Bài 20


Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

 

 

XX

 

            Paris. Ngày xưa, một lần trên Dalat, dưới ánh sáng lung linh của những ngọn đèn cầy, tôi đã thật bàng hoàng khi nghe một người bạn hát lên một bài ca tiếng Pháp của Georges Moustaki. Bài hát có một câu: "Je ne suis jamais seule avec ma solitude...” (Tôi không bao giờ cô đơn với nỗi cô đơn của tôi.")

            Câu hát như tiếng sét làm bùng nhanh trong tôi một tình yêu bất chợt. Và cái tình ấy, tôi chỉ dành để tặng cho nỗi cô đơn của tôi. Tôi yêu nó như yêu một người bạn thiết. Người bạn không bằng xương bằng thịt để tôi cầm tay nói lên những điều nghĩ suy trong cuộc sống; cũng không có hình có dáng để chia xẻ với tôi tất cả mọi nỗi niềm. Tuy nhiên, sự hiện hữu của bạn tôi vẫn thường xuyên tồn tại, từ hơn mười năm qua, hay cũng là từ thuở nào xa lắc ngày xưa... Gần năm năm bỏ xứ ra đi, vai trò người bạn ngày càng nổi bật nhiều hơn nữa, trong giấc ngủ, trên âm nhạc, trong quán café làm việc và trên cái nhìn hằng ngày theo một xã hội cuồng loạn, đảo điên.

            Không phải lúc nào con người tôi cũng có đủ nghị lực để lướt qua dễ dàng những thúc đẩy, đè nén của đời sống, công việc và cả những tâm tình u uẩn. Cũng có khi tôi ngã gục trong sự chống chỏi một mình. Đêm đêm trở về trên các con đường giá lạnh, tôi cúi đầu đi mải miết như để tìm một cái gì đã mất, đồng thời cũng như chạy trốn một cái gì đó ẩn núp trong sâu kín nội tâm. Tiếng gót giày giữa khuya vang lên như một điệu nhạc chán chường buồn bã. Chiếc bóng đổ dài dưới làn ánh sáng những ngọn đèn đường hiu hắt lạnh tanh.

            "Je ne suis jamais seule avec ma solitude."

            Câu hát ngày nào trên Dalat trở về với thật nhiều vuốt ve êm ái. Nỗi cô đơn thân thiết tôi nhận ra như một hạnh phúc tìm thấy bất ngờ. Phố khuya đột nhiên ấm lại khi tôi có cạnh bên mình một người bạn thiết. Một người bạn chỉ biết cúi đầu lắng nghe những nỗi niềm của tôi mà không hề mang ý nghĩ bỏ tôi!

 

 

            Sàigòn. Cuối tháng 6/1980, tôi bắt đầu hợp tác với một nhà hàng ca nhạc thuộc Công Ty Du Lịch thành phố. Sàigòn đang giữa mùa mưa. Nơi tôi làm việc là một cái quán nằm trên đường Tự Do, trước 1975 có tên là La Pagode, nổi tiếng là nơi lui tới của nhiều nghệ sĩ văn nhân.

            Những buổi chiều đứng đánh đàn trên bục trước một số đông thực khách, nhìn mưa rơi qua khung kính, tôi nghe nồng nàn một thứ tình cảm chợt đến chợt đi dậy lên từng lúc giữa tâm hồn. Trong nỗi hân hoan có pha mùi tan vỡ. Trong niềm ngất ngây hạnh phúc có vương nỗi buồn của sự chia phôi. Tình cảm cho Sàigòn những ngày mưa hôm nay là như vậy: tôi vừa nghe thương yêu tha thiết, lại cũng vừa không chối được cái linh cảm sẽ mất nó một ngày nào…

            Thời gian này, bộ mặt của Sàigòn có phần khác lạ. Những phòng trà ca nhạc sống dậy. Không khí ăn chơi trở lại rộn ràng. Con đường Tự Do và Nguyễn Huệ ngược xuôi xe cộ; mỗi buổi chiều trai gái tụ tập dọc dài theo các rạp hát và quán café. Dẫu vậy, sự nghèo đói vẫn còn hiện diện khắp nơi trong thành phố; trên các con đường dẫy đầy các túp lều vải của những người dân trở về từ vùng kinh tế mới; nơi các góc phố có những người cùi lê lết sống từng đoàn; tại các khu chợ trời với kẻ bán người mua chụp giựt từng món hàng như một đám ruồi bu quanh giọt mật; và trong các khu xóm tối tăm lầy lội mà thoạt bước vào, người ta đã nghe thấy tiếng la gào của đám trẻ con.

            Sàigòn có thay đổi, nhưng sự thay đổi chỉ gom tụ vào một khía cạnh xã hội nhỏ và được tiếp nhận bởi một thiểu số cán bộ hay dân chúng kiếm ra tiền dư dả. Gần nhất, giới nghệ sĩ sân khấu là những con người trực tiếp cuốn mình theo giòng đổi mới ít ỏi kia. Nhà hàng ca nhạc nào cũng có riêng một ê-kíp trình diễn; tất cả đều trực thuộc Sở Văn Hóa Và Thông Tìn thành phố. Những bài bản không chỉ giới hạn trên chiều hướng tuyên truyền cho chủ nghĩa như hồi đầu 75, mà còn lan rộng ra theo những bản tình ca Việt Nam đương thời hay một số ca khúc ngoại quốc thịnh hành trong thập niên 70 trở về trước.

            .. .. ..

            Tháng Sáu, trời Sàigòn hay có những cơn mưa làm ướt thành phố. Những vũng nước bẩn ứ lại hai bên đường. Dưới các mái hiên dọc dài trên đại lộ, các người bán thuốc lá lẻ ngồi nhìn mưa rơi, nét mặt buồn thiu ủ dột. Bên ngoài nhà hàng –nơi tôi làm việc-, từng đám trẻ bụi đời tụm ba tụm bảy. Có đứa dán mắt lên cửa kính, đợi chờ các thựïc khách vừa đứng lên là chạy ùa vào vơ vét các thức ăn dư. Đám trẻ xanh xao thiếu máu vẫn nhe răng cười với tôi mỗi khi được tôi phân chia phần cháo dành riêng cho nhạc sĩ. Đám trẻ gầy còm khiến tôi liên tưởng đến một đám ruồi con!

            Tôi nghĩ đến bài hát của một nhạc sĩ VN hiện đang sinh sống trên đất Mỹ mà bạn bè vẫn chuyền tai nhau đôi lúc:

            “Gửi về cho anh dăm bao thuốc lá

            Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay

            Gửi về cho mẹ dăm chiếc kim may

            Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày

            Gửi về cho chị dăm ba xấp vải

            Chị may áo cưới hay chị may áo tang

            Gửi về cho em kẹo bánh thênh thang

            Em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng

            Gửi về cho cha một manh áo trắng

            Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây…”

            Có cái gì đắng cay tương phản giữa những lời ca trên và bộ mặt thật hiện tại của Sàigòn? Hình ảnh những đứa trẻ bụi đời dán mắt lên cửa kính các nhà hàng trong cái vẻ thèm thuồng cao độ có phải là một mỉa mai chua xót so với sự “làm dáng trong tình cảm” của người nhạc sĩ nơi phương trời xa khi nhớ về quê hương đau khổ?

            Đau khổ, tự nó có một giá trị riêng. Đau khổ cũng là điều không ai muốn nhìn tới. Tuy nhiên, trong nỗi đau khổ đã lên tới cao độ để biến thành câm lặng thì bất cứ những chia xẻ nào cũng đều trở nên vô ích; lại càng vô ích hơn với những chia xẻ giả tạo.

            .. .. ..

            Những buổi chiều tháng Sáu, đứng trên bục biểu diễn nhìn ra con đường Tự Do mưa rơi ướt át, tôi cũng lại hay nghĩ đến một bài hát vẫn tấu với nhau mỗi đêm trong phòng trà:

            Em còn nhớ hay em đã quên

            Quê nhà đó nơi em lớn lên

            Có bóng dừa, có câu hò, có con đò chở mưa nắng đi

            Em ra đi nơi này vẫn thế

            Lá vẫn xanh trên con đường nhỏ

            Thành phố vẫn có những giấc mơ

            Vẫn sống thiết tha, vẫn lấp lánh hoa trên đường đi…”

            Tâm sự của người nhạc sĩ miền quê hương dân gầy ấy cũng chính là tâm sự của lớp trẻ Việt Nam hôm nay, những con người sống trong một bối cảnh xã hội và lịch sử đảo điên nhưng niềm tin và nỗi tự hào dân tộc vẫn không mất trong tim óc họ.

            Tất cả có thể bị chiếm hữu. Tất cả có thể bị bạo lực làm cho rơi ra khỏi tầm tay nắm. Nhưng còn ước mơ thì làm sao có ai tước đoạt được khỏi tâm hồn họ? Trời Sàigòn vẫn xanh màu lá dưới ánh nắng chói chang gay gắt, và trong trái tim những người trẻ Việt Nam, những ước mơ vẫn được đốt lên như một thứ niềm tin.

            []

 

 

XXI

 

            Paris. Tôi gặp một người bạn cũ trong buổi dạ vũ do một hội đoàn Việt NamParis tổ chức. Từ những câu thăm hỏi đầu tiên, tôi đã nhận thấy rằng anh thay đổi nhiều quá. Trông anh thật tự mãn theo một đời sống mà anh may mắn có được chỗ đứng ổn định ngay thời gian đầu đặt chân lên đất Pháp. Vì vậy, ngoại trừ cái nhân dạng Việt Nam, tất cả còn lại, từ cử chỉ, điệu bộ cho đến cách nói năng, hành động, anh đều tỏ ra mình là một người bản xứ chính gốc.

            Trong buổi trò chuyện, có một điều anh cứ lập đi lập mãi mãi với tôi là nên thực tế kiếm tìm một nghề nghiệp nào khác để bảo đảm an toàn cho cuộc sống, hơn là bấu víu và kéo dài cái nghiệp nghệ sĩ qua công việc làm với nhóm Daniel. Trước những điều này, tôi chỉ biết cười! Sự lặng im ngay lúc ấy bỗng mang một giá trị vàng ngọc!

            Trên cuộc đời này, có việc gì đáng gọi là vững bền mãi mãi? Và có ai dám nói rằng mình được may mắn cho đến hơi thở cuối cùng? Cả một quá khứ với tiền tài danh vọng, cửa nhà đất đai và quê hương xứ sở mà hơn một triệu con người phải bỏ mất, nói gì đến sự tự hào theo nỗi yên ổn một lúc nào trong cái đời đất khách nương thân?

            Sự an toàn, theo tôi, không có mặt thường xuyên trên trần thế. Vấn đề chỉ là trong tâm tư con người, nỗi yên bình có tạo được hay không mà thôi. Đi tìm một nơi chốn trú ẩn yên lành thì không đền đài, cung điện kiên cố nào có thể ví cho bằng một tâm hồn an ổn. Mà một tâm hồn an ổn cũng chẳng khác nào ngọn núi cao chót vót, mặc cho thiên tai, mặc cho bão tố, năm tháng vẫn cứ còn tuế nguyệt trơ gan.

 

 

            Sàigòn, tháng 9/1980.

            Từ đầu năm 1978, giống như những người miền Nam có thân nhân ở ngoại quốc, mẹ tôi cũng đã nộp đơn lên Sở Ngoại Vụ để xin xuất cảnh trong diện “đoàn tụ” cho cả gia đình.

            Đây là một hiện tượng xẩy ra trong xã hội miền Nam từ sau 1975 nhân việc chính phủ cho hồi hương những người có quốc tịch Pháp, ngày càng lan rộng thêm trong dân chúng. Nỗi ao ước ra đi khỏi quê hương được biểu lộ công khai nếu người ta có một chút hy vọng gì về điều này. Hằng ngày, trước toà nhà của Phòng Công Tác Nước Ngoài hay Sở Ngoại Vụ đã có không biết bao nhiêu người tụ tập ngay từ sáng sớm. Có người tới đây vì những liên hệ trực tiếp với việc xin xuất cảnh, nhưng cũng có người chỉ vì thói quen nghe ngóng mà đến. Người ta bỏ cả việc làm và đời sống để chỉ hy vọng và chờ đợi một cái gì mơ hồ không rõ nét. Người ta có thể phí hoài tâm trí và thì giờ để chạy đuổi theo một ảo ảnh tự do. Việc xin xuất cảnh ra đi phải qua biết bao thủ tục rắc rối và kéo dài hàng vài ba năm để rồi kết quả cuối cùng lắm khi chỉ là con số không vô ích. Vậy mà niềm hy vọng và nỗi phí hoài vẫn không mất trên những con người có những liên hệ hiện tại hay quá khứ với hai chữ “nước ngoài”.

            Tháng 9/1980, gia đình tôi nhận được giấy báo của Sở Ngoại Vụ mời lên để bổ túc hồ sơ xin xuất cảnh đoàn tụ. Vậy là trong tôi đổ ập cả một nỗi dày vò. Đi hay ở cũng đều là đau khổ. Khía cạnh nào cũng có những nỗi dằn vặt riêng. Giờ đây, một chuyến đi thẳng tắp xa quê hương không phải là điều mà tôi mong đợi như trong suốt bao nhiêu năm vẫn bị hấp dẫn với các chuyến khởi hành không mỏi. Việc mất tích của đứa em gái út, sự quyến luyến với ba mươi năm kỷ niệm trong quê hương đã là những điều lớn lao làm cho sự phấn khởi ra đi trong tôi đột nhiên chùng xuống hẳn. Tôi cũng nghĩ đến một tương lai nơi xứ lạ mà e dè ngần ngại. Ba mươi tuổi, sự bắt đầu từ còn số không nơi một vùng trời Châu Âu vô cùng khác biệt với quê hương không phải là điều dễ làm mà không tạo ra trong tâm tư những nỗi đớn đau.

            Đối với tôi, ra đi không những chỉ là mất tất cả một chuỗi dài quá khứ, mà còn là sự bắt đầu của một chứng ung thư trong tâm não. Theo thời gian, con bệnh phát tác nhanh hay chậm là điều chưa biết được. Nhưng chỉ có nghị lực mới là phương thuốc duy nhất làm dịu đi phần nào cơn đau của chứng ung thư.

            Còn sự ở lại? Thời tuổi trẻ sôi nổi trôi qua đã để lại trong tôi những hậu quả dằn vặt mà bà mẹ già và đứa con trai nhỏ là hai nhân vật làm ray rức tôi nhiều hơn cả. Hạnh phúc tôi đem lại cho họ thật quá ít so với nỗi đau khổ họ đã nhận từ tôi. Giờ đây, trước ngã ba đường đi hay ở, làm sao tôi có thể giết lòng họ nhiều hơn theo những ước muốn riêng tư? Làm sao tôi có đủ can đảm tạo ra sự cách chia mà không bị lương tâm dày xéo? Nguồn lệ trong đôi mắt mẹ tôi hầu như khô cạn, nhưng trên khuôn mặt già nua ấy đã vẽ lên không biết bao nhiêu nét đau khổ tận cùng. Sự ra đi biền biệt của đứa em gái út vẫn còn là vết thương chưa lành mủ, giờ đây có thể nào tôi tạo thêm cho bà một vết thương lòng sâu đậm thứ hai?

            .. .. ..

            Những ngày tháng Chín, trời Sàigòn vẫn còn rào rạt  những cơn mưa. Nhiều đêm sau giờ làm việc, đạp xe về trên các con đường hoang liêu ướt át, tôi nghe lòng rũ buồn theo từng vòng quay của hai chiếc bánh xe. Cái quyết định ra đi trong tôi càng lúc càng thêm rõ nét. Lòng thương mẹ già và  đứa con nhỏ mạnh hơn niềm lưu luyến quê hương. Tôi không thể tự dối điều này. Sự quyết định nào cũng có những nỗi khổ tâm riêng của nó. Nhưng, tôi thà chấp nhận nỗi đau đớn cho mình còn hơn đổ sang cho những người thân yêu gần nhất. Tôi thà im lặng như hoa lá cỏ cây, còn hơn làm khô héo thêm trái tim cằn cỗi của mẹ già.

            Ai đó đã nói: “Ta gặp Định Mệnh trên những con đường ta đi để mà tránh nó.”

            Tránh làm gì? Trốn chạy cũng chẳng ích lợi gì. Định Mệnh, một phần do các yếu tố bên ngoài đưa đẩy, một phần do chính mình tạo ra. Thì thái độ hay nhất chính là “chấp nhận Định Mệnh!”

            [] 

 

 

            Paris. Thơ Nguyễn Bính.

            "Có lần tôi thấy một người đi

            Chẳng biết về đâu, nghĩ ngợi gì?

            Chân bước ngập ngừng theo bóng lẻ

            Một mình làm cả cuộc phân ly."

 

 

            Sàigòn tháng 10/1980.

            Tình bạn trong công việc làm hiện tại của tôi cũng thật là thắm thiết. Một ê-kíp ba người vừa đủ tạo thành ban nhạc nhẹ thích hợp cho một nhà hàng ấm áp, trang nhã. Chúng tôi là bạn của nhau đã nhiều năm. Những người bạn cuối cùng rơi rớt lại kể từ sau vụ đắm thuyền của cả nhóm bạn chung.

            Những buổi tối sau giờ làm việc, như một thói quen, chúng tôi kéo về bên dốc cầu Trương Minh Giảng, ngồi lại với nhau ít lúc. Cái quán lá nghèo nàn nằm cạnh đống rác to bên bờ con “Kinh Nước Đen” đối diện trường Đại Học Vạn Hạnh vẫn là điểm hội tụ của cả nhóm. “Kinh Nước Đen” là tên gọi mà anh bạn chơi piano đặt cho giòng sông Trương Minh Giảng. Tại đây, trong cái mùi thoang thoảng của rác và bùn, những bản nhạc được viết ra, những bài thơ được phơi tỏ, biết bao ước vọng được nói lên và bao nỗi buồn vui của đời nghệ sĩ được kể cho nhau nghe khi trong đầu, hơi men đang dần thấm.

            Tháng Mười, mùa thu trở về làm cho Sàigòn bỗng dưng chợt mát. Đường phố có gió nhẹ lành lạnh. Sinh hoạt về đêm dọc dài từ dốc cầu qua đến khu đại học rồi vòng sang khu chợ Trương Minh Giảng thật rộn ràng sống động. Những chiếc quán lộ thiên không còn nhiều chiếc ghế bỏ trống. Các vị khách ngồi chụm đầu to nhỏ, mỗi chiếc bàn là một thế giới riêng tư. Mùi café, mùi rượu, mùi khô cá nướng và mùi bùn rác từ dưới gầm cầu bốc lên, tạo thành một thứ mùi kỳ quặc. Trời càng về khuya, đường phố thưa thớt xe cộ thì trong không gian, thứ mùi này càng trở nên nồng thắm.

            Một điều ngạc nhiên là trong xã hội hiện tại, gần như cái gì cũng thiếu; vậy mà quán rượu lại không hề thiếu. Gọi rằng “quán” nhưng thật chỉ là một tấm “tăng” được căng ra trên bốn chiếc cọc dùng làm nóc, vài cái bàn gập ghềnh và dăm ba chiếc ghế thấp lè tè đặt rải rác chung quanh một chiếc xe đẩy bằng gỗ bọc thiếc, trên đó sắp vài chai rượu thuốc, rượu đế, một thẩu củ kiệu ngâm dấm, một hủ tôm khô, lọ đậu phọng và vài khoanh giò lụa. Đàng sau chiếc xe là chỗ ngồi của bà chủ quán.

            Những cái quán loại này thường rất đông khách. Con số thất nghiệp càng cao bao nhiêu thì số người tiêu phí thì giờ trong các quán rượu càng nhiều bấy nhiêu. Hiện tượng uống rượu lan tràn trong đủ mọi giới: ông già, bà cả, đàn ông, đàn bà và kể luôn con nít 12, 13 tuổi. Người ta giết thì giờ nhàn rỗi trống không bằng rượu. Người ta giải sầu qua ruợu, quên hết mọi vây khốn hiện tại nhờ rượu. Và người ta đi tìm niềm vui nhỏ nhoi cũng trong hơi cay của những chén rượu.

            .. .. ..

            Những đêm tháng Mười, tôi và hai người bạn thường  ngồi lại với nhau sau giờ làm việc. Chiếc quán lá bên dốc cầu đã gợi lên biết bao cảm hứng cho chúng tôi. Những câu chuyện được nói ra trong tình bạn thâm sâu thân mật. Chuyện việc làm, chuyện thời cuộc và luôn cả những ước vọng trong thầm kín tâm tư.

            Có lúc anh bạn chơi piano lại hát nho nhỏ một ca khúc mà anh vừa sáng tác. Giữa con phố rộn ràng với đủ mọi thứ tiếng động ban đêm, giọng ca Hà Nội của anh đã ngọt ngào vang lên trong một khoảng không gian gần gũi nhỏ nhoi. Điểm lạ là anh bạn tôi từng sống hơn bốn năm trong trại tù Cộng Sản và gặp rất nhiều thương tâm trong một cuộc hôn nhân tan vỡ, vậy mà niềm tin vẫn không mất trong nhiều ca khúc của anh. Anh vẫn cho rằng con người bản tính vốn thuần lương, và rằng cuộc đời vẫn đẹp. Anh cũng thường tỏ bày với tôi như một thứ triết lý sống: “Cái gì cũng đều có hai mặt xấu và tốt. Tại sao mình không chỉ nhìn vào mặt tốt để cho tâm hồn mình đỡ bất an?”

            []

 

 

            Paris. Ở Paris, tôi có một người quen, giao thiệp chung với tất cả gia đình tôi qua lá thư giới thiệu của một người bạn khác ở Sàigòn ngày tôi bỏ quê hương ra đi.

            Anh bạn này du học và ở luôn tại Pháp kể từ 1954, hiện đang làm giám đốc một công ty của người ngoại quốc, lại cũng là hội trưởng hoặc giữ một chân thiết yếu trong các hội đoàn Việt Nam tại Paris. Sự hoạt động của anh trong cộng đồng người Việt không phải là ít và tất cả chỉ đều nhắm vào để làm lợi cho riêng anh trong mục đích chính trị. Hô hào đoàn kết, cổ võ xây dựng cho quê hương đất nước… là những tiêu đề anh thường nói tới. Nhưng cứ mỗi năm, anh lại tiêu một tháng hè cùng vợ con trên các vùng biển miền Nam hay là trong các xứ Tây Âu.

            Một bữa gặp anh, thấy nét mặt anh rầu rĩ, tôi ngạc nhiên thì được nghe anh giải thích rằng con chó nhỏ trong nhà anh đột nhiên biếng ăn, bệnh, rồi mới vừa chết vào tối hôm trước. Anh thêm: “Cả nhà, luôn tôi nữa, đều buồn bã, bởi vì nó là con vật rất được mọi người quý yêu.”

            Thật tình tôi kinh ngạc, không phải vì điều một con người tiếc thương cái chết của một con chó, mà chính vì câu nói ấy phát sinh từ một người “ưa làm chuyện lớn” như anh!

            Tình thân giữa anh và gia đình tôi không nhiều nhưng cũng không quá ít để tôi không thể nào ghìm được nụ cười mà bật lên câu nói: “Việt Nam mất nước (nói theo kiểu chống Cộng), hay Việt Nam chậm tiến nghèo nàn (nói theo kiểu thân Cộng) cũng là phải. Bởi vì đa số người Việt Nam ở bên nhà hay ở đây ai cũng chỉ lo mưu cầu vật chất, tiền bạc, hoặc hơn nữa tập lấy cho bản thân một thói quen trưởng giả thời thượng, hơn là suy nghĩ được một điều gì cao xa hơn cho tinh thần và tâm trí, mấu chốt của sự xây dựng một xã hội tốt đẹp.”

 

 

            Sàigòn, tháng 11/1980.

            Cũng có khi tôi đâm nhớ ôi là nhớ các chuyến khởi hành! Mười năm không phải là ít với một đam mê ăn sâu vào tâm thức. (Mười năm nối kết cuộc đời qua các chuyến đi trên khắp quê hương!) Giờ đây, dừng lại trong chu vi hạn hẹp của một thành phố, dù là thành phố tôi quý thương nhiều nhất thì cái cảm giác bức rức trong lòng vẫn không thoát được.

            Tôi mang ý nghĩ mình giống như con chim bị nhốt trong lồng, một cái lồng bằng tre mỏng manh xấu xí nhưng có khả năng làm khô héo lần mòn đôi cánh đã quen vùng vẫy tự do. Những tòa building ngất ngưỡng che tầm mắt làm cho tôi bực bội nhiều hơn khi hình dung lại những túp lều tranh lẻ loi trên các vùng bờ biển. Các con đường ngợp đầy bụi bặm và xe cộ khiến tôi thèm thuồng khoảng không gian thơm mùi lúa mới có con trâu kéo chiếc cày sau lưng, như hình ảnh đặc thù tiêu biểu của quê hương.

            Bầu trời Sàigòn những ngày cuối thu tháng Mười Một không có cái vẻ nên thơ làm đắm lòng người như của vùng đất Tuy Hòa đã hơn một lần tôi ghé lại. Cơn gió mơn man da thịt mỗi đêm trở về đã gợi lên không ngừng nỗi nhớ thiết tha theo tiếng gió gào trên các ghềnh đá nơi vùng Mũi Né xa xôi.

            .. .. ..

            Một buổi trưa trong tháng Mười Một, tôi và hai người bạn rủ nhau vào Rex xem ciné. Chuyện phim nói về hai chàng nhạc sĩ chơi dương cầm cùng yêu một cô bạn gái, đã là đề tài tranh luận cho cuộc café buổi tối của chúng tôi bên dòng Kinh Nước Đen. Hôn nhân và đam mê là hai điều phải chọn lấy một trong phim của hai nhân vật chính. Cả hai điều đều có giá trị tương xứng. Nhưng với tôi, vai trò chàng nhạc sĩ chọn đam mê được ưa thích nhiều hơn.

            Có lẽ rằng hơi lệch lạc với ý nghĩ trên khi tôi chỉ là một người phụ nữ. (Mà một ngươi phụ nữ thì cũng chẳng khác gì một con chim non cần phải được che chở bởi tổ ấm hôn nhân!) Không phải bây giờ, mà chính từ ngày xưa còn bé, tôi vẫn luôn luôn tin rằng hôn nhân bẻ gẫy biết bao tài năng, làm dừng lại bao ước mơ, hoài bão. Không ghét, không chủ trương từ khước, nhưng tôi cho rằng giá đừng bị vướng vào hai chữ hôn nhân trong đời có lẽ lại hơn!

            Suốt nhiều năm, tôi vẫn nghĩ rằng Tình Yêu giải hóa cho muôn ngàn thống khổ của đời sống. Tuy nhiên điều kết thúc cuối cùng của một tình yêu trong tôi vẫn chỉ nhường bước cho nỗi đam mê phiêu bạt, ra đi.

            Ngày nay, sau hơn năm năm sống trong một cơ cấu thay đổi mới của xã hội, có những đêm đối diện lòng mình, tôi cũng đã nghe bâng khuâng ray rức. Nhưng, những nỗi này, chẳng bao giờ Tình Yêu hay Hôn Nhân dự phần là nguyên nhân chính. Mà càng ngày, những khả năng trong tôi càng như bị chậm lụt chính vì cuộc sống bức bách hiện tại đã bóp nghẽn gần hết của tôi mọi đam mê.

            Tôi nhớ đã đọc đâu đó một câu của Soren Aeby Kier- gaard, triết gia người Đan Mạch (1813-1855): “Kẻ đánh mất đời mình trong đam mê không mất nhiều bằng kẻ đánh mất đam mê.”

            Phải chăng giai đoạn này của cuộc đời, tôi đang “mất” nhiều hơn là “được?” Tuy nhiên, nói cho cùng, cho dù là “được” hay “mất” thì có gì tồn tại mãi với Thời Gian?

            []

 

 

            Paris. Tôi có những mối vò xé riêng không được bày tỏ cùng ai, ngay với mẹ tôi. Tình thương dành cho bà ngút ngàn lai láng nhưng bà vẫn không phải là người để tôi phô diễn những điều này. Sự vò xé không đến từ nguyên nhân tiền bạc hay một đời sống thiếu trước hụt sau; cũng không là kỷ niệm cũ càng của ba mươi năm nhiều lần trở lại làm đau đớn trái tim. Có một nỗi gì luôn đè nặng trong hồn như một niềm khắc khoải. Sự khắc khoải của một nghệ sĩ đã không tìm ra được đất dung dưỡng cho nghệ thuật của mình.

            Đời sống ở Âu Châu được nhìn như một cái đồng hồ vĩ đại mà bất cứ ai cũng đều phải bị cuốn xoáy vào nó. Ăn, ngủ, làm việc, giải trí, luôn cả sự suy tư –nếu có—cũng đều phải tính ra bằng phút giây chứ không còn là giờ khắc. Hiện tại, ngày 8 tiếng làm việc ở quán café; mỗi tháng một lần, có khi hai tháng, tôi mới nhận được cú điện thoại của Daniel mời tới làm một show thâu thanh cho những chương trình quảng cáo của một đài truyền hình mà anh đã ký giao kèo phụ trách phần nhạc đệm. Một năm đôi lần trong các buổi lễ lớn hay vào dịp đại hội âm nhạc nào đó, chúng tôi mới lại làm cuộc biểu diễn trước quần chúng hay một chuyến lưu diễn xa xa ngoài thủ đô. Vô tình mà tôi biến thành cái máy trong những sắp xếp chi ly nhất định của giờ giấc. Và điều buồn hơn hết là ngón đàn của tôi dần dà bị thui chột đi. Sự vò xé trong tôi bắt nguồn từ đó.

            Nghệ thuật được nhìn như một món hàng xa xỉ vô cùng đắt giá. Muốn có được nó, phải tốn kém biết bao tiền bạc, thì giờ, vật chất lẫn tinh thần để đeo đuổi và chinh phục lấy; lại có khi phải hy sinh cả những liên hệ bình thường trong đời sống –như gia đình, hôn nhân—thì mới mong đạt được. Và nghệ thuật trong một xã hội Âu Châu lại càng đắt giá hơn.

            Gần năm năm qua rồi, ngày lại ngày, tâm hồn tôi bị giam hãm trong những giờ giấc đều đặn của công việc, trong sự bức bách của những lo toan cơm áo; không còn gì khác hơn để vun bồi cho cái đam mê lớn nhất đã chiếm cứ tôi suốt thời tuổi nhỏ.

            Ở đây, không phải hai chữ Công Danh khiến tôi điên đảo, cũng không là nuối tiếc một một thuở nào dĩ vãng xa xôi…; nhưng ở đây, cái điều không ngừng đè nặng trái tim chính là một môi trường hoạt động cho âm nhạc của mình, tôi không tìm ra được nữa. Và cho đến hết đời, tôi biết sẽ không bao giờ còn dịp dâng hiến chính mình cho nghệ thuật như suốt bao năm dài đã qua.

            Sự việc Nguyễn Du khi đã già mà vẫn còn bị cái mộng công hầu đeo đuổi, thật có khác nào tiếng đàn uất nghẹn canh khuya nơi bến Tầm Dương của Tì Bà Nữ? Sự tan vỡ cuộc đời chỉ là điều phụ, mà điểm quan trọng chính là tôi đã bỏ mất đi nỗi đam mê lớn nhất của mình từ đây.

 

 

            Sàigòn tháng 12/1980.

            Một buổi sáng tôi theo gia đình đi dự kiến cuộc bốc mộ cha tôi. Điều muốn ghi vào đây không phải việc làm của các người phu mà chính là tâm trạng lạ kỳ của tôi khi ấy. Nghĩa trang nằm sâu bên trong một khu đất rộng dẫn vào từ ngoài con đường hẹp ồn ào xe cộ. Bên kia đường là các cửa hàng bán buôn sầm uất, bên cạnh một nhà tù kiên cố, cao lớn. Hai cái thế giới chết và sống đã được ngăn đôi bởi một dãy tường xi-măng bao quanh các hàng mộ. Vậy mà xem ra kẻ sống càng lúc càng có khuynh hướng lấn sâu vào trong chốn cuối cùng của những con người ở cõi thiên thu.

            Bầu trời buổi sáng âm u như chực khóc. Ngọn gió đông phơ phất thổi về. Tôi nhìn những cái xương đùi, xương cánh tay của cha tôi được bốc từ dưới mộ mà hình dung rất nhanh đến đôi tay đã từng tấu lên các bản đàn mềm mại và đôi chân từng đi giang hồ đây đó… Nghe như có nỗi buồn man mác pha cùng sự chán nản rủ bỏ lan nhanh trong tim.

            “Cuộc đời nào cũng kết thúc bằng cái chết.”

            Câu nói đơn giản nhưng bao hàm cả một triết lý sâu sắc; vậy mà phải đợi cho đến buổi sáng bốc mộ cha tôi, tôi mới nhận ra được nỗi sâu sắc của nó. Tư tưởng yếm thế họa hoằn tôi mới có, đột nhiên dâng trào ào ạt. Mọi thứ chung quanh bỗng như phô bày bộ mặt hư ảo, phù du. Và lạ một điều rằng sao chỉ với những nắm đất màu vàng trơ trọi có cắm trên đầu một thanh gỗ hẹp đề tên người chết là gợi nên thật nhiều trong tôi cái tâm trạng rủ bỏ? Có phải rằng, ngay ở cõi chết, tôi cũng tưởng tượng ra sự cô đơn tội nghiệp của những linh hồn không được ai lui tới viếng thăm?

            Buổi sáng, sự im lặng ngự trị khắp nơi. Vài con bướm vờn bay chung quanh các cánh hoa mọc nơi đầu mộ. Trên trời cao, những đám mây màu xám góp phần tô đậm thêm cái màu ảm đạm cho nghĩa trang.

            Lòng tôi chợt rủ xuống. Cái ý nghĩ ra đi khỏi Việt Nam trong khoảnh khắc đột nhiên chùng lại. Ở đây hay ở phương xa, điểm đến cuối cùng của cuộc đời rồi cũng chỉ bao gồm trong ba tấc đất. Nhưng ba tấc đất xứ người làm sao ấm được cho bằng ba tấc đất ở quê hương?

            []

 

 

            Paris. Mỗi buổi chiều khi đi qua công viên gần quán café, tôi đều nhìn thấy một người đàn ông ngồi thổi ống tiêu trên ghế đá, vây chung quanh là một đám trẻ nít. Những ca khúc Ý Đại Lợi phát ra lai láng qua tiếng tiêu khiến tôi nghĩ rằng ông là một người Ý. Lũ trẻ xem ra rất ưa thích ông. Cứ mỗi lần ông dứt tiếng tiêu là y như rằng hết đứa này đến đứa nọ tiến lên đưa cho ông những thức ăn hay món quà nào mà chúng có. Còn tôi, cứ mỗi buổi chiều đi qua đó, tôi đều dừng lại dăm phút để lắng nghe những điệu nhạc của con người được lòng yêu mến của trẻ con kia.

            Cái dáng ông rất gầy, khuôn mặt đã già, ra vẻ một người không cửa nhà định sở; nhưng trong những thanh âm vi vút hầu như có một nỗi vui tươi ấm áp làm cho tôi vô cùng ưa thích. Thỉnh thoảng cũng có vài người bộ hành lớn tuổi dừng chân vài phút rồi thản nhiên cất bước. Còn lại chỉ là ông, lũ trẻ và cả tôi.

            Thường, ông vẫn lặng lẽ thổi tiêu, nhưng khi có một đứa bé nào mon men đến cạnh thì ông ngừng thổi, quay sang mỉm cười với nó và đưa cho nó bất cứ thứ gì mà nó thích trong số quà tặng cho ông.

            Cũng ngay công viên gần quán café, mỗi chiều tôi vẫn được một người phu quét lá bên đường nở nụ cười, thăm hỏi vài câu. Những chiếc lá cuốn bay theo hướng đưa của cái chổi. Trên hai vạt áo khoác ngoài của người phu, bụi bẩn bám đầy. Trời Paris buồn buồn lành lạnh. Những tia nắng cuối cùng rớt tự trời cao làm sáng trong không gian một màu vàng quyến rũ. Tia nắng hay nụ cười của người phu, cả hai đều đượm nồng ấm áp như nhau.

            Một lúc nào tôi đột nhiên thấy mình yêu đời kỳ lạ. Ở đâu cũng có cái Đẹp. Ở đâu cũng có nỗi hân hoan, miễn là mình “chịu nhìn” đến nó. Thì một tiếng tiêu trong buổi chiều âm thầm buốt giá, hay nụ cười rạng rỡ trong khoảng không gian lành lạnh buồn buồn đã chừng như hé lộ cho tôi thấy chút nào cái “đạo” mà tôi cứ mãi loay hoay đi tìm suốt ba mươi năm dài đã qua.

 

 

            Sàigòn tháng 1/1981.

            Vì tình trạng khan hiếm điện đóm nên từng khu vực trong thành phố phải bị luân phiên cúp điện năm ngày hai đêm trong mỗi tuần lễ. Tự Do là một trong những con đường lớn của Sàigòn cũng không thoát  ra ngoài tình trạng đó.

            Những buổi chiều tối đứng đánh đàn dưới ánh đèn măng-xông chập chùng hơi nóng, tôi đã nghe xót xa thật nhiều theo sự nghèo khổ của quê hương. Ánh sáng điện đóm –nhu cầu hàng đầu cần thiết trong một thành phố công nghiệp—ngày càng bị hạn chế; cũng như ánh sáng văn minh của thế giới Tây Phương không còn cơ hội len lỏi vào trong đất nước Việt Nam.

            Những thực khách –đa số là cán bộ—ngồi gác chân lên ghế, vừa nhai ngồm ngoàm vừa chuyện trò to nhỏ, trên thái độ là cả một nỗi hả hê thỏa mãn. Sự nghèo khó của quê hương cũng được tỏ bày ra trên cung cách ăn uống của những con người này. Ba mươi năm ẩn núp trong rừng đã quá héo khô mòn mỏi. Giờ đây đối diện với những xa hoa còn sót lại của chế độ cũ, khuynh hướng tự nhiên chỉ là chộp lấy thật nhanh!

            .. .. ..

            Những buổi tối dưới luồng ánh sáng nóng bức hắt ra từ chiếc đèn đặt trên nắp dương cầm, tôi vừa nghe thương cuộc đời nghệ sĩ, thương những người bạn, lại cũng thương luôn những con người đang miệt mài trau chuốt cho cái vị giác dưới kia. Không ai lắng nghe âm nhạc của chúng tôi. Những giòng âm thanh như trôi tuột trong một làn sóng đầy những tiếng cười, tiếng nhai, tiếng la và cả tiếng chửi thề nữa. Thỉnh thoảng mới có một người khách gọi bồi mang đến cho chúng tôi món tiền nhỏ hay vài điếu thuốc lá thơm để yêu cầu một bản nhạc nào đó của thời 45-48. Và rồi trong điệu quân ca, người khách cùng cả nhóm chung bàn vừa gật gù hát theo để nhớ về một thời dĩ vãng, vừa không quên nhai vội vàng những món ăn ngon.

            “Không có gì tầm thường hơn sự thưởng thức một cách tầm thường”. Câu văn của Maurois cứ mãi trở đi trở lại giữa cái đầu tôi khi ấy. Người bạn chơi piano vẫn cúi mình trên hàng phím làm tuôn ra những âm thanh tha thiết. Sau lưng anh, cây đại hồ cầm của người bạn kia vẫn vang lên những tiếng bập bùng.

            Tôi nhìn các thực khách, nhìn hai người bạn, rồi lại nhìn vào cây đàn trên tay mình mà nhớ đến một câu định nghĩa đọc khi còn bé: “Đàn vĩ cầm là vua của các nhạc cụ bởi những khả năng kỳ diệu và bởi cái âm thanh quí phái của nó.”

            Và tôi nhìn vào chính mình, một tay vĩ cầm trong thời buổi bi kịch, sống lang thang khổ ải trong những ban nhạc thiếu máu và những không gian thiếu ánh sáng.

            Ai đó, hình như đã ví tiếng vĩ cầm như một tiếng thở dài!…

            []

 

 

XXII

 

            Paris. Thời gian của sự rỗng không đáng giá trong đầu óc.

            .. .. ..

 

 

            Sàigòn tháng 1/1981.

            Sự ra đi đã thành hình rõ rệt. Tuần lễ đầu tháng, gia đình tôi được mời lên Sở Ngoại Vụ để nhận xuất cảnh đi Belgi- que. Trời Sàigòn những ngày gần Tết trở nên thật đẹp. Mùa đông đang tàn dần, lạnh xuống tự trời cao. Những buổi chiều đạp xe qua các con đường quen thuộc dẫn ra Tự Do để đến nơi làm việc, nhìn lá vàng bay trên hè phố, tôi tự nghĩ mình cũng giống như chiếc lá úa gầy đang xoay tít trong cơn gió kia thôi.

            Một phen thay đổi sơn hà

            Tấm thân chiếc lá biết là về đâu?

            Sự ra đi càng đến gần thì tâm tư tôi càng thêm điên đảo. Trong tôi, cơ hồ lúc nào cũng chỉ muốn vờn bắt một cái gì đó bay thật mau, như ánh sáng, như bóng mây.

            Những buổi chiều thường nhắc nhở cô tịch, phôi pha. Vài tia nắng sau cùng rớt trên các ngọn cây. Nắng ngạt ngào mùi đau khổ. Làn gió cuối đông cũng đượm mùi đau khổ. Đau khổ giải thích được mọi sự. Nắng hay gió cũng đều mang giùm cho tôi những cơn đau nhè nhẹ, tỉ tê.

            “Cuối cùng rồi mình cũng phải ra đi.”

            Tôi nhắc lại câu này trong trí đến cả trăm lần như để kiểm chứng lại tính chất tàn ác --tựa một Định Mệnh—của một nỗi đau. Nỗi đau nằm ngất ngư trong hồn. Nỗi đau giăng đầy trong tiếng nhạc mỗi đêm. Nỗi đau trải dài theo làn gió giữa lối đi mỗi lúc. Nỗi đau nơi đám mây tụ, tán bâng quơ giữa trời.

            “Người ơi, người ơi, đừng làm mây!”

            Câu thơ một lần người bạn đọc cho nghe đã làm lòng tôi chùng xuống như phải cúi đầu van xin một điều gì đó. Một điều gì mà chỉ Thượng Đế mới có khả năng đem lại cho con người.

            Những buổi chiều cuối năm, thành phố đột nhiên trở lạnh. Các gốc cây bên đường vật vã theo từng cơn gió thổi qua. Vùng đất này là nơi tôi đã sống, đã lớn lên với muôn ngàn ghi nhớ. Từ cái thuở còn thơ chưa biết gì, cho đến bây giờ đối diện với khổ đau chất ngất. Từng tia nắng là từng hơi thở. Từng giọt mưa là từng giọt máu nuôi dưỡng cuộc đời. Vậy mà giờ đây tôi sắp phải chia lìa mãi mãi… Ôi! Còn nỗi nào đau xót hơn nỗi buồn xa cách quê hương?

            Ngày xưa tôi luôn luôn chối bỏ và cười mỗi khi nghe mẹ tôi nói đến cái chủ đề Định Mệnh. Nụ cười khinh mạn ấy sau mười năm, đã hết. Đến một lúc cùng cực của tâm hồn, con người thường có huynh hướng bấu víu vào hai chữ Định Mệnh để tìm an ủi. Hơn nữa, một đấng Thượng Đế!

            Những ngày cuối cùng ở quê hương, tôi cũng đang trong tâm trạng cùng cực ấy. Và có một câu tựa đề của quyển sách nào đó đọc đã lâu cứ mãi quay cuồng trong trí nhớ như một niềm bấu víu: “Lạy Thượng Đế! Con chỉ xin Ngài một điều: hãy giúp cho con cái gì Ngài muốn.”

            Rồi tôi cười ngu ngơ, nhìn mình trắng tay trong canh bài Định Mệnh mà mình không chủ động được cuộc chơi.

            []

  

 

XXIII

 

            Paris. Thư viết cho Hạnh.

            Hạnh thương mến,

            Ngày mai em bỏ Âu Châu mà đi Mỹ. Cái định mệnh ra đi mãi vẫn chỉ buộc chặt vào người. Thật tình thì em cũng có nghe buồn bã, nhưng không phải là khổ đau quay quắt như lần xa rời xứ sở. Giờ đây, tình cảm cũng biến dạng theo với thời gian trong chính con người em.

            Đêm cuối cùng ở Paris, em ngồi nghe thật nhiều lần bản Ave Maria của Schubert, kính cẩn như một lời van nài với chính mình. Em van nài sự lòng em đừng van nài gì nữa. Cuộc đổi thay nào cũng đều đem lại nỗi buồn. (Tuy nhiên, nếu không có những thay đổi thì cuộc đời còn buồn hơn biết chừng nào Hạnh nhỉ?)

            Với em, nỗi buồn hay niềm vui đều hiện hữu cùng lúc trong muôn ngàn sự việc. Điều quan trọng là cái nhìn của mình đặt để cho khía cạnh nào nhiều hơn trên hai nỗi vui- buồn ấy mà thôi.

            Ngày mai em bỏ Âu Châu đi Mỹ, cũng giống như ngày nào đành đoạn bỏ quê hương mà qua Âu Châu, hay thời gian nào xa cũ bỏ Sàigòn để đi về các tỉnh lỵ… Tất cả đều chỉ là những chuyến khởi hành tiếp nối trong một cuộc đời –của em hay của bất cứ người nào khác. Và sự khởi hành không những chỉ được hình dung qua đôi chân bước, lại còn được nhìn trên đủ mọi khía cạnh trong cuộc sống bình thường. Mỗi lúc qua đi là một lần khởi hành mới; để rồi suốt đời con người cứ phải phí hoài thì giờ thu xếp cho những chuyến đi không ngừng ấy mà thôi.

            Em cũng vậy, Hạnh ạ.

            Hơn ba mươi năm, em đã đắm chìm cuộc đời mình trên những chuyến đi. Hơn ba mươi năm em cứ loay hoay kiếm tìm hạnh phúc trên những chuyến khởi hành liên tục. Phải đợi đến giai đoạn này, kinh qua biết bao thăng trầm dâu bể, em mới nhận ra rằng có một chuyến đi và một cuộc kiếm tìm em đã vô tình bỏ sót. Đó là chuyến đi thẳng vào trong nội tâm để tìm cho ra con người thật của mình là ai? Đã từ đâu đến và rồi sẽ đi về đâu?

            Hạnh thương mến,

            Có viết mãi cũng không làm sao cho đủ. Viết, tức là đã vô tình đóng khung, làm mất đi tính chất sinh động của một sự việc, một ý tưởng. Em vốn chủ trương “vô ngôn”. Mà, “ngôn bất tận ý”, nên không viết, nhưng Hạnh vẫn hiểu em phải không?

            Em chào và chúc Hạnh nhiều may mắn.

            Thân ái.

            []