Trần Thị Bông Giấy

PAUL GAUGUIN (1848-1903)

(Kiến Thức Văn Học)

(Trích TÀI HOA MỆNH BẠC II)

           

 

            Người rao bán đấu giá hẳn nghĩ rằng các bức tranh của Gauguin thật đáng tức cười, nên, lộn ngược một bức xuống, ông ta la lớn: “Quý vị nhìn xem! Đây là thác Nigara!”; rồi gõ cái búa xuống bàn, cho biết giá đưa ra là 10 quan. Chẳng ai buồn nhúc nhích. Bảy bức khác được bán, mỗi bức một quan. Thêm một bức nữa chỉ đáng 35 xu!  

            Khi ấy, họa sĩ Paul Gauguin vừa mới qua đời trong vùng đảo La Dominique thuộc Marquesas, bờ biển Nam Thái Bình Dương. Một cuộc bán đấu giá các bức tranh và những vật sở hữu của ông để trả các món nợ mà ông đã thiếu khi còn sống, được tổ chức tại Autuona ngày 20/7/1903.

            Không bao lâu, một ngư phủ tìm thấy chiếc valise nhét đầy các tấm canvas và các bức phác họa mà người ta đã phế bỏ đi khi kiểm kê những đồ đạc để lại của họa sĩ, ông ta bèn đem quẳng hết xuống biển.

            Nhiều năm sau, khi tên tuổi Gauguin đã biến thành huyền thoại, trên vùng đảo Marquesas, hành động của người ngư phủ vô danh ấy được xem như một lầm lỗi đáng giá bạc triệu. Công việc thu thập các bức tranh Gauguin bắt đầu, các nhà sưu tập đổ xô đi tìm chúng trong các tiệm rượu, các ổ điếm, các quán trọ. Nhà nghệ sĩ đã đổi chúng để lấy chai rượu vang, một ngày ở trọ, hoặc giây lát vui thú nào đó. Chúng thường bị vất lăn lóc trong rầm thượng hay nơi gác lửng bởi vì các người sở hữu không nghĩ rằng chúng có giá trị để phải được treo lên. Tại Brittany, chúng được dùng như các tấm thảm trải sàn nhà, hay được cắt ra may chung với nhau làm lều căng che nắng. Cũng không ai ngờ, năm 1959, một trong số những bức tranh “chỉ đáng một quan” ấy của Gauguin đã được một nhà mại bản nghệ thuật mua với giá 369.000 đô la. Các bức khác đều không ít hơn số tiền vừa kể. Nhà họa sĩ vĩ đại quả đã phải nhận cái giá thật mỉa mai cho nghệ thuật của ông: trong thời sinh tiền, số lợi tức kiếm được từ những gì ông đắm mình sáng tác chỉ chừng mười ngàn (10.000) đô la mà thôi!

            Lịch sử không ân cần với Gauguin bởi vì đã tạo ra chung quanh Gauguin huyền thoại về một con người không tình cảm, mang bản chất kiêu ngạo, hay nổi giận, ưa tấn công kẻ khác, tiêu phí cuộc đời trong sự trốn chạy đến những vùng trời xa xôi hẻo lánh. Và cái huyền thoại đáng tiếc của đời ông cũng thường đem lại cho người ta thành kiến xấu để chống lại nghệ thuật riêng ông. Một mặt, Gauguin bị những kẻ phán xét nghiêm khắc mô tả như “một con người mang tính quỷ”; mặt khác, bởi vài kẻ biện hộ hiếm hoi, ông lại là một thiên tài khó hiểu, kẻ phải cưu mang nhiều ngược đãi trong suốt dòng sống bi thảm của ông.

            Thật vậy, nỗi quan tâm lớn của chúng ta ngày nay về Gauguin không chỉ đến từ giá trị tác phẩm ông và ảnh hưởng của chúng trên nền hội họa hiện đại, mà còn bởi vì ông đã có một cuộc đời thi vị đầy màu sắc hơn bất cứ nghệ sĩ nào trong cuối thế kỷ 19. Cái ấn tượng sâu đậm mà họa sĩ đã gieo trên chúng ta chính là về một bản chất chiến đấu mạnh mẽ để đáp ứng định mệnh, một con người được điều khiển bởi bản năng, mãnh liệt đến cực đoan và đưa tới sự tự hủy. Tâm hồn ông chứa đầy nỗi hằn học u uất ngay từ thuở nhỏ, và rồi sau khi bước chân hẳn vào cuộc đời, sự bất bình này lớn dần và chín muồi theo hình thức một sự khinh bỉ đối với thế giới văn minh Tây phương.

            An toàn và tiện nghi mang một ý nghĩa rất nhẹ trong lòng Gauguin. Từ một người buôn cỗ phiếu giàu có, ông bỏ rơi tất cả mọi vật chất xa hoa –và cuối cùng là xã hội văn minh—để hiến mình vào hội họa. Họa sĩ chuyển đổi cuộc đời sang nghệ thuật như một kẻ bình thường nhu nhược tìm trốn chạy trong rượu, hay ma túy. Tuy nhiên Gauguin không phải là người yếu đuối. Có thể nói rằng ông vừa mang bản năng của một kẻ chinh phục, lại cũng vừa có bản chất của một kẻ nhút nhát. Thân thể ông khỏe mạnh nhưng về mặt tinh thần thì lại rất hay thay đổi. Những năm tháng sống của ông chỉ là một chuỗi nối dài những bất ngờ từ bỏ. Khi cuộc đời làm ông buồn chán hay các đam mê riêng bị kềm chế bởi bổn phận bình thường của con người, Gauguin thường có khuynh hướng “chạy trốn”, rời bỏ gia đình, bạn bè không chút nào luyến tiếc để tìm về các vùng đất xa xôi. Trên một mặt, văn hóa Âu Châu tham dự trong hầu hết những gì Gauguin đã sống; mặt khác, ông là người quay lưng lại với văn minh Tây Phương để trở thành một kẻ hoang dã, một Maori(1).

            Thật sự, “sự trốn chạy” của Gauguin xem ra khó hiểu hơn tính ưa suy nghĩ của Seurat, tính hay phân tích tỉ mỉ của Cézanne, hoặc là sự khích động hỗn loạn trong tâm hồn Van Gogh. Và từ những “trốn chạy” này mà người ta thường có khuynh hướng định giá Gauguin như một kiểu nghệ sĩ sống lang thang trên các vùng đảo Thái Bình Dương.

            Thật không có gì bất công với Gauguin hơn điều nhận xét ấy. Câu chuyện về các cuộc trốn chạy của Gauguin, bao hàm chữ “tới” hay chữ “từ” (từ Paris tới Brittany; từ Brittany tới Tahiti năm 1891; từ Tahiti chán nản trở về Paris năm 1895, và lần thứ hai cũng là cuối cùng từ Paris tới Tahiti rồi quần đảo Marquesas) đều đã được nói đến nhiều trong lịch sử hội họa. Ý niệm lôi kéo Gauguin xa khỏi Âu Châu chính đã khởi đi từ nỗi ao ước chân thành tìm cho ra một cuộc sống hoang sơ đích thật –vũng không gian mà Théodore Rousseau từng tạo ra trong hội họa riêng, bao chung quanh một mẫu người “hoang sơ cao quý”. Ý niệm trên có thể là hão huyền không thực tế; nhưng trong trường hợp Gauguin, nó cho chào đời vài bức họa tuyệt mỹ đầy tính con người nhất của thời kỳ cuối thế kỷ 19. Van Gogh từng gọi ông là “thầy”. Picasso tỏ lòng tri ân những gì đã nhận từ nghệ thuậït Gauguin. Những họa sĩ đi sau ai cũng ít nhiều bị ảnh hưởng từ ông trên những sáng tạo thể thức và màu sắc mới lạ.

            Mang hai giòng máu Pháp & Tây Ban Nha, lại cũng vừa mang trong bản chất hội họa của mình những tinh hoa gặt hái từ truyền thống Montmartre của hội họa Pháp, đến trái quả nghệ thuật của các vùng biển nhiệt đới chưa ai thăm dò tìm hiểu, nhưng sự tưởng thưởng cho những gì đã hy sinh đánh đổi thì không đến tay khi Gauguin còn sống; và kết quả của mọi đi tìm đã từ chối ông trước khi thân xác được vùi sâu dưới lòng mộ theo nỗi hân hoan của các nhà truyền giáo, những kẻ đứng về phía chính quyền để lên án và kình chống họa sĩ trong những ngày tháng cuối cùng của đời ông.

 

 

I

(6/1848 – 6/1886)

            Eugène Henri Paul GAUGUIN sinh ngày 1 tháng 6 năm 1848, tại số 52 đường Notre-Dame de Lorette, Paris. Cha ông, Clovis Gauguin, một ký giả người Pháp không mấy nổi tiếng, khuynh hướng tự do, viết cho tờ Le National, tạp chí xuất bản định kỳ ủng hộ chế độ Cộng hòa Pháp. Mẹ ông, Aline Marie Chazal, con gái của nhà in thạch bản hạng nhất André Chazal và Flora Tristan, một phụ nữ gốc Tây Ban Nha, nổi tiếng trong chính giới Pháp thời ấy, người trải qua cả đời trong các cuộc du hành khắp nước Pháp để truyền bá luận thuyết chủ nghĩa xã hội của mình.

            Flora Tristan là con gái không chính thức của Don Mariano de Tristan y Moscoso, thuộc gia đình quí phái Aragonese đã di cư đến Péru và trở nên một trong những họ tộc giàu có thế lực nhất Péru.

            Thuở nhỏ, bà mẹ Gauguin (sinh năm 1825) trải qua những ngày sống buồn bã. Cha và mẹ bà không thuận thảo, sống xa nhau, còn chính bà thì được gửi vào trường nội trú. Một bữa, André Chazal đến trường bắt cóc con gái, bị Flora Tristan tố cáo, tống giam vào tù. Năm 1838, chẳng bao lâu sau khi được phóng thích, André Chazal tìm đến bắn trọng thương Flora Tristan và lại bị kết án hai mươi năm khổ sai.

            Tháng 10/1849, Louis Napoléon Bonaparte được bầu làm Tổng Tài nước Pháp. Clovis Gauguin, ký giả tờ Le National đứng về phía chống đối chế độ, có lẽ dự đoán được “coup d’état” (cuộc đảo chính) của Louis Napoléon sắp xảy ra (vào năm 1852), nên quyết định đưa vợ và hai con (Marie và Paul) đáp chuyến tàu Albert đi Péru lánh nạn. Bất hạnh một nỗi là ngay trong chuyến đi, Clovis qua đời ngày 30/10/1849 vì chứng nghẹt tim. Ông được chôn tại cảng Famine ở eo biển Magellan. Bà vợ và hai con tiếp tục đi đến Péru, cư ngụ tại vùng Lima. (Cả Gauguin, cha và bà ngoại ông đều chết cùng một chứng bệnh như nhau.)

            Người cậu họ giàu có, Don Pio (mà về sau Gauguin luôn gọi là “ông cậu đáng kính”) nồng nhiệt đón tiếp chị và hai đứa cháu mồ côi cha. Họ lưu lại đây bốn năm, giữa những người quí phái sống cuộc đời xa hoa nhất trong xã hội thượng lưu Lima, thành phố với khí hậu nóng bức có những chủng tộc cổ kính và các tập tục kỳ lạ. Gauguin trải qua thời thơ ấu cực kỳ sung sướng trong ngôi nhà sang trọng của gia đình Tristan y Moscoso. Các người hầu Trung Hoa và Phi Châu đứng chờ hai bên khi cậu ngồi vào bàn ăn; một cô gái da nâu đi kèm Gauguin mỗi lúc đến nhà thờ, trên tay cầm tấm thảm nhỏ cho cậu quỳ gối cầu nguyện; trên mái nhà có gắn hình nộm một người điên đang giận dữ theo tập tục Tây Ban Nha cổ, mục đích giải trí cho cậu nhỏ.

 

 

            [Bầu không khí lười biếng và nóng như thiêu đốt đó ngay từ thơ ấu đã thấm vào máu Gauguin, tạo cho ông một niềm ưa thích đặc biệt cho các sắc dân da nâu và các xứ sở bán khai. Về sau này, ông không ngừng nhớ lại giòng giõi cao quý của mình để từ đó có được thái độ cư xử tự nhiên của một người quý tộc Tây Ban Nha, điều mà trong suốt cả đời vẫn là nguyên nhân khiến ông trở thành cao ngạo đáng ghét tại bất cứ nơi nào ông đi qua. Cũng vậy, họa sĩ luôn luôn nhìn lại 5 năm tuổi nhỏ này –1850-1855—như quãng đời hạnh phúc nhất của ông.]

 

 

            Tháng 4/1855, khi Gauguin lên 7, nhân cái chết của người cha chồng –lúc ấy đang lưu trú ở Orléans(2), có để lại theo di chúc cho hai đứa cháu nội một tài sản to lớn—bà mẹ Gauguin quyết định đưa hai con trở về Pháp.

            Trong tỉnh Orléans, Gauguin được gửi vào trường Jesuit bắt đầu việc học như các đứa trẻ khác. Tại đây, được ghi nhận là đứa nhỏ kín đáo, thầm lặng, dễ cáu kỉnh, hay gầm gừ giống như một người lai da đen; lại nói toàn tiếng Tây Ban Nha, tỏ ra chống đối kỷ luật và chỉ thực hiện bất cứ cái gì mình muốn, Gauguin dễ dàng trở nên là đối tượng ghét bỏ của tất cả mọi người. Ông có thể học bất kỳ môn nào nếu như ông thích, nhưng lại luôn biểu thị cho thấy không có khuynh hướng để học. “Tại trường Jesuit”, Gauguin viết, “tôi thu nhận được điều rằng không bao giờ nên để bị khinh miệt trong sự tranh đấu với đời” (...) “Tôi tin là đã học được, trong thời thơ ấu và ngay chính từ ngôi trường ấy, lòng căm ghét những gì gọi là đạo đức giả và trò dối trá hai mặt; cũng như sự ngờ vực đối với bất kỳ cái gì đi ngược lại bản năng, tâm hồn và lý lẽ của tôi.”

            Những lời này đã soi rọi cho thấy rất nhiều cơ cấu cá chất Gauguin, đồng thời hoàn thành bức chân dung người nghệ sĩ nồng nhiệt chối từ thế giới văn minh Tây Phương để mong tìm về một thời đại sơ cổ. Sự độc lập ngạo mạn sau này của ông cũng bắt nguồn từ phản ứng chống đối những gì gọi là “kiểu cách giả tạo” mà ông sớm nhận thức và chán ghét trong tuổi ấu thơ.

*

* *

            Năm 1860, sau khi bán đi tất cả những tài sản của mình, bà Aline Gauguin rời bỏ Orléans, đưa hai con lên Paris sống bằng nghề may vá quần áo phụ nữ. Ký ức của họa sĩ về thời kỳ này không nhiều, nhưng đầy ý nghĩa. Chẳng hạn như một lần có người đàn bà già nua nhỏ bé chỉ vào Gauguin mà đoan xác rằng về sau Gauguin sẽ trở nên một nhà điêu khắc vĩ đại. Một lần khác, ông tự ý bỏ đi khỏi nhà, dù chẳng xa mấy. “Tôi luôn luôn cứ như bị thúc giục phải bỏ nhà đi như thế. Và luôn giữ trong óc cái ý niệm cột chiếc khăn tay đầy cát ở đầu một cây gậy, đeo nó lên vai và lẻn đi vào sâu trong cánh rừng Bondi.”

            Năm 1862, Gauguin được gửi vào trường nội trú nam sinh ở Paris, dưới quyền hiệu trưởng của Monsieur Loriol tại số 49, Rue d’Enfer. Nơi đây, ông học những môn cần thiết và bắt đầu mơ mình trở thành một sĩ quan hải quân.

*

* *

            Dù rằng lưu lại Péru chỉ bốn năm nhưng vùng đất lạ lùng xa xăm ấy đã gây nên trong tâm hồn chàng tuổi trẻ Gauguin một ấn tượng đậm đà, không ngừng làm khuấy động giòng máu giang hồ của cậu.

            Cuộc “thoát ly” đầu tiên bắt đầu vào ngày 7/12/1865 khi Gauguin 17 tuổi, đăng ký xin làm thủy thủ tập việc trên một tàu buôn ba buồm mang tên Luzitano, nặng 654 tấn, có những chuyến du hành giữa Le Havre và Rio de Janeiro, vùng Brazil, Nam Mỹ. Cuộc sống trôi nổi đã biến cậu bé mảnh khảnh trở nên một thanh niên dạn dầy, cường tráng, nhất là thỏa mãn được cho cậu giấc mơ vẫn nằm im trong óc từ khi thơ ấu. Một đêm, ngồi trên boong thuyền, Gauguin nghe một bạn thủy thủ đàn anh kể về cuộc sống trong những vùng bờ biển Nam Mỹ, “ở đó, đàn bà mềm mỏng đáng yêu, trái chín rớt lộp độp từ trên cây xuống; ánh mặt trời tỏa rạng khắp nơi; lại còn ban đêm thì rất tuyệt vời huyền ảo”. Gauguin lắng nghe như uống vào hồn những lời kể của bạn, để rồi từ khi ấy, một dấu ấn mạnh mẽ về những chân trời xa xôi bí mật không ngừng khuấy động ý nghĩ  ông.

            Chuyến đi đầu tiên sóng êm biển lặng. Trong nhật ký, Gauguin kể lại, khi ra khơi, ông mang theo lá thư giới thiệu tới một phụ nữ tại Rio de Janeiro. Người đàn bà này, Madame Aimée, trước sự kinh ngạc của Gauguin, là đệ nhất ca sĩ của sân khấu đại nhạc kịch Bordeaux, khi ấy đang trình diễn một vở đại nhạc kịch của Offenbach tại Rio de Janeiro, Brazil.

            Lớn hơn Gauguin 13 tuổi, bà tiếp nhận Gauguin như một người tình, ưu đãi ông hơn tất cả các người tình địa phương khác. “Nàng đánh bại đạo đức trong tôi bởi vì ngay sau đó, tôi trở nên hoàn toàn là một kẻ chơi bời phóng đãng.”

            Sự kiện nói trên khích lệ Gauguin đi xa hơn trong những chinh phục dục vọng. Trên chuyến trở về, bất chấp kỷ luật của tàu, ông nhanh chóng quyến rũ một phụ nữ Prussia và làm tình với bà ngay trong kho chứa hàng. Những điều này, Gauguin đoan xác, ông hành động với không chút nào cố gắng.

 

 

            [Sự liên hệ của Gauguin vói phụ nữ đặc biệt không đến từ xúc cảm tế nhị; mà chỉ là những cơ hội tình cờ xảy ra, Gauguin đón nhận, không màng tới bất cứ dư luận nào và sau đó lập tức lãng quên ngay].

 

 
            Từ tháng 10/1866 (cho đến tháng 12/1867), Gauguin đổi sang làm việc trên tàu Chili, ba buồm, nặng 1.277 tấn, chạy đường Le Havre và Valparaiso. Trong lúc bà mẹ Gauguin vì sức khoẻ yếu kém phải dời đến sống tại vùng quê Saint-Cloud, ngoại ô Paris về hướng tây; thì Gauguin theo chiếc Chili ra khơi ngày 29/10/1866, lưu hành từ hải cảng này sang hải cảng nọ giữa vùng biển Nam Mỹ và Le Havre.

            Ngày 14/12/1867, lần đầu tiên chàng thủy thủ trẻ tuổi mới được lên bờ tại cảng Toulon và chuyến tàu ngưng tại đây, không chạy nữa. Cũng tại Toulon, Gauguin nhận tin bà mẹ –mà ông hết lòng yêu thương—đã qua đời ở Saint-Cloud vào ngày 7/7/1867 trước đó, để lại cho con trai tất cả những họa phẩm trong bộ sưu tập riêng của gia đình bà.

 

 

            [Về sau, năm 1890, Gauguin vẽ bức chân dung từ một ảnh chụp với đầy đủ nét đẹp quí phái đặc biệt của mẹ.]

 

 

            Cho dẫu là một thủy thủ nổi bật với thân hình cường tráng, thích đánh nhau, quả đấm mạnh và đấu gươm giỏi, nhưng công việc trên tàu thương buôn bắt đầu làm Gauguin buồn chán. Vì vậy vào tuổi hai mươi, để thi hành nhiệm vụ quân dịch, ông đăng ký vào Hải quân Pháp.

            Ngày 3/3/1868, tại hải cảng quân sự Cherbourg, thuộc vùng biển Basse-Normandie, Gauguin ra khơi với chức vụ thủy thủ binh nhì giữ việc đốt lò trên chiếc tàu hoàng gia mang tên Jérôme Napoléon gồm một thủy thủ đoàn 150 người, chủ nhân là hai vợ chồng hoàng thân Jérôme Napoléon (cháu ruột Napoléon II) và Clothilde de Savoie (con gái vua nước Ý, Vittorio Emanuelle II).

            Trong 37 tháng 27 ngày, Gauguin theo đoàn tàu đi qua nhiều nơi: Malta, Cyclades, Salonika, Constantinophe, Biển Đen, London, Corsica, Naples, Corfu, Trieste và Venise. Khi chuyến tàu, có sự hiện diện của hoàng thân Jérôme, đang còn trên biển, thì cuộc chiến Franco – Prussian (1870) bắt đầu. Đoàn quân Prussian tràn ngập nước Pháp, đạp tan đế chế Napoléon ra từng mảnh.

            Yêu thích quyền hành và bộ đồng phục, Gauguin có tham vọng trở nên là một sĩ quan; nhưng rồi ông sớm nhận ra rằng một kẻ dốt đặc cũng có thể hy vọng về một điều gì đó khác hơn việc làm với đám người da nâu. Vì vậy mà cuối nhiệm kỳ quân dịch, ngày 23/4/1871, Gauguin rời khỏi Hải quân, bỏ lại sau lưng tất cả những tháng năm dạn dày trên biển để khởi đầu đời sống với một nghề nghiệp không chút nào đồng dạng với nỗi yêu thích giang hồ cũ.

 

 

            [Về sau, không bao giờ Gauguin gợi nhắc đến những gì đã trải qua, trừ ra một lần ông tuyên bố với người chị, “Đó là thời kỳ cay đắng nhất của đời em!”]

*

* *

            Trở về Paris, hay rằng ngôi nhà của mẹ ở Saint-Cloud đã bị thiêu rụi trong cuộc chiến Franco–Prussian, tinh thần Gauguin suy sụp rõ rệt. Những vật kỷ niệm yêu dấu (vài cái lọ Péru, và trên hết, toàn thể các bức tượng đặc bằng bạc) còn biết tìm nơi đâu?

 

 

            [Cho đến lúc này, Gauguin chưa từng bao giờ vẽ tranh hay tỏ ra ưa thích hội họa.]

 

 

            Khi bà Aline Gauguin còn sống, một tình bạn thân ái được thắt chặt giữa bà và gia đình Gustave Arosa, người láng giềng giàu có, hành nghề buôn bán cỗ phiếu ở Paris. Vì vậy mà sau khi bà chết, ông Arosa đã nhận làm người giám hộ cho hai chị em Gauguin theo ước nguyện để lại của bà bạn.

            Ảnh hưởng của ông Arosa trên cuộc đời Paul Gauguin phải kể là rất lớn. Ông giới thiệu Gauguin hợp tác với Bertin, cộng sự viên của ông, trong công việc buôn bán trái phiếu. Ông còn là người rất say mê hội họa. Số lượng họa phẩm phong phú trong bộ sưu tập quí giá của ông gồm những bức của Delacroix, Daumier, Courbet, Pissarro, Jongkind, Corot và những nghệ sĩ trường phái Barbizon, đã mở ra trước mắt Gauguin một thế giới đầy màu sắc.

            Sau khi tìm được một chỗ trọ thích hợp với chị Marie, gần ngôi nhà gia đình Arosa và công ty trái phiếu Bertin (tọa lạc ngay góc Boulevard des Italiens và Rue Laffite, con đường có nhiều cửa hàng bán tranh và tượng điêu khắc), Gauguin dần dần đi vào thương mại và tỏ ra là một người buôn cỗ phiếu có tài. Với bản chất tự tin mãnh liệt và một trí thông minh sâu sắc, lại thêm biết cách đầu tư chính xác, Gauguin kiếm được rất nhiều tiền so với một thanh niên cỡ tuổi ông (3). Ông đội mũ cao, ăn diện đúng mốt, mỗi sáng đi làm trên chiếc xe hai ngựa, thường xuyên lui tới những nhà hàng sang trọng nhất ở Paris.

            Dù vậy, đêm đêm, Gauguin vẫn tự giam mình trong căn phòng riêng ở số 15 rue Bruyère để đọc Baudelaire, Balzac, Barbey d’Aurevilly và Edgar Poe.

*

* *

            Gần cuối năm 1873, dưới mái nhà ông Arosa (ở số 5, Place Bréda, Paris), Gauguin quen biết với Mette Sophie Gad, con gái một gia đình Đan Mạch giàu có. Sau thời gian ngắn yêu đương lãng mạn, cả hai thành hôn nhau ngày 22/11/1873 rồi dọn về sống tại căn nhà số 28 Place St. Georges, Paris. Khi ấy Gauguin được 25 tuổi.

            Ngày 31/8/1874, đứa con trai đầu tiên chào đời, đặt tên Émile Gauguin.

            Mette là người đàn bà tóc vàng, trầm tĩnh, ăn mặc đúng thời trang và chỉ thích giao thiệp với những người có tiếng tăm địa vị. Những năm đầu tiên, cả hai rất hạnh phúc. Họ tượng trưng cho một mẫu gia đình thành công cả vật chất lẫn tinh thần thuộc giai cấp trung lưu ở Paris. Trên nhiều mặt, Gauguin được kể là người đàn ông đáng mơ ước: một bậc trưởng giả có đầy đủ vợ con và người hầu kẻ hạ; một thương buôn thành công, ngày càng giàu thêm với số lợi tức thu vào, đảm bảo được cho sự an nhàn của gia đình.

            Nhưng rồi cuộc hôn nhân sớm rơi vào thất bại khi Gauguin nhận ra trong cá chất vợ có những điều biểu tượng cho tất cả những gì ông thù ghét: chỉnh tề, đúng đắn, khinh khỉnh và kiểu cách. Có lẽ tốt hơn nếu như Gauguin không lập gia đình, bởi vì ông tự nhận rằng mình không có tính trung thành với phụ nữ; và cũng nhiều lần bày tỏ “chỉ quan tâm đến những người đàn bà mập mạp, đồi bại.”

            Lại nữa, từ bản chất, Gauguin vốn không bao giờ biết hài lòng với hiện tại. Dù rằng kiêu hãnh về sự khôn ngoan của mình trên công việc buôn bán cỗ phiếu, nhưng chính ngay những đổi chác bằng mưu tính đã khiến ông dễ dàng rơi vào tâm trạng khinh thường, buồn nản. Đầu óc ông lúc nào như cũng sẵn sàng chuyển đổi những ước muốn và tư tưởng vào trong hành động. Ông học cách chơi đàn phong cầm, đánh bi da; và dưới sự chỉ dẫn của một vị thầy chuyên môn, ông trở nên võ sĩ thành thục và cũng là tay kiếm giỏi.

            Thế rồi, do từ sự khuyến khích của người giám hộ và con gái ông, Marguerite, một họa sĩ, Gauguin bắt đầu cầm lên cây cọ. Chính cô Marguerite đã hướng dẫn cho Gauguin hiểu biết về kỹ thuật sơn dầu. Và các ngày chủ nhật, cô cùng Gauguin đi đến các vùng ngoại ô Paris để vẽ tranh.

*

* *

            Thoạt tiên, vợ Gauguin cũng vui lòng theo sự việc người chồng tốt đã tìm ra được một sở thích ưng ý. Không gì tai hại nếu như người ta muốn trở nên “họa sĩ ngày chủ nhật”. Mette chưa nhận thức được chồng mình thuộc mẫu người “hoặc là có tất cả, hoặc không có gì cả.”

            Khúc quanh thay đổi trong nghệ thuật hội họa của Gauguin khởi đi từ cuộc gặp gỡ với Camille Pissarro, xảy ra vào năm 1875. Cả hai trở nên bạn tốt của nhau. Pissarro cho Gauguin rất nhiều lời khuyên hữu ích, ngay cả vẽ song song với Gauguin trên cùng một chủ đề, như chính Pissarro và Cézanne đã làm vài năm trước. Pissarro cũng thường đưa Gauguin đến quán Café de la Nouvelle Athènes, nơi các họa sĩ phái Ấn Tượng (Impressionnisme), các nhà văn và nghệ sĩ thường tụ họp. Ở đó, Gauguin được giới thiệu với Degas và Guillaumin, người sau này trở nên bạn thân của ông.

            Noi gương gia đình Gustave Arosa, cũng là nhờ vào sự  khuyến khích của Pissarro, Gauguin bắt đầu mua tác phẩm các họa sĩ khác như một hình thức tích trữ tiền bạc phòng khi túng thiếu; tự mình gom góp, sưu tập một bộ tranh riêng gồm hơn 40 bức của Manet, Boudin, Jongkind, Daumier, Degas, Monet, Renoir, Guillaumin và Cézanne. Năm 1879, trong một cuộc bán đấu giá, Gaugin giành mua được ba bức của Camille Pissarro.

*

* *

            Tại ngân hàng Bertin, Gauguin nhận biết có một nhân viên khác tên Emile Schuffenecker, cũng rất ưa thích vẽ tranh. Thế là cả hai sớm kết hợp sở thích riêng, nhiều buổi tối cùng nhau đến Atelier Colarossi (một trong những xưởng vẽ tự do, nơi nghệ sĩ có thể làm việc mà không bị đặt dưới kỷ luật của Académie des Beaux Arts) vẽ từ người mẫu và nhận một sự học hỏi nào đó. Vào các ngày chủ nhật và ngày lễ, họ tới các vùng quanh Paris, giá vẽ trên tay.

            Khi có chút ít tự tin về khả năng hội họa của mình, Gauguin bèn đặt trọn từng giây phút rảnh rỗi trên đam mê mới này. Ông đi vào nghệ thuật khá trễ. Những bức họa đầu tiên có chữ ký được ghi năm 1875, trình bày một kiểu mẫu ảnh hưởng bởi phái Ấn Tượng, thực hiện với vài kỹ xảo, nhưng màu sắc nhấp nhô tương tự Pissarro và không có nhiều tính độc đáo cá nhân. Gauguin sớm khám phá ra, dù với sự lanh lợi của mình, cao điểm nghệ thuật hội họa vẫn là một cái gì ông đạt được chậm chạp và phức tạp. Tuy vậy, những bực tức buồn phiền trong công việc buôn bán vẫn là động cơ thúc đẩy ông tìm kiếm –bằng một nhiệt tình không giảm—sự đắp bù niềm vui từ nghệ thuật. Ít hiểu biết về lịch sử hội họa, Gauguin kết giao với những họa sĩ phái Ấn Tượng vì các lý do:

            1/ Hâm mộ màu sắc và chỗ đứng của họ, điều phản nghịch được tính lệ thuộc truyền thống của những nghệ sĩ đã sống và chết trong các bảo tàng viện.

            2/ Bị ảnh hưởng tinh thần cùng lối vẽ của bạn và cũng là người cố vấn, Camille Pissarro.

            Gauguin vẽ và vẽ không ngừng với một sức cố gắng đáng ca ngợi. Người đàn ông mà thiên hạ nhìn như “họa sĩ ngày chủ nhật” nay đã hoàn toàn trở nên một nghệ sĩ thành thục.

 

            Mùa xuân 1877, Gauguin dời gia đình đến căn nhà rộng tại số 79 Rue Fourneaux. Tại đây, ông khởi sự bắt tay với nghệ thuật tạo mô hình và tạc tượng dưới sự chỉ dẫn của nhà điêu khắc Bouillot.

            Cùng năm 1877, ngày 24/12, Aline, đứa con thứ nhì –một bé gái-- của Gauguin, chào đời.

            Hàng đêm dài, Gauguin rời khỏi nhà để gia nhập vào nhóm Nouvelle Athènes. Ông ít tiếp xúc với Monet và Renoir, hai con người cá chất đơn giản, chưa từng đi xa khỏi Paris và không quen với những câu chuyện lẳng lơ tình ái; nhưng lại vui thích với Manet, Degas và Pissarro, những người ít nhiều có một số điểm trùng hợp với ông.

            Phần Manet, Degas và Pissarro cũng bị tò mò khích động bởi “anh chàng cao lớn có đôi mắt nặng nề với cái mũi diều hâu; kẻ đã vượt đại dương đi đến khắp các vùng hải cảng và bây giờ bận rộn với trò chơi buôn cỗ phiếu; rồi lại sưu tập những bức tranh phái Ấn Tượng và lúc này đang cố gắng để trở nên một họa sĩ”.

            Nhưng dẫu có được tiếp nhận như một người bạn, Gauguin vẫn không được nhóm Nouvelle Athènes mời triển lãm chung trong cuộc triển lãm lần thứ ba và thứ tư của phái Ấn Tượng những năm 1877-1879.

            Thời gian này, tình bạn giữa Gauguin và Pissarro đã rất thân thiết. Họ cùng nhau đến vẽ ở Pontoise vào những ngày nghỉ lễ và trải qua nhiều giờ hơn trong các hội nhóm họa sĩ. Gauguin đã nói về Pissarro như sau: “Bạn bảo Pissarro nhìn ngắm tất cả mọi người ư? Tại sao không? Tất cả mọi người cũng xem xét anh ấy, nhưng họ từ chối anh ấy. Còn tôi, Pissarro là một trong những vị thầy của tôi và anh không bao giờ bị tôi từ chối.”

 

            Ngày 8/5/1879, đứa con thứ ba của Gauguin, một bé trai tên Clovis, chào đời. 

            Tháng 4/1880, gia đình Gauguin dọn đến ngôi nhà có luôn xưởng vẽ bên trong, tại số 8 đường Carcel, Paris. Từ bây giờ vừa đủ tự tin, Gauguin bắt đầu thay đổi lối vẽ, bắt vợ, người hầu gái và các đứa con ngồi làm mẫu cho ông. Tuy nhiên bằng nhiều lý do, hay cũng vì chưa cảm nghe chắc chắn về tài năng riêng, ông vẫn không tự xem mình là một họa sĩ chuyên nghiệp.

            Khi Cézanne, Renoir, Monet và Sisley khước từ tham dự cuộc triển lãm lần thứ 5 của phái Ấn Tượng (mở ra từ ngày 1 đến 30/4/1880), ban tổ chức bèn mời Gauguin và Raffaelli góp mặt để lấp đầy các khoảng trống. Bức phong cảnh “Giòng sông Seine nơi khúc Cầu Iéna” của Gauguin, vẽ theo lối Ấn Tượng, dẫu quyến rũ, cũng không gây được chút chú ý nào với giới thưởng ngoạn. Nhà phê bình hội họa nổi tiếng, J. K. Huysmans, đã nhận định về tranh Gauguin như “... một sự pha loãng mơ hồ từ những tác phẩm của Pissarro.”

            Sự thành công thật sự chỉ đến khi Gauguin triển lãm bức “Étude de Nu: Femme raccomodant sa Chemise” (1880, 114 x 79.5 cm), vẽ người hầu gái tên Justine—tại cuộc triển lãm lần thứ 6 của phái Ấn Tượng, mở ra từ ngày 2/4 đến 1/5/1881. Bức họa được sự ngợi khen nồng nhiệt của Huysmans: “Tôi không ngần ngại khi phát biểu rằng giữa những họa sĩ đương thời vẽ khỏa thân, chưa ai từng đưa ra quá dữ dội một sự diễn tả về thực tế như Gauguin đã đạt.”“Tôi cho rằng kể từ bức khỏa thân của Rembrandt, phải nhận rằng Étude de Nu của Gauguin là bức đẹp nhất.”

            Những lời ngợi khen khiến Gauguin hứng thú không ít. Nhưng ông cũng là người quá thông minh để không bị mê muội bởi các xúc cảm nhất thời. Ông biết rằng, cho đến lúc này, hội họa của ông vẫn chỉ là những “bản sao lại của Pissarro”; nhưng ông cũng biết, bên trong chính ông còn có một con người họa sĩ thật sự đang hiện hữu. Phái Ấn Tượng không khiến ông thỏa mãn. Ông muốn tìm cho ra cái gì đó ngoạn mục và có hiệu quả trên một phạm vi rộng rãi. Trong đầu ông cưu mang những mơ ước lớn lao về nghệ thuật. Hội họa quyến rũ ông ngày càng sâu trong cái bể đam mê không cạn. Ông đắm mình vào đó như một kẻ trốn chạy cuộc đời.

*

* *

            Đầu năm 1881, một lần tại nhà Pissarro ở Osny (thuộc vùng Val d’Oise) Gauguin gặp Cézanne. Cuộc gặp gỡ không gây được cảm nghĩ tốt cho cả hai nghệ sĩ. Gauguin cảm nghe lúng túng bởi sự lầm lì không cởi mở của Cézanne. Về phần con người “trưởng giả” tỉnh Aix-en-Provence (miền Nam nước Pháp) thì không làm sao hiểu được một bản chất giang hồ như của Gauguin.

 

 

            [Nhiều năm trôi đi, nhắc lại cuộc gặp gỡ này, Cézanne đã nói với giọng điệu chua chát: “Gauguin mang hơi hướm các chiếc tàu trong mọi câu chuyện của anh ta.” Dù vậy, Gauguin bị say đắm rất nhiều bởi tranh Cézanne và điều này vẫn lưu lại nơi ông, trong khi phái Ấn Tượng không còn gì ngoài một kỷ niệm. Qua lá thư ngày 14/1/1885 gửi Schuffenecker, Gauguin bày tỏ sự thấu hiểu của ông về Cézanne, con người “yêu sự bí mật và an bình bất động qua nét vẽ một kẻ nằm mơ mộng trên bờ đất. Màu sắc ông ta mang nhiều đặc chất Đông phương. Là người miền Nam, ông ta trải qua trọn ngày nơi những dốc núi để đọc Virgil và nhìn ngắm thiên nhiên. Nét vẽ mặt trời của ông cao ngất với màu xanh đậm pha lẫn màu đỏ rực rỡ làm nên một cộng hưởng đặc biệt...” Cũng trong lá thư, Gauguin tiếp tục nhận định với bạn về “tranh Cézanne rất độc đáo”“bậc thầy tỉnh Aix-en-Provence bí mật như các bức vẽ của ông”. Nỗi ngưỡng mộ này được chứng minh qua nhiều bức tĩnh vật của Gauguin, ngay cả những bức cuối đời, ký ức về Cézanne rõ ràng vẫn còn sắc bén đối với họa sĩ.]

*

* *

            Trong khi ấy, Gauguin vẫn tiếp trục với các hoạt động về cỗ phiếu. Ông làm việc không chỉ vì nhu cầu sống, mà còn để có tiền mua thêm những họa phẩm đáng giá gom vào trong bộ sưu tập riêng (khi ấy gồm những bức “Vue en Hollande” “Femme assise dans un Jardin” của Manet; “La maison de Zola à Medan”, “Compotier”“Verre et Pommes” của Cézanne; nhiều bức của Pissarro, Renoir, Monet, Guillaumin và Sisley; các bức phác họa của Daumier và một bức của John Lewis Brown). Khắp nơi trong căn nhà sang trọng đầy đủ tiện nghi đều treo đầy tranh.

            Cũng căn nhà ấy, nay Gauguin lại muốn rời xa để phóng mình vào cuộc sống nghệ thuật. Cái ước muốn ghê gớm của ông lúc này là được tháo bỏ bộ mã “họa sĩ tài tử” để vẽ nên những bức họa tuyệt mỹ, đồng thời được chấp nhận như một nghệ sĩ chuyên nghiệp giữa những nghệ sĩ mà ông hằng ngưỡng mộ. Emile Schuffenecker, người bạn hành nghề buôn cỗ phiếu (không hề được mời tham dự các cuộc triển lãm của phái Ấn Tượng, hoặc là được nhà phê bình Huysmans lưu tâm nhắc nhở) đã bỏ rơi công việc tại ngân hàng Bertin để vẽ tranh hàng ngày. Bấy giờ, Gauguin cũng quyết định như thế.

 

            Ngày 12/4/1881, Jean, đứa con thứ tư chào đời.

            Lúc này Gauguin trở nên ít khiêm nhường và nhiều tự tin hơn về mình. Ông dành trọn những ngày nghỉ hè để cùng Pissarro đến vẽ tại Pontoise. Công việc buôn bán cỗ phiếu bắt đầu bị đặt xuống hàng thứ yếu.

            Cuối năm 1881, Gauguin nói cho Pissarro hay rằng ông có ý định rời bỏ thương mãi để phóng mình hoàn toàn vào hội họa.

            Tháng 1/1883, Gauguin quyết định “Dẹp quách đi tất cả mọi cái gì liên quan đến cỗ phiếu!” Trong nhật ký, ông viết: “Tôi là một nghệ sĩ. Từ đây tôi sẽ vẽ hằng ngày.” Và Gauguin làm đơn xin từ bỏ nhiệm sở.

            Tuy nhiên phải đến gần cuối năm 1883, sự ngạc nhiên hoàn toàn mới đến với Mette khi bỗng dưng nghe chồng tuyên bố rằng ông quyết định bỏ rơi hết mọi sự buôn bán và dành trọn thì giờ cho việc vẽ tranh.

            Ngày 6/12/1883, Pola, đứa con trai út chào đời.

            Lúc này Gauguin đã 35 tuổi. Ông tin tưởng có thể thực hiện đam mê mà vẫn cưu mang nổi gia đình. Nhưng Mette là người đàn bà thực tế, đầy nghi ngờ. Bà biết rằng số tiền để dành rồi cũng tiêu tan hết nếu gia đình chỉ sống nhờ vào đó mà không tiếp tục kinh doanh gì thêm nữa. Ngoài ra, bà cũng nhận thức rõ, số tranh của chồng không tìm được môi trường tiêu thụ; chưa kể sự việc Gauguin “ít khi có mặt tại nhà” để bỏ tất cả sức lực “vào sở thích viễn vông riêng.”

            Từ đây, Gauguin không chỉ “vẽ hằng ngày” thôi, lại còn khởi sự dấn bước cô độc trên con đường định mệnh dẫn dắt ông xa khỏi nếp sống văn minh mà ông không thể chịu đựng nổi. Chứng bệnh nghệ thuật đã bắt chộp ông và hội họa là điều duy nhất khiến ông trung kiên đeo đuổi.

*

* *

            Đầu tháng 1/1884, Gauguin bán lỗ vốn nhiều bức trong bộ sưu tập tranh, gom góp những vật sở hữu còn lại và nag2y 4/1/1884, cùng gia đình khởi hành đi Rouen, một vùng được thành lập nơi một khúc quanh co của dòng sông Seine, cách Paris 123km về hướng tây-bắc. Lý do đi Rouen là bởi vì ông nghe kể rằng đời sống ở đó dễ chịu và ít tốn kém hơn ở Paris, đồng thời cũng hy vọng sẽ tìm ra giữa đám trưởng giả một thị trường tiêu thụ tranh của mình.

            Nhưng ông không gặp may. Gần một năm ở Rouen, Gauguin không kiếm ra được một xu. Gia đình rơi vào tình trạng suy sụp cả tinh thần lẫn vật chất. Các bàn ghế đẹp và những tấm thảm quý đều phải bán đi hết. Lại nữa, Gauguin nhanh chóng nhận thức rằng ông không thể vừa thu vén tằn tiện cuộc sống vừa đóng vai trò họa sĩ ở Rouen được; nên sau 7 tháng không ngớt cãi nhau, Gauguin đành chấp nhận đề nghị của Mette là để bà trở về Đan Mạch trước cùng các con vào tháng 7/1884.

 

            Tháng 12/1884, Gauguin đáp tàu đi Copenhagen, nối kết vợ con ở căn nhà nhỏ số 105 Gl. Kongevej. Ông những tưởng –theo sự đoan xác của Mette—nhờ thế lực gia đình bên vợ, sẽ tìm được công việc nhẹ nhàng để từ đó có thể vẽ tranh mà không bị những xáo trộn làm cho gián đoạn; rốt lại chẳng có gì cả.

            Qua sự giúp đỡ của một người bạn học cũ, Gauguin được thu xếp một chân đại lý trong công ty Dillies & Cie, chuyên sản xuất vải dầu. Tuy nhiên, công việc mại bản cũng khó thành công với ông (như việc ông cố tìm thị trường tiêu thụ tác phẩm của mình). Vì vậy, chẳng bao lâu sau, tháng 5/1885, ông bị sa thải khỏi Dillies & Cie.

            Tháng 4/1885, nhờ bán một bức tranh của Manet được số tiền 1.300 quan mà gia đình Gauguin dời đến căn nhà nhỏ khác ở số 51 Norregade, Copenhagen.

            Đầu tháng 5/1885, cơ sở The Friends of Art ở Copenhagen sắp xếp một cuộc triển lãm tranh Gauguin, nhưng hoàn toàn không được quần chúng và báo chí lưu ý tới.

            Sau khi rời công ty Dilles & Cie, Gauguin không kiếm ra được việc làm nào khác. Bực bội, Mette công khai bày tỏ sự tức giận. Gauguin đành trốn lên rầm thượng mà vẽ tranh. Những lá thư viết gửi Pissarro và Schuffenecker thời gian này cho thấy một tâm trạng bấp bênh không biết phải đi về đâu trong tâm hồn  Gauguin khi ấy. Ông viết cho Pissarro cuối tháng 5/1885: “Sự thật, vợ con, gia đình, tất cả mọi việc đều là thứ yếu so với cuộc triển lãm thất bại của tôi. Nhưng khả năng một người đàn ông không thể cưu mang hoàn hảo hai điều cùng một lúc. Tôi cũng vậy, chỉ có thể ‘làm được một việc’ mà thôi: Đó là vẽ tranh. Ngoài ra, mọi sự khác tôi đều đần độn.”

*

* *

Tác phẩm thời kỳ này của Gauguin không chỉ bị ảnh hưởng bởi Pissarro thôi, mà còn cả Cézanne nữa. Ảnh hưởng Cézanne có thể được nhìn thấy nhiều nhất trong bức sơn dầu  “Chân Dung Tự Họa Trước Giá Vẽ” (65x54.5 cm) vẽ năm 1885(4).

*

* *

            Cay đắng bởi cuộc triển lãm thất bại và cũng bởi tình cảm khó chịu từ họ hàng bên vợ, Gauguin đâm ra oán ghét vùng đất Đan Mạch, nơi “nẩy sinh những kẻ đạo đức giả bất tài vô dụng.” Trên hết là ông oán ghét các người em rể của Mette, những kẻ nhìn ông cách hạ cố, nói về ông không chỉ như một người ích kỷ trơ tráo mà còn là tên lãng tử đầy tội lỗi, chuyên sống bám vào lòng rộng rãi của vợ. Họ không ngại ngần chế giễu các bức họa của ông như biểu tượng cho một “giấc mơ điên cuồng được đánh đổi không xứng đáng bằng gia đình và tiền bạc”.

            Không thể cưỡng lại ý muốn làm tổn thương gia đình và bạn bè nhà vợ, Gauguin bắt đầu phô bày rõ rệt tính khí kỳ cục của mình. Một lần tại một buổi tiệc trà do Mette tổ chức có nhiều khách tham dự, Gauguin bước vào phòng khách, thân hình gần như trần truồng trong cái quần lót mỏng. Trước vẻ sửng sốt của mọi người, họa sĩ bật tiếng cười to, điệu thích thú.

            Mười tám tháng trôi qua, cả Mette lẫn Gauguin đều không thể chịu đựng lâu hơn nữa hoàn cảnh sống như vậy, nên họ đồng ý chia tay nhau. Mette ở lại Copenhagen với các con, kiếm sống bằng cách dạy tiếng Pháp và phiên dịch các tiểu thuyết của Emie Zola sang tiếng Đan Mạch. Gauguin trở về Paris cuối tháng 6/1885, đem theo Clovis, đứa con trai 11 tuổi, tâm trạng ủ ê buồn bã. Ông tự hứa sau khi kiếm đủ tiền, sẽ xum họp cùng vợ con và tin chắc rằng đây chỉ là vấn đề giải quyết trong vài tháng.

            Trước khi ra đi, Gauguin bán gần hết bộ sưu tập tranh phái Ấn Tượng cho một người em rể Mette và chỉ giữ lại hai bức của Cézanne, ba bức của Pissarro và vài bức của các họa sĩ khác. Tất cả số tiền bán tranh, Gauguin giao cả cho Mette.

            Sự hy sinh gia đình và nỗi an bình tâm trí cho nghệ thuật bắt đầu thực sự. Con người thương buôn đầy thành công đang được Thượng Đế đặt để trên một con đường hẹp sẽ dẫn tới sự từ bỏ thế giới văn minh Tây phương, những cay đắng nghèo khổ, một cái chết đến sớm..., sau cùng là nghệ thuật vĩ đại. Gauguin đã viết cho vợ: “Anh là một nghệ sĩ lớn (...) và anh nhận biết điều ấy. Cũng vì thế mà anh phải chịu thật nhiều đau khổ để tiếp tục con đường đã đi, ngoài ra là phải tự xem mình giống như một kẻ cướp.”

            Huyền thoại về Gauguin lan truyền trong giới nghệ sĩ kể từ lúc ông từ Copenhagen trở lại Paris tháng 6/1885, sống cùng đứa con trai trên cái rầm thượng trống trơn, lạnh cóng, ăn mặc rách rưới. Tuy nhiên, đây cũng là một trong vài thời kỳ hiếm hoi mà Gauguin phơi bày được một tình cảm dồi dào nhất trong đời mình. Những lá thư gửi Mette gói trọn ân cần của một con người mang tâm hồn mạnh mẽ và nghị lực dữ dội đến gần như tàn nhẫn: “Em đừng nên lo phiền nhiều về Clovis. Trẻ con vào tuổi nó không biết thế nào là đau khổ. Chúng chỉ cần được săn sóc và thức ăn no. Điều này không khó, anh luôn giữ những miếng bánh ngon nhất cho nó. Với một quả trứng và vài lát bánh mì, nó đủ thấy ngon miệng, đặc biệt hơn là khi có quả táo làm tráng miệng.” (...) “Anh đã nhận đuợc mớ vớ dài em gửi cho Clovis. Bây giờ thì nó đã có cái gì để mang vào chân cho khỏi lạnh. Nó rất ngoan, luôn luôn chơi một mình trong góc, hoàn toàn không làm phiền đến anh.” (...) “Anh đang ngủ trên một tấm ván và bọc mình trong tấm chăn du lịch. Những lo lắng ban ngày được đánh đổi bằng chứng mất ngủ ban đêm.”

 

            Tháng 10/1885, Gauguin thuê một phòng nhỏ tại số 10, Rue Cail ở Paris và cố gắng làm việc như một tay phụ tá với Bouilhet (1830-1910), một kỹ sư về nghệ thuật trang trí (Arts décoratifs).

            Mùa đông 1885 quả thật là khổ sở cho hai cha con. Gauguin chẳng còn một xu trong túi; và Clovis thân hình vốn mảnh khảnh, bấy giờ lại nằm liệt vì bệnh đậu mùa. Một lá thư Gauguin gửi Mette trước lễ Giáng sinh, diễn tả tình cảnh tuyệt vọng khi ấy của hai cha con, có đoạn như sau: “Quẫn trí, anh nghĩ đến điều hỏi xin một việc làm nào đó trong công ty hỏa xa. Cái vẻ trưởng giả bề ngoài của anh làm cho người trưởng phòng cười to, nhưng anh nghiêm trang bảo ông ta rằng anh hiện đang có một đứa con bệnh nặng và rất cần tiền. Vì vậy anh được giao cho việc đi dán quảng cáo, 5 quan một ngày. Những buổi tối trở về, anh săn sóc Clovis kỹ lưỡng lúc ấy vẫn còn nằm sốt trên giường. Điều này kéo dài ba tuần và hôm nay, vị giám đốc công ty hỏa xa đã nhận anh vào chức vụ thanh tra và thư ký văn phòng, lương 200 quan một tháng.”

            Một thư khác viết tháng 2/1886: “Anh còn mỗi hai mươi xu trong túi. Đã ba ngày rồi, anh và Clovis chỉ ăn bánh mì khô dằn bụng.”

            Thời gian cay đắng này, Gauguin đã để lộ những mặt cao quý nhất của cá chất. Ham muốn trên hết là vẽ, vậy mà ông cũng dẹp để dồn tất cả sức lực săn sóc con trai. Rất ít nhà phê bình quan tâm đến khả năng quên mình và sự dịu dàng ông đối cho vợ con xuyên qua các lá thư gửi Mette thời kỳ đau khổ này. Gauguin bị gia đình Mette phỉ báng là đã bỏ rơi vợ con, sự thật, ông cho rằng chính Mette mới là người bỏ rơi ông.

 

 

            [Gần trọn đời cho đến những ngày sống cuối cùng, ông vẫn gửi về Mette những lá thư nồng ấm, van xin sự nối kết. “Hãy thương anh!”, lá thư viết ra từ Tahiti sau 15 năm cách biệt, “khi anh trở về, chúng ta lại sẽ yêu nhau và sống trọn đời với nhau”. Tuy nhiên, Mette không bao giờ chấp nhận điều ấy.]

 

 

            Gauguin là người từng quen với sự gian khổ và có bản năng nhẫn nhục của một kẻ giang hồ. Nhưng lúc bấy giờ, tương phản lại thời tuổi trẻ đầy những cuộc rong chơi vô mục đích, trong lòng ông đeo nặng hoài bão nghệ thuật. Với ông, sống không quan trọng bằng vẽ. Ông cam chịu nghèo khổ không chỉ với sự can đảm, lại còn bởi sự cứng rắn sắt đá; ông đả kích xã hội và đứng ở tư thế đơn độc của một kẻ sẵn sàng chết cho nghệ thuật. Ông không lợi dụng mối thương cảm của cô con gái tên Aline --người duy nhất trong gia đình vẫn trả lời những lá thư ông gửi-- để khoe khoang khoác lác về sự chịu đựng ngoan cường và “sự đau khổ mài bén thiên tài” hiện tại. Mà, khác với những kẻ sống đời du mục, Gauguin làm việc cật lực. Trong hoàn cảnh tay làm hàm nhai bấy giờ, Gauguin đã vẽ nên được 19 bức tranh.

            Thời gian này, tuy vẫn còn giao thiệp thân mật với Pissarro nhưng trong vài tấm canvas, Gauguin đã hé lộ ra một thể cách mới khác hẳn phái Ấn Tượng.

            Khi Clovis hồi phục trở lại, cũng là lúc Gauguin sửa soạn tham dự trong cuộc triển lãm lần thứ 8 (và là cuối cùng) của phái Ấn Tượng.

            Ngày 15/5/1888, Gauguin đem gửi con trai vào trường nội trú Antony ở ngoại ô Paris. Cuộc triển lãm thất bại. Mười chín bức tranh vẽ ra trong các thời kỳ Rouen, Đan Mạch và Dieppe chẳng được nhà phê bình nào lưu tâm đến.

 

 

II

(7/1886 – 10/1886)

            Gauguin cảm nghe đau khổ. Trên con đường phải chọn, ông đành để mất gia đình, người vợ và các đứa con thân yêu. Điều này là một chấp nhận, nhưng không vì thế mà tâm hồn ông không héo hắt. Thêm vào đó, thời gian sống đơn độc với Clovis ở Paris trong một hoàn cảnh cực kỳ khó khăn đã gõ mạnh lên Gauguin những tiếng chuông thống thiết. Ông cần phải quên nếu không muốn quỵ ngã. Vả lại, cuộc sống nghèo nàn hiện tại ở Paris –sau khi trải qua nhiều năm vinh hoa trong cùng nơi chốn—là điều phần nào làm tổn thương kiêu hãnh của Gauguin. 

            Một lần nghe kể rằng tại Pont-Aven ở vùng Britanni, miền tây nước Pháp, có một quán trọ tên Mère Gloanec, giá ăn ở rất rẻ, và cũng từng là nơi lui tới của nhiều nghệ sĩ, Gauguin bèn vay mượn đủ tiền để đi đến đó vào cuối tháng 6/1886 trong hình thức một kẻ thua cuộc đang cần tìm nơi ẩn náu để hồi phục lại tinh thần suy sụp. Từ bây giờ, ông dâng hiến hoàn toàn con người cho nghệ thuật của ông.

            Tại Pont-Aven, Gauguin gặp và kết bạn với họa sĩ Charles Laval cùng vài họa sĩ người Anh và Mỹ. Ông bị lôi cuốn đến Pont-Aven một phần vì đời sống nơi đây rất rẻ, hơn nữa, đó là xứ sở có những tập tục cổ xưa, phong cảnh ảm đạm buồn bã và các cư dân tâm hồn đơn giản mộc mạc, chưa bị khai hóa bởi văn minh thành phố, những điều dễ dàng tạo nên nỗi xúc cảm trong ông.

 

*

* *

            Cuối tháng 11/1886, Gauguin trở về Paris, lưu lại tại số 257 Rue Lecourbe. Thời gian này, ông bắt tay vào nghệ thuật làm đồ gốm với sự cộng tác của Chaplet. Không thể bán lấy được một bức tranh của mình, cuộc sống Gauguin rất đạm bạc, thiếu thốn. Bấy giờ, nhiều lần Gauguin gặp Degas, nhưng lại tránh né Pissarro và nhóm Tân Ấn Tượng.

            Một dịp tại Montmartre, Gauguin cũng gặp hai anh em Van Gogh. Khi ấy, Vincent Van Gogh 33 tuổi, đang ở chung với em trai --Théo—nhà mại bản tranh sáng giá, đang điều hành một chi nhánh của công ty Goupil, đặt trụ sở tại số 19, Boulevard Montmartre. Théo buôn bán các bức tranh phái Ấn Tượng và biến phòng treo tranh của mình thành nơi gặp gỡ cho những nghệ sĩ phái Ấn Tượng và bạn hữu của họ. Cũng tại đây, Van Gogh có cơ hội nhìn ngắm các bức tranh phái Ấn Tượng và nhanh chóng khai triển một đường hướng hội họa mới cho mình, như lời diễn tả của ông trong lá thư quan trọng gửi cho một người bạn ở Anvers, Belgique: “Tại Anvers, tôi chưa từng biết thế nào là một bức tranh phái Ấn Tượng. Bây giờ có dịp nhìn chúng, tôi rất ngưỡng mộ các bức khỏa thân của Degas và các bức phong cảnh của Monet. Không khí nước Pháp làm sáng tỏ đầu óc, không còn ảm đạm ủ ê như xưa.”

            Thời gian này, mỗi buổi sáng, Van Gogh vẽ với người mẫu trong xưởng vẽ Cormon, nơi ông gặp Toulouse-Lautrec và Emile Bernard; hàng buổi chiều, Van Gogh có thói quen đến ngồi trong quán Café Tambourin. Chủ quán là một phụ nữ trước kia từng làm người mẫu cho các họa sĩ, rất quí mến Van Gogh và đặt Van Gogh vẽ một loạt tranh trang hoàng cho quán (5).

            Cuối tháng 11/1886, khi Gauguin từ Pont-Aven trở về Paris, gặp nhau tại phòng tranh Goupil, Van Gogh bị thu hút ngay lập tức bởi cá chất mạnh mẽ và sự hiểu biết phong phú của Gauguin. Phần Gauguin (qua các dòng nhật ký của ông) cũng bị chấn động sâu xa bởi cá nhân Van Gogh, con người được đồn đãi “tính tình chân thật, dễ xúc cảm một cách khác lạ”, hiện “sống như một nhà tu với tâm hồn rất đại lượng”, và cũng theo Cézanne là “Van Gogh vẽ dữ dội như một gã điên!”

*

* *

            Đầu năm 1887, đầu óc Gauguin bỗng dưng bị tràn lấn bởi mối hoài cảm theo những tháng ngày phiêu lưu trên biển, và điều thúc giục để tìm cho ra vùng đất cổ xưa vẫn nung nấu không ngớt trái tim ông. Charles Laval, chàng họa sĩ trẻ vẫn bị quyến rũ bởi cá chất mạnh mẽ của Gauguin bèn đề nghị cùng Gauguin đi đến các vùng nhiệt đới. Gauguin cũng nghe nói ở Panama có những công việc xây cất đang tiến hành, có thể kiếm ra tiền. Vì vậy vào cuối tháng 3/1887, Gauguin viết cho Mette lá thư, kể rằng: “Nỗi ao ước trên hết trong lúc này của anh là được rời khỏi Paris, thành phố chỉ dành riêng sự nghiệt ngã cho những người nghèo khó. Tiếng tăm anh ngày càng lớn mạnh, nhưng đồng thời, có lúc ba hôm liên tiếp anh không có gì để ăn và điều ấy không những tàn phá sức khoẻ mà còn cả nghị lực của anh. Anh định phục hồi lại mọi sự bằng cách bỏ đi Panama mà sống như một thổ dân hoang dã. Anh sẽ đem theo cọ màu và tự nhận chìm mình trong thiên nhiên, xa cách tất cả mọi người.”

            Đầu tháng 4/1887, Mette đến Paris để gặp chồng trước khi ông  khởi hành sang châu Mỹ và cũng là để đem Clovis về với bà.

 

 

III

(6/1887 – 9/19987)

            Bán đi bức tranh cuối cùng của Pissarro trong bộ sưu tập để làm lộ phí, hành trang trên tay gồm những cây cọ, các tấm canvas và hộp sơn màu, chàng Don Quichotte đói khổ của chúng ta đã cùng Charles Laval đáp chuyến tàu Canada, toa hạng ba, đi Panama via Guadeloupe ngày 10/4/1887. Trong lộ trình từ Pháp sang Panama, khi tàu ngừng lại đảo Martinique, Gauguin bị thu hút dữ dội bởi cảnh sắc nơi đây. Vì vậy, hoài bão gần nhất bấy giờ của ông là đi đến Matinique, “vùng đất tuyệt vời, nơi nghệ sĩ có thể làm việc liên tục, đời sống rẻ và dân bản xứ rất thân thiện hòa ái” như trong lá thư ông sẽ trình bày với Mette.

            Sau cuộc hành trình gay go, cả hai lên bờ tại cảng Colon ngày 30/4/1887, xong đáp chuyến xe lửa ba giờ đồng hồ, họ tới thành phố Panama trên bờ biển Thái Bình Dương. Đau khổ và thất vọng đang chờ họ tại đó. Gauguin những tưởng sẽ nhận được sự giúp đỡ ban đầu của người anh rể tên Juan Uribe đang buôn bán ở Panama, nào dè người này từ chối. Giá sinh hoạt rất đắt đỏ. Vả lại, chẳng có việc nào khác hơn đào kênh và làm lao động nặng, nhưng được trả lương rất hậu. Vì vậy, trong khi Laval hành nghề vẽ chân dung tại chỗ thì Gaguin xin vào công việc đào kênh để kiếm tiền sống.

 

 



(1) Từ ngữ gọi chung người dân hải đảo Tahiti, vùng biển Nam Thái Bình Dương.

(2)  Orléans, một thành phố cổ, cách Paris 115km về phía Nam.

(3)  Số tiền Gauguin làm ra thuở ấy tương đương với 40.000 đô la một năm theo thời giá hiện nay, 1994. (TTBG)

(4) Trong khi Mette dùng phòng vẽ của chồng để dạy tiếng Pháp cho những đứa trẻ con nhà giàu ở Đan Mạch thì Gauguin ẩn náu trên rầm thượng được thắp sáng bằng một cửa sổ hình bán nguyệt nhỏ hẹp. Ông lưu lại đó đơn độc trong nhiều tuần lễ của mùa đông tối đen, nhìn vào gương và tự vẽ chân dung. Bức họa này là một bài tập trực tiếp về diện mạo chính ông, diễn tả rõ ràng một khí chất đầy năng lực và nỗi quyết tâm mạnh mẽ để thành công trong chức năng họa sĩ. Về sau, năm 1890, Gauguin còn có bức “Marie Derrien” (65x54.5 cm), sáng tác được nhìn giống như sự quy phục đối với Cézanne. Gauguin cũng cho thấy nỗi quan tâm trước các sáng kiến của những người trong phái Tân Ấn Tượng (Néo-Impressionnisme) (mà các đóng góp của họ sẽ là điểm lôi kéo chính tại cuộc triển lãm cuối cùng của phái Ấn Tượng ở Paris năm 1886, dù rằng Gauguin sớm quay lại chống phái Tân Ấn Tượng và tỏ ra khinh thường các họa sĩ đại diện giống như “những hoạ sĩ hội hè”).

(5) Café Tambourin tọa lạc trên đại lộ Clichy, nơi lui tới của vài người khách có bộ dáng đáng ngờ, trong số gồm Prado, một gã người Péru, hung hăng cồn đồ, chuyên trộm cắp và quyến rũ đàn bà (về sau giết chết một cô gái điếm ngay trước mặt Gauguin đang hiện diện trong quán, cuối tháng 12/1888 khi Gauguin vừa mới từ bỏ căn nhà màu vàng của Van Gogh ở Arles mà trở về Paris.)  

 

Lời Tựa 


Edgar  Allan Poe 
Emily Bronte 
Lermontov 
Paganini 
Paul Gauguin 1*** - 2 - 3 
Pushkin 1 - 2
Mozart  
Modigliani 

Bài tiếp >> 
Trang Chủ