tại nhà Mallarmé.

*

* *

            Cuối tháng 5/1889, Gauguin trở lại Pont-Aven và gặp Sérusier ở đó. Mùa hè, ông vẽ bức “La Belle Angèle” và tặng lại cho người mẫu, Madame Satre, một phụ nữ trưởng giả địa phương, nhưng bà ta từ chối theo lời can ngăn của các họa sĩ lý thuyết trừu tượng -kẻ thù của Gauguin-- ở nhà trọ Mère Gloanec.

            Lần thứ ba lưu lại Britanni là thời kỳ hoạt động nghệ thuật mạnh mẽ nhất của Gauguin. Bấy giờ, nhiều hơn lúc nào hết, Gauguin cố gắng nắm bắt điểm đặc thù của vùng Britanni. Ông chủ yếu diễn tả nét mộc mạc xưa cổ, sự buồn rầu hoang vắng nơi đây qua các bức tranh vẽ người nông dân đang làm việc trên cánh đồng. Có vài bức cảm hứng từ đức tin tôn giáo thành thật của họ; chẳng hạn bức “Le Christ Jaune” –báo trước sự chín muồi trong thời kỳ sắp đến— được sáng tạo dựa theo bức tượng Chúa Jésus bằng gỗ nhiều màu trong một nhà thờ cổ ở Trémalo, gần Pont-Aven.

            Đa số các nghệ sĩ ở Britanni tìm thấy nơi Gauguin một bề ngoài tương tự như đấng Cứu Thế, dẫn khởi từ nét mặt rắn rỏi đầy vẻ chế ngự, bộ râu và vị trí lãnh đạo nhiều môn đệ của ông. Trong vài bức họa, đặc biệt bức “Jésus au Jardin des Oliviers”, Gauguin nắm bắt điểm tương tự này như một hình thức ám chỉ sự cô đơn và đau khổ riêng ông thời ấy.

            Bức “Le Calavaire” vẽ ra sau khi ông rời Pont-Aven để dời về bờ biển Le Pouldu, cảm hứng từ một trong những bức tượng kỵ sĩ bằng đá tại Nizon, qua đó, màu sắc sử dụng tác động lên hiệu quả tình cảm, làm nổi bật trạng thái ủ ê buồn rầu nhưng đầy thi vị của tác phẩm.

*

* *

            Cuối tháng 9/1889, chán ngán vì một nhóm nghệ sĩ quy tụ về đây khá đông, Gauguin dời đến Le Pouldu, vùng đất hẻo lánh cổ kính dọc theo bờ biển. Tại đây, ông sống trong một quán trọ cũ kỹ do cô Marie Henry làm chủ. Nhưng rồi chẳng bao lâu, Sérusier trở lại Académie Julian, mang theo bức tranh của Gauguin vẽ chiếc hộp xì gà. Sau đó, Sérusier vẫn thường dùng bức tranh này để giải thích với các sinh viên ở Académie Julian (đang rất say mê Gauguin, trong số có Maurice Deni Vuillard và Bonnard) những lý thuyết của Gauguin về kiểu mẫu và nhịp điệu trong hội họa.

            Tháng 10/1889, Gauguin gặp cả Meyer de Haan, một người Đức có cổ phần chia lời hàng tháng trong một xưởng làm bánh phát đạt ở Amsterdam, nhưng lại từ bỏ để dấn thân vào nghệ thuật. Meyer de Haan bắt đầu nghề vẽ như một họa sĩ trừu tượng, nhưng sớm hoan hỉ đối với phái Ấn Tượng. Ông hâm mộ tác phẩm Gauguin từ cuộc triển lãm ở quán Café Volpini; và qua sự giới thiệu của Pissarro, đã giúp đỡ tài chánh rất nhiều cho Gauguin. Dưới sự hướng dẫn của Gauguin, Meyer de Haan hoàn tất vài tác phẩm, đặc biệt là một bức tự họa đáng được lưu ý.

            Khi Gauguin đến Le Pouldu tháng 9/1889 thì nơi đây chỉ là một làng đánh cá vô danh và quán ăn của cô Marie Henry được trang trí rất đơn sơ. Dáng vẻ đầy sức sống, không màng lưu tâm đến đôi guốc gỗ, cây gậy và cái áo ngư phủ tồi tàn mặc trên người, Gauguin có đủ sức mạnh tiếp tục tạc những bức điêu khắc bằng gỗ và đá hoa cương về ban đêm sau khi đã xong một ngày vẽ tranh bình thường.

            Quán ăn của cô Henry lúc bấy giờ trở nên là trung tâm hoạt động nghệ thuật chính yếu trong tỉnh. Căn phòng nhỏ biến thành đẹp đẽ do bởi bàn tay trang trí của Gauguin, Meyer de Haan và Sérusier. Các ô kính cửa sổ được vẽ lên các bức họa về vùng Britanni, giống như những cánh cửa sổ bằng kính nhiều màu kiểu Gô-Tích. Hai bức phong cảnh và một bức chân dung của cô chủ quán được vẽ bởi Meyer de Haan, chiếm đầy bức tường. Vài tượng nhỏ đặt trên các tấm kệ chung quanh phòng. Một bức họa tựa đề “Bonjours, Monsieur Gauguin” được đính chắc trên ô cửa ra vào phòng khách. Nơi ô cửa thấp hơn, Gauguin vẽ bức “Người phụ Nữ Caribean” ngay mặt nền gỗ của nó. Bên ngoài căn phòng, phía trên lối ra vào, có treo tấm bảng vải với hàng chữ “Thiên Đàng Hạ Giới.” Một bức tự họa và bức chân dung khác của Meyer de Haan vẽ thẳng ngay trên cánh cửa gỗ của cái tủ đồ sộ; trần nhà trang trí bằng bức tranh của Gauguin vẽ con thiên nga cùng cái đầu và đôi bờ vai một người đàn bà (có lẽ rút ra từ huyền thoại Jupiter và Leda) bao chung quanh bởi câu khắc trích từ Kinh Thánh: “Honi soit qui mal y pense!” (Nhục nhã thay cho kẻ nào nghĩ điều xằng bậy.) Bức “Chân Dung Tự Họa Với Vầng Hào Quang” của Gauguin khắc ngay trên cánh cửa tủ còn lại, ám chỉ một cách nhạo báng sự tương phản theo bề ngoài có điểm giống nhau giữa Gauguin và đấng Cứu Thế, qua đó, vầng hào quang không những nói lên bản thể kiêu ngạo và ham khoái lạc của ông, lại còn con rắn và quả táo được nhìn như một biểu tượng của Sự Rơi Ngã của Con Người.

            Cũng tại Le Pouldu năm 1889 mà Gauguin khắc bức tranh gỗ “Soyez amoureuses et vous serez heureuses”, một truyền đạt rõ ràng tư tưởng riêng ông về tình yêu tự do: “Gauguin (như con quái vật) chụp bắt bàn tay một người đàn bà đang phản kháng và nói với bà: ‘Hãy yêu đi rồi em sẽ thấy hạnh phúc’. Con cáo được biểu tượng như sự đồi trụy của người Da Đỏ.”

            Trên “Soyez amoureuses et vous serez heureuses” có một hình thành hoang tưởng của họa sĩ, diễn đạt trong thái độ hoàn toàn độc lập. Người ta chỉ cần so sánh nó với một bức phong cảnh của phái Ấn Tượng mà Gauguin vẽ ra ba năm trước cũng sẽ nhìn thấy sự cấp tiến thế nào trên khái niệm nghệ thuật đã thay đổi của riêng ông.

            Mùa hè 1890, Gauguin vẫn đi đi về về giữa Pont-Aven và Le Pouldu. Một bữa ông cãi nhau dữ dội với Meyer de Haan vì tình cảm của cô chủ quán. Do đó, ngày 7/11/1890, ông rời nhà trọ với số nợ còn thiếu cô Henry là 300 quan, bỏ rơi tất cả các họa phẩm của mình tại đó để trở về Paris.

*

* *

            Tháng 11/1890, từ Le Pouldu trở về Paris trong cách ăn mặc của một ngư phủ với cái áo nịt laine có sọc, khoác chiếc áo choàng rộng, đội mũ bê rê và mang đôi guốc gỗ chạm trổ nhiều màu, Gauguin tìm đến Schuffenecker (lúc bấy giờ vừa mới dọn sang một nơi chốn mới và biến căn nhà mình thành một khách thính nghệ thuật). Ở đó, hàng tuần Schuffenecker vẫn tiếp đãi các nghệ sĩ trẻ, trong số gồm có Sérusier, Emile Bernard và những người rất hâm mộ Gauguin.

            Thời gian Gauguin còn lưu lại Le Pouldu, các bức tranh của Sérusier và Bernard đã tạo được ít nhiều sự chú ý trong giới thưởng ngoạn; bấy giờ họ được nói đến như những họa sĩ phái Biểu Tượng và tên họ được nối kết với tên Gauguin. Biết ra điều ấy, Gauguin rất nổi giận: Ông đã tiến xa một đoạn đường dài trong khi Sérusier và Bernard chỉ mới bắt đầu sự hâm mộ dành cho ông tại Pont-Aven. Và dù rằng rất ưa thích bức “Người Phụ Nữ Trên Cánh Đồng” của Bernard, luôn luôn Gauguin vẫn nhìn Bernard và Sérusier như những nghệ sĩ hạng nhì; vì lẽ đó, không muốn ràng buộc tiếng tăm mình với họ.

            Thế rồi tỏ ra khinh miệt Schuffenecker, người đã đặt tác phẩm ông ngang hàng với của “các họa sĩ tồi”, Gauguin đối xử rất tệ với Schuffenecker đến khiến ông này không thể chịu đựng lâu hơn nữa.

            Ngày 3/2/1891, sau một cuộc cãi vã dữ dội, Gauguin bị chính Schuffenecker mời ra khỏi nhà. Gauguin bèn dọn đến lưu trú trong một khách sạn rẻ tiền trên đường Dalambre và may mắn được Daniel de Monfreid mời về vẽ tại phòng tranh của ông ta ở số 55 Rue du Château.

            Kể từ đây, Gauguin bỏ rơi hẳn nhãn hiệu “Biểu Tượng” và đám bạn Pont-Aven cũ.

*

* *

            Tại Paris, dù với dáng vẻ ngạo mạn và cái nhìn chằm chằm hoang dã làm kẻ khác sợ hãi, dù với lối chuyện trò xấc xược mai mỉa khi bàn về nghệ thuật, Gauguin vẫn không được giới phê bình và quần chúng công nhận là một nghệ sĩ thật sự. Trong mắt nhìn của xã hội đương thời, Gauguin, người chỉ đạo trường phái Pont-Aven, là một gã điên, chàng họa sĩ vẽ ra các con ngựa màu đỏ.

 

 

            [Thực sự, cũng có vài người thật lòng hâm mộ Gauguin, trước là Van Gogh, sau nữa, Maurice Denis (họa sĩ Pháp, 1870-1943). Năm 1891, Denis đã viết gửi Sérusier những lời như sau: “Chúng ta còn đợi chờ gì mà không la lớn khi không ai nhận ra rằng tác giả của những bức ‘Le Christ Jaune’, ‘Vision après le Sermon’ và bức tượng khắc ‘Soyez amoureuses’ là một thiên tài?’]

 

 

            Những tháng đầu năm 1891, Gauguin thường xuyên lui tới quán Café Voltaire (ở Place de l’Odéon), nơi mà mỗi tối thứ hai, ông vẫn gặp gỡ Eugène Carrière, Redon, Verlain, Mallar- mé, Daniel de Monfreid, Albert Aurier, Charles Morice và Jean de Rotonchamp. Tiếng tăm Gauguin ngày càng lan rộng trong giới nghệ sĩ. Nhưng dẫu đứng chung “trong” giới này, ông cũng cảm nhận rõ ràng rằng mình “không thuộc” vào nhóm họ. Những cuộc bàn luận trên lý thuyết suông về phái Biểu Tượng không có giá trị nào khác hơn những lời tán tụng giữa họ với nhau. Cũng vậy, cái vẻ bảo trợ kẻ cả của họ trên ông càng lúc càng khiến ông thêm khó chịu. Cho đến khi cuộc đổ vỡ với nhóm họa sĩ Biểu Tượng tại nhà Schuffenecker xảy ra thì cũng là lúc Gauguin không thể chịu đựng lâu hơn nữa các cuộc chuyện trò của giới văn thi sĩ phái Biểu Tượng tại Paris. Vì lẽ đó, Gauguin từ bỏ, cắt đứt hết mọi giao thiệp và trải phần lớn thì giờ nuôi dưỡng nỗi cô đơn của mình trong các quán rượu tồi tàn.

            Paris chưa bao giờ tạo được hứng thú hội họa cho ông và bây giờ nó dâng tặng ông –một lãnh tụ “đói” của một trường phái hội họa mới—không phải thức ăn mà là những lời tâng bốc vô ích. Trí tưởng tượng dẫn dắt ông đi xa tới những nơi chốn hẻo lánh, các vùng đất có mặt trời chiếu sáng, vách núi dựng đứng bên cạnh biển cả và ban đêm hoàn toàn yên tĩnh. Đó là một cuộc trốn chạy khỏi những trường phái hội họa và mọi săn đuổi tầm phào theo danh vọng. Một triều đại mới sẽ khai mở và chính ông phải là hoàng đế. Các kẻ bao quanh ông không phải từ động cơ thúc đẩy của sự tiến bộ, mà nẩy sinh từ lòng trung tín tự nhiên. Phần ông thì sẽ sống thành thực và không biết gì đến tội lỗi.

 

            Mặc dù với những ngợi khen của vài nhà phê bình, công chúng vẫn nhận xét tranh Gauguin là “kỳ cục”. Vào tuổi 42, ông chỉ là một họa sĩ nghèo, không ngừng bị ám ảnh bởi nỗi thao thức theo những chân trời lạ. Một lần Gauguin thú nhận: “Tôi không bao giờ có thể nhạo báng hai kẻ: một đứa trẻ và một thổ dân hoang dã.” Ông từng có ý nghĩ đi đến các vùng nhiệt đới với Bernard, Laval hay Meyer de Haan. Mục đích đầu tiên là muốn lần nữa đi tới Martinique hay Tonkin hoặc Madagascar, nhưng cuốn tiểu thuyết “Le Mariage de Loti” của Pierre Loti với những diễn tả về sự mê thú của các hòn đảo vùng biển Thái Bình Dương làm Gauguin quyết định đi Tahiti. Và ông tuyên bố với mọi người rằng sẽ đi về vùng Nam Mỹ để sống và vẽ như một kẻ hoang dại.

            Đa số các nghệ sĩ nước Pháp thời Đệ Tam Cộng Hòa thường có chung ý nghĩ rằng không tìm ra được đất sống cho nghệ thuật của mình trong một xã hội mà giá trị tiền bạc được đặt trên tất cả. Vì vậy, giấc mơ Thiên Đàng theo thời hoàng kim xưa cổ đặc biệt được họ nghĩ đến. Họ cảm thấy ngột ngạt trong môi trường xa lạ của thời đại cơ giới hóa và họ cần tìm trốn tránh. Có những kẻ trốn tránh bằng hình thức xoay vào nội tâm, xây dựng một thế giới tưởng tượng riêng và tự cắt đứt khỏi cuộc sống bình thường. Mallarmé, Odfilon Redon, Gustave Moreau, Villiers de l”isle-Adam đã làm như thế. Có những người trốn tránh bằng cách rời bỏ hẳn Âu Châu để đi đến một vùng đất xa xôi hẻo lánh nào đó trên quả điïa cầu, nơi còn nhiều tính thô sơ hoang dã và những điều kiện thích hợp cho cuộc sống xã hội của họ. Rimbaud là người đầu tiên làm điều này, rồi Pierre Loti và những kẻ khác.

            Riêng Gauguin bị lôi cuốn tới Tahiti không chỉ như một phương cách trốn tránh thế giới văn minh, tìm về thời nguyên sơ cổ đại thôi, mà bởi vì điều ấy còn cung cấp những chủ đề sáng tác mới cho hội họa ông; nhất là đời sống nhẹ nhõm, dễ chịu, xa cách được với mọi nỗi khó khăn do tiền bạc gây ra. Đó là nơi mà “người ta chỉ cần giơ một cánh tay cũng đủ tìm ra thức ăn!”

*

* *

            Ý muốn bỏ Paris tìm đến sống tại Tahiti ngày càng mạnh mẽ. Sau khi quyết định chắc chắn, Gauguin bèn đi gặp Ary Renan, giám đốc viện Beaux-Arts, xin cấp cho một chứng chỉ giới thiệu với các viên chức Pháp tại Tahiti như một người mang “sứ mạng nghệ thuật” làm việc không ăn lương. Ngoài ra, Gauguin còn được Renan đoan xác, theo thủ tực từ trước đối với các trường hợp như vậy, là Viện sẽ mua lại vài bức tranh mà Gauguin sẽ vẽ ra tại Tahiti.

            Giấc mơ ôm ấp, cuối cùng rồi cũng thành sự thật. Bạn hữu cố lòng can ngăn, nhưng Gauguin vẫn bướng bỉnh làm theo ý muốn. Và để kiếm tiền, một cuộc bán đấu giá các sáng tác của Gauguin được tổ chức ngày 23/2/1891 tại Hôtel Drouot. Octave Mirbeau được Mallarmé cho hay, viết một bài đăng trên tờ Écho de Paris, khen ngợi tác phẩm Gauguin và nhấn mạnh đến điểm đặc thù lãng mạn trong sự ra đi về miền nhiệt đới sắp đến của họa sĩ.

            Cũng nhờ bài báo “vang lừng” ấy mà trong cuộc triển lãm, Gauguin bán ra 30 họa phẩm và thu vào được 9.350 quan; trong số có những bức “Le Gardien de Porc”, “La Gardeuse de Moutons”, “La Belle Angèle”, “Vision après le Sermon”, “Femme dans les Vagues”, thêm vài bức vẽ tại Arles và đảo Martinique. Edgar Degas mua bức “La Belle Angèle”. Những bức tuyệt nhất vẽ ra tại Le Pouldu được giữ lại cho bạn bè: Schuffenecker giành mua bức “Le Christ Jaune”; bức “Le Calvaire” để lại cho công ty Goupil; và bức “Jésus au Jardin des Olivier” về tay Daniel de Monfreid.

            Gauguin và bạn hữu rất hài lòng với kết quả này.

            Ngày 7/3/1891, Gauguin đáp tàu đi Copenhagen thăm vợ con và lưu lại đó một tuần lễ. Đây là lần cuối cùng hai vợ chồng gặp nhau.

 

 

            [Về sau, Pola Gauguin, con trai út của họa sĩ, kể lại rằng: “Mẹ và hai anh chị lớn, Emile và Aline, đi đón cha ở nhà ga Copenhagen. Trông cha có vẻ xa lạ và điều ấy hiện rõ trên mặt. Mái tóc dài cùng vóc dáng hơi phúng phính tròn trĩnh của cha đã không đúng với ký ức hồi tưởng của mọi người về ông. (...) Nhiều xung đột giằng co trong tim mẹ. Bà thấy cha xa lạ đến nỗi viễn ảnh đau khổ của một sự xum vầy xem ra còn nặng nề hơn tình cảm bà có thể bày tỏ với ông. Bà cảm nghe thương hại cha, nhiều cũng bằng như thương hại chính bà. Mối quan hệ mạnh nhất là giữa cha và hai người con lớn, nhất là với Aline. Aline là người duy nhất trong chúng tôi biết định giá nỗi hạnh phúc trong sự việc có một người cha, bởi vì chị nhớ thương cha nhiều nhất. Vẻ buồn bã, cha từ giã chúng tôi.”]

*

* *

            Ngày thứ hai 23/3/1891, chừng 45 người bạn văn nghệ sĩ phái Biểu Tượng làm cuộc tiệc danh dự tại quán Café Voltaire để đưa tiễn Gauguin; Mallarmé bị bệnh không đến được. Redon, Carrière, Aurier Morice, de Rotonchamp, Valette, Mme Rachilde cùng những đệ tử hâm mộ Gauguin nâng cốc mừng ông và ngâm những bài thơ của Mallarmé.

 

 

            [Sau khi Gauguin đã lên đường, Paul Fort cũng tổ chức một chương trình biểu diễn đặc biệt các tác phẩm của phái Biểu Tượng tại nhà hát Vaudeville để gây quỹ giúp Gauguin và Verlain, nhưng tổng cộng tiền vào cửa thu được không tới 100 quan.]

 

 

            Trong một quán vắng trước ngày khởi hành, ngồi tâm sự với Charles Morice, Gauguin đã khóc và nói: “Tôi chưa bao giờ đau khổ quá như lúc này. Hãy nghe tôi! Tôi đã không thể vừa cưu mang gia đình vừa hiến thân cho nghệ thuật được. Và bây giờ, khi có lý do để hy vọng thì tôi lại càng cảm nhận kinh khủng hơn bao giờ về sự hy sinh mà tôi đã gây ra cho gia đình tôi.”

            Khi nghe biết về chuyến đi của Gauguin, Renoir đã bình luận trong một cái cười mỉm: “Nơi nào anh ta đến, nơi đó trở nên sống động.”

            Ngày 4/4/1891, đứng trên sân Gare de Lyon chờ chuyến xe lửa đi Marseille và từ đó, đáp chuyến tàu Océanien đi Tahiti, Gauguin ôm lấy Charles Morice và Sérusier cùng hai họa sĩ khác vừa mới được nhận vào nhóm Tổng Hợp: Ballin và Verkade. Verkade về sau trở nên một tu sĩ, đã kể: “Cuộc chia tay nhanh chóng và cảm động. Sau khi ôm từng người chúng tôi, anh biến mất vào lòng tàu. Trông anh rõ ràng xúc động.”

 

 



(6)  Về sau, năm 1891, kể từ khi Gauguin được ca ngợi là người sáng tạo ra cách thế mới này, Emile Bernard tiến hành một cuộc bút chiến quyết liệt để xác minh rằng ông mới chính là người thành lập phái Pont-Aven, đưa vào hội họa những cái mới, dẫn đầu nhịp chuyển động Tổng Hợp và tạo ảnh hưởng trên Gauguin.

                Sự thật, dẫu bức “Các Phụ Nữ Bretons Trên Cánh Đồng” của Bernard ra đời trước bức “Vision après le Sermon” của Gauguin thì điều ấy vẫn không thể xác định được tính chất sáng tạo của phái Pont-Aven. Chiếc mũ trắng nhìn thấy trong cả hai bức tranh là truyền thống trang phục của phụ nữ Bretons và có thể tạo cảm hứng cho bất cứ họa sĩ nào. Nếu so sánh, người ta sẽ thấy rằng, sáng tác của Bernard chỉ là một bản mô phỏng tỉ mỉ truyền thống ăn vận của phụ nữ ở Britanni; trong khi với bức của Gauguin, sơ đồ phối hợp gợi nhắc bức “Tại Đoàn Xiệc Fernando” của Toulouse-Lautrec, và hai người đô vật làm liên  tưởng đến  bức “Mangwa” bằng gỗ khắc của Hokusai.

(7)  Theo một nhà phê bình, Gauguin cũng từng đối xử không đại lượng như thế với Degas, người mà ông nợ rất nhiều trên cả hai mặt hội họa và đời sống. Ít nhất là Gauguin từng vay mượn từ nguồn sáng tác dữ dội của Degas một sự diễn tả hay dáng vẻ trong những năm ông ở Britanni kéo dài cho đến 1889. Ngoài ra, Degas là một trong số ít người mua tranh Gauguin tại các cuộc bán đấu giá tổ chức ở Hôtel Drouot trước cả hai lần Gauguin khởi hành đi Tahiti. Dù vậy, năm 1889, Gauguin đã viết cho Bernard: “Degas đã trở nên già và đang điên tiết theo việc không tìm ra được một thể thức mới cho hội họa của mình.”

Lời Tựa 


Edgar  Allan Poe
Emily Bronte
Lermontov
Paganini
Paul Gauguin 1 - 2** - 3
Pushkin 1 - 2

Bài tiếp >> 
Trang Chủ