Bài 19


Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

  

 

 

 

XIX

 

            Paris. Tôi có dịp phải làm thêm vài giờ trong tuần công việc chăm sóc một bà cụ người Pháp 84 tuổi, bị tê liệt nửa người và có chứng nghễnh ngãng điên điên. Ông chủ trực tiếp của tôi trong phần việc phụ này là con trai út của bà, một vị Thượng Nghị Sĩ 48 tuổi, sống độc thân trong căn nhà khác cạnh bên căn của mẹ. Điều tôi muốn viết chính là tình thương ông dành cho mẹ đã không giống với những điều tôi được biết chung quanh đời sống của những người già ở Âu Châu. Mỗi ngày vào một giờ nhất định nào đó, ông đều sang thăm, phụ với người làm dỗ dành mẹ ăn và săn sóc mẹ. Nghe giọng nói mềm mỏng dịu dàng của ông đối với mẹ mỗi lần bà nổi cơn điên, tôi không thể ngờ đó lại là một vị Thượng Nghị Sĩ trong Quốc Hội hiện tại.

            Ở đây, đời sống của các người già trong các viện dưỡng lão không hẳn là buồn, nhưng chính cái thái độ và hành vi “phủi tay” của một số người làm con mới thật đau lòng cho họ. Trong cộng đồng người Việt, sự kiện này cũng không phải ít. Một vị bác sĩ có vợ đầm, bảo lãnh mẹ già 69 tuổi từ quê nhà sang. Sau một tháng, cô vợ không bằng lòng nữa sự hiện diện khiêm nhường của bà cụ trong căn phòng nhỏ khuất phía sau bếp; thế là bà phải được đưa vào viện dưỡng lão. Một cặp vợ chồng Việt Nam khác, du học lâu năm tại đây, nhiễm đời sống Âu Châu vào trong máu, không chịu được cuộc sống mà họ cho là “mất vệ sinh” của cha mẹ già trong căn nhà trọ; vì vậy phải đưa các bậc trọng tuổi này vào viện dưỡng lão để có “vệ sinh” hơn!

            Rồi cũng biết bao chuyện đau lòng xảy ra do từ mặc cảm bất lực và bị bỏ rơi của những con người đáng thương già cả ấy. Một ông cụ Việt Nam 75 tuổi thắt cổ tự tử trong phòng riêng vào đêm trước cái ngày được đưa vào viện dưỡng lão. Một bà cụ, hàng xóm của tôi, được tìm thấy đã dùng dao ăn đâm vào bụng sau một thời gian ở trong viện dưỡng lão.

            Cũng có nhiều người tự bằng lòng với đời sống tập thể, nhưng một số khác dễ dàng mắc bệnh tâm trí theo cái mặc cảm buồn rầu bị bỏ quên.

            Sự kiện một vị Thượng Nghị Sĩ độc thân săn sóc dỗ dành mẹ già thật đã làm tôi thán phục và nghĩ suy không ít. Cái nhìn của tôi về cuộc đời lại một lần nữa bị đặt lại. Chữ Hiếu không phải dễ thực hiện. Và với cái truyền thống đạo đức lâu đời của người Việt Nam, biết mấy ai giữ được cho tròn cái đạo làm con như vị Thượng Nghị Sĩ người Pháp kia đã có?!

 

 

            Cuối tháng 4/1980.

            Lưu diễn Qui Nhơn, tỉnh Nghĩa Bình.

            Theo sự phân phối của Sở Văn Hóa Và Thông Tin thành phố Hồ Chí Minh, một số nhạc sĩ Tân Nhạc của các đoàn Cải Lương sẽ được rút về Sàigòn để bổ xung vào các phòng trà ca nhạc thuộc Công Ty Du Lịch vừa được phép hoạt động trở lại từ ít lâu nay. Tôi là một trong số những người ấy.

            Cái lệnh trên được thông báo khi đoàn đến Qui Nhơn, làm nên một xôn xao nhỏ trong tổ Tân Nhạc. Cả 7 người chúng tôi ai cũng buồn, đặc biệt là tôi. Và làm sao mà không buồn cho được khi tôi sắp phải từ bỏ một quãng đời năm năm theo những chuyến đi chân trời góc bể? Năm năm, một thời gian khá dài với các thói quen ăn sâu trong đời sống để con người phải e ngại sự bắt đầu lại những thói quen mới nào khác. Và năm năm cũng không phải ít với các gói ghém kỷ niệm theo sân khấu, ánh đèn, âm thanh, ánh sáng và những vùng trời quê hương xa xôi mà có nơi tôi chỉ đến được một lần duy nhất. Bây giờ, tất cả phải từ bỏ hết. Cái lẽ hợp, tan muôn đời của trời đất, biết có mấy ai không vướng mắc bao giờ?

            .. .. ..

            Khác với hai lần trước đến đây –mùa thu, biển động và mưa bão--, lần này bầu trời Qui Nhơn mang cái vẻ khác lạ hơn ngay giữa mùa hè. Trời cao và trong vắt. Những con đường rợp đầy màu hoa phượng đỏ. Tiếng ve sầu vang vọng khắp nơi. Thành phố không tươi mát như Dalat, không lãng mạn như Nha Trang, cũng không như Phan Rang trầm buồn muôn thuở, Qui Nhơn mang sắc thái hiền hòa lắng dịu trong vị trí ngã ba giáp nối giữa quốc lộ 19 dẫn lên vùng cao nguyên Pleiku, Kontum, với quốc lộ I dọc dài duyên hải, từ miền Nam ra thẳng miền Trung.

            Vào những buổi trưa trong suốt một tuần lưu lại đây, tôi ưa thích ngồi nơi hành lang khách sạn nhìn ra công viên trước rạp hát Trưng Vương. Quãng đường vắng vẻ tự thuở nào. Lá trên cành tíu tít, xôn xao. Vài đứa trẻ bụi đời giỡn đùa trong nắng, và tiếng rao của chị hàng chè đậu ván lanh lảnh giữa trưa.

            Có cái gì u hoài buồn bã trong không gian làm cho tôi quyến luyến? Một điều gì thật mơ hồ, chìm lắng tự bao lâu, giờ chỉ chực bùng ra trong một phút? Vòm trời này, cơn gió nhẹ mùa hè, mùi hơi biển mặn hay là những cánh phượng đỏ tả tơi, tan tác… cũng chỉ giống với các thành phố miền Trung dọc dài duyên hải; vậy mà sao tôi nghe ngờ ngợ như trong một tiền kiếp nào tôi đã gặp, để đến kiếp này hiện diện ở Qui Nhơn, tôi lại chợt nhìn ra?

            Có phải sự quyến luyến cho thành phố lắng dịu này nẩy sinh từ ý nghĩ tôi biết rằng mình không còn dịp trở lại đây lần nữa? Hay có phải tôi đang hoài cổ ngay trong chính buổi tân thời? Tôi đã làm cái hành động “đi trước”, lủi thủi một mình, quăng Qui Nhơn của hiện tại tuốt qua năm 2000 để mà rưng rưng xúc động vì một Qui Nhơn nào khác đã phôi pha nhiều lắm?

            Mộng huyễn quá!

            Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi.

            Tỉnh rồi lại muốn mộng mà thôi!

            Thật phải!

            Tri giao quái ngã sầu đa mộng

            Thiên hạ hà nhân bất mộng trung

            (Người quen biết lạ rằng sao ta buồn vì nhiều mộng ảo

            Thử hỏi trong đời có ai là người không ở trong mơ?(1)

            []

 

 

            Paris. Trong công việc ở quán café, tôi rất được bà chủ hài lòng, nhưng lại nhận sự ganh ghét của một cô đầm làm chung ca tối. Sự đố kỵ trong cô càng nhiều hơn khi tôi được lên lương sau hai năm làm việc. Cô vẫn dùng một thứ tiếng Tây sai văn phạm để mai mỉa tôi, gọi tôi là “đồ Chinoise mất gốc!” và những món tiền khách thưởng cho tôi đã là nguyên nhân gần nhất của lòng đố kỵ ấy.

            Dĩ nhiên là tôi nhịn nhục, không phải vì sợ cô, mà chính vì sợ mất việc nếu xảy ra xung đột. Một việc làm ở Paris không phải dễ kiếm, nhất là việc làm tương đối nhàn hạ như việc của tôi ở quán café.

            Một điều khác nữa là đột nhiên tôi thấy mình trở nên mệt mỏi để chẳng còn muốn tranh đua hơn thiệt. Vì vậy, trước cái thái độ luôn luôn không đẹp của cô, tôi đâm trở thành con người gương mẫu, đàng hoàng!

            Biến cố 75 không những chỉ làm cho một số lớn người Việt mất quê hương xứ sở mà còn mất luôn cả những cá chất nguyên thủy của họ. Ở đây, tôi gặp nhiều người quen có cùng tâm trạng và thái độ mà tôi đã có. Hầu như ai cũng kinh qua bốn chữ “nhắm mắt qua cầu”! Sự mệt mỏi trong tâm tư là điều lớn nhất. Mệt mỏi từ đủ mọi thứ chung quanh cuộc sống, mệt mỏi luôn trong những kỷ niệm xa vời. Quá khứ đã bị chặt đứt. Tương lai không được xây dựng trong bền vững. Còn hiện tại lại phải đương đầu với biết bao thứ vật chất. Những điều này dễ dàng dẫn đến cái thái độ và tâm trạng câm lặng chịu đựng mà thôi.

 

 

            Đầu tháng 5/1980.

            Đoàn đi thẳng ra Quảng Ngãi. Từ những lần đã qua, biết bao hình ảnh Quảng Ngãi lưu lại trong tôi cũng không sinh động cho bằng hình ảnh một người đàn ông ngồi cúi đầu uống rượu, đêm đêm chúng tôi vẫn nhìn thấy trong lần ghé lại này. Một hình ảnh đẹp đúng nghĩa? Hay có phải cái nhìn của tôi vốn ưa trân trọng những đường nét nhuốm đầy khổ đau?

            Thật vậy, trên dáng dấp người khách cô đơn đã như toát ra cả một nỗi phi thường đau khổ. Ông ngồi một mình ở cái bàn trong góc, đầu cúi xuống, chung rượu cầm mãi nơi tay. Trong cách thế trầm tư ấy, ông tựa như đang mất hút vào một cõi nào vô cùng xa lạ. Dẫu vậy, cũng từ thân hình cao lớn, khuôn mặt xương xương, tóc dài quá cổ và bộ áo quần tả tơi rách nát, tôi tưởng như nhìn ra dáng dấp của một bậc anh hùng.

            Một bữa, chúng tôi nghe người chủ quán kể rằng ông là một Đại úy Nhảy Dù trở về sau năm năm bị giam cầm trong các trại tù Cộng Sản. Sự trở về của một người lính không những chỉ thua trận trên bãi chiến trường mà còn thua luôn trên phạm vi tình cảm. Người vợ ông đã bỏ mặc ông với nỗi đau khổ tù đày, bế đứa con thơ đi theo một anh cán bộ miền Bắc ngay từ những tháng ngày đầu tiên của cuộc đổi đời quan trọng. Ông trở về, lang thang thất chí, ngày ngày đi lượm bao nylon trong các hố rác, bán lấy tiền độ nhật; đêm đêm ngồi trầm tư trong quán vắng lạnh lùng.

            Sự ngưỡng mộ theo một hình ảnh đẹp dưới cái nhìn của tôi càng thêm mạnh mẽ. Tôi nghĩ đến một nguời bị thương nằm dãy dụa chẳng ai hay. Vết thương đổ máu, đông đặc bầm khô... Quán đêm nhạt nhòa một màu trắng bệch. Tôi nghe lòng ngại ngần xa vắng khi đang kỷ niệm hóa -một cách thơ mộng- những hình ảnh độc đáo trong chuyến lưu diễn Quảng Ngãi lần này. Dưới ánh đèn bệnh hoạn, dáng dấp người đàn ông ngồi cúi đầu trông thật cô đơn cùng cực. Tôi không muốn nhìn nhưng sao như vẫn thấy? Thấy một lần để nhớ hoài. Thấy hoài như vậy, phải nhớ đến kiếp nào cho hết?

            []

 

            Paris. Cạnh bên những con người ‘giả dại qua ải” như tôi, cũng còn có những người Việt Nam nóng nảy và không chủ trương hòa dịu. Sự nóng nảy của họ được biểu lộ qua nhiều môi trường sống, từ trong công việc làm đến những giao thiệp chung quanh, từ trong gia đình ra đến những sinh hoạt ngoài xã hội. Tuy nhiên, mục tiêu rõ rệt nhất của sự nóng nảy trong tâm tư lớp người này chính là những người Việt Nam nào được họ cho là “thân Cộng”.

            Sống trong một xã hội Tây Phương tự do mà bất cứ ai cũng dễ dàng bị gắn cho trên đầu cái mũ Cộng Sản. Thân danh về sau có khi bị tan nát cũng là do cái mũ chụp ấy. Mãi rồi, người ta đâm quen đến chẳng buồn biện hộ. Dẫu vậy, sự nóng nảy trong tâm tư những con người quá khích cũng chẳng dịu đi bao nhiêu.

            Lòng yêu nước là điều mà lớp người này dùng nhân danh trên hết. Cũng vì lòng yêu nước được lồng trong đôi mắt cuồng nhiệt, nên nhìn đâu, họ cũng thấy bóng hình người Cộng Sản! Không thiếu gì những trường hợp oan uổng xẩy ra. Có những người đang sống bình thường, đột nhiên một ngày được biến thành Việt Cộng! Có những cơ sở làm ăn đều đặn bỗng dưng một lúc được đeo cái nhãn hiệu “kinh doanh cho quân thù.” Thành ra lâu ngày, không ai là không tự hỏi: “Liệu mình có được yên thân nếu không tỏ ra ‘điên cuồng yêu nước’? Hay có phải lòng yêu nước chỉ là ‘đặc quyền’ của một số người tự vỗ ngực xưng danh?”

            .. .. ..

            Tự do là cái đích của biết bao chuyến ghe vượt biển, bao lớp người Việt Nam lội suối băng rừng. Tự do cũng là nguyên nhân cho bao cái chết, bao xác người trôi giạt biển Đông. Nhưng trong một xã hội Tây Phương có quá nhiều thứ tự do được kết thành văn bản, “tự do” lại biến thành nỗi sợ hãi nhiều hơn là điều ao ước kiếm tìm. Ở đây, người ta sử dụng tự do tận tình quá đến thành nguy hiểm. Và ở đây, tự do được biểu lộ bằng công khai cụ thể chứ không còn là trừu tượng mơ hồ. “Tự do” đặt ra những tuyên ngôn, đảng hội. “Tự do” đánh đập, mạ lỵ người. “Tự do” mặc áo yêu nước thương nòi cho những con người phản quốc. Và “tự do” đội mũ Cộng Sản lên đầu những kẻ hiền lương.

            Luật pháp Tây Phương thường không mấy ưa can dự vào “nội bộ” của những người tị nạn, nên muôn đời, cái quy luật “mạnh được yếu thua” vẫn còn chưa thay đổi.

 

 

            Ngày cuối cùng ở Quảng Ngãi.

            Cả tổ Tân Nhạc được một vị khách quen mời về nhà uống rượu buổi trưa. Trong căn nhà lá ở mãi tận xã Mỹ Lai, huyện Sơn Tịnh, cách thị xã Quảng Ngãi 5 cây số về hướng Bắc, chúng tôi ngồi quanh chiếu rượu ê hề thức nhắm bày ra trên sàn đất. Vị chủ nhân, một người đàn ông ngoài ba mươi tuổi, có vợ và hai con, giao thiệp với chúng tôi ngay từ khi đoàn tới Quảng Ngãi vài năm trước. Nhưng đây mới là lần đầu chúng tôi đến nhà anh.

            Căn nhà vách đất hai gian nằm lõm giữa khu vườn um tùm các bụi mía giống như những bức thành kiên cố. Đàn gà con lúc cúc chạy theo chân gà mẹ cạnh cái giếng khô. Sau hè, một con lợn nái nằm dài trong chuồng, dáng nặng nề lười biếng. Những tiếng ụt ụt của ba chú heo con bao quanh chậu cám không ngớt vang lên.

            Cái không khí an bình buổi trưa làm cho tôi chợt nghe buồn ngủ. Nên, rời chiếu rượu sớm, tôi ra nằm trên chiếc võng mắc giữa thân hai cây mít ngoài vườn. Từ trong nhà dội ra tiếng chuyện trò vui vẻ của các người đàn ông làm cho giấc ngủ không đến như ý tôi chờ đợi. Đặc biệt giọng nói Quảng Ngãi của vị chủ nhân cứ xoáy lên trong óc tôi những hình ảnh nào mịt mù trong quá khứ. Những hình ảnh tưởng như đã nằm im ngàn đời trong kỷ niệm, không ngờ một lúc sống dậy rõ nét như mới vừa xảy ra ngày hôm qua.

            Thuở xưa, khi còn đi học, tôi có một người bạn thân lớn hơn bốn tuổi. Tôi thân với anh vì hai lẽ: Thứ nhất, anh học rất giỏi, môn Triết học Đông phương không phải dễ nuốt, vậy mà với anh chỉ là một trò chơi. Thứ hai, giọng nói Quảng Ngãi và bộ dáng dầy gò của anh vẫn là đề tài cười cợt cho bè bạn trong các cuộc trò chuyện; điều này khiến tôi xót xa và cả phẫn nộ. Tôi thường phản kháng một người bạn khác (cũng thuộc hàng thân) rằng: "Đâu cũng là quê hương thì đã chắc gì giọng nói Hà Nội quyến rũ của anh lại có giá trị hơn giọng nói Quảng Ngãi của người bạn kia?"

            Một buổi chiều đầu năm 1968, sau giờ học, tôi được người bạn Quảng Ngãi mời đi uống café. Từ khi mới quen, tôi đã biết anh rất nghèo, vừa đi học vừa đi làm rất nhọc nhằn khổ cực. Quán café bên hông trường nổi tiếng ngon và rẻ cũng chẳng bao giờ anh tìm đến. Vì vậy, tôi nói với anh rằng tôi chỉ nhận lời nếu anh để tôi trả tiền café sau đó. Anh hỏi tại sao? Tôi đáp ngay cho anh đừng bối rối: "Anh vẫn giúp tôi làm bài mà tôi chưa có dịp trả. Bây giờ tôi mời anh một chầu café là chuyện đương nhiên!"

            Cuộc café không để lại ấn tượng nào đặc biệt trong tôi ngoài bài thơ Tỳ Bà của Bích Khê(1). Anh e dè nói: "Bài thơ này hẳn chị đã biết, nhưng tôi muốn đọc lên cho chị nghe bằng chính giọng Quảng Ngãi quê hương của Bích Khê và cũng là quê hương của tôi."

 

            Từ lâu, tôi vẫn yêu bài Tỳ Bà, nhưng thật chưa lúc nào nghe xúc động cho bằng buổi chiều sắp tắt ngồi trong quán café nhỏ bên hông trường, nhìn những chiếc lá vàng rơi dưới bầu trời mây tím, chữ nghĩa của Bích Khê vờn lượn như sóng nhạc bên tai qua giọng đọc của người bạn tôi.

            ...Đâu tìm đào nguyên cho xa xôi

            Đào nguyên trong lòng ta đây thôi (...)

           

            Vàng rơi nằm im trên hoa gầy

            Tương tư ngườøi xưa thôi qua đây

            Ôi! nàng năm xưa quên lời thề

            Hoa vừa đưa hương gây đê mê (...)

                       

            Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

            Buồn sang cây tùng thăm đông quân

            Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng

            Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông (...)

           

            Đọc xong bài thơ, người bạn cứ ngồi cúi đầu, trầm ngâm hút thuốc lá. Tôi ái ngại nhìn anh. Làm sao mà tôi không nhận ra tấm tình kín đáo anh dành cho tôi ngay từ những ngày đầu quen biết? Làm sao mà tôi không đo lường được dưới lớp bề ngoài gầy yếu, anh còn ẩn giấu cả một nỗi lòng câm lặng đảo điên? Tuy nhiên, cái khuynh hướng xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng anh đã vô tình tạo ra giữa tôi với anh một khoảng cách ngăn nào đó. Dạo ấy, đầu óc còn ngu ngơ quá, tôi chưa nhận ra được giá trị của sự đau khổ, chưa ý thức được tầm vóc của những kinh nghiệm sống bằng mồ hôi nước mắt mà anh đã trải qua.

            Học trên tôi ba lớp, anh thường đến nhà giúp tôi làm bài. Tư cách đàng hoàng của anh rất được mẹ tôi quý trọng. Nhưng trong những câu chuyện với nhau, tôi cảm thấy xa lạ mỗi lần nghe anh đề cập đến các vấn đề "san bằng giai cấp, đời sống nghèo khổ của giới nông dân, xã hội chủ nghĩa"..v..v.. Những khi ấy, trông anh hăng say như một diễn giả có tài, còn tôi lại ù ù cạc cạc như một đứa vừa điếc vừa câm.

            Tuy nhiên, buổi chiều trong quán café bên hông trường đại học, nghe những vần thơ Bích Khê qua giọng đọc của anh, tôi đâm ngạc nhiên thực sự. Và câu hỏi "Có thể nào một người vừa yêu xã hội chủ nghĩa lại vừa yêu được những dòng thơ lai láng của Bích Khê" cứ quay cuồng trong trí não tôi.

            Hai tháng sau, cũng một buổi chiều, người bạn Quảng Ngãi tìm đến thăm tôi. Khuôn mặt anh buồn quá khiến tôi e dè không dám hỏi câu gì cả. Mãi thật lâu, anh bày tỏ: "Cả gia đình tôi và luôn cả làng tôi đều chết hết trong vụ tàn sát mới đây của bọn lính Mỹ."

            Và anh ứa nước mắt. Tôi rùng mình ngồi ngây trên ghế.

            Cứ vậy, một giờ đồng hồ trôi qua, chúng tôi không nói gì với nhau. Anh mãi hút hết điếu thuốc này qua điếu thuốc khác, khuôn mặt trầm ngâm đau đớn, thỉnh thoảng lại kêu nhỏ: "Tôi không tưởng tượng được sự tàn ác của bọn chúng nó cao đến như vậy!"

            Chữ "bọn chúng nó", tôi không hiểu anh muốn dùng cho ai, người Mỹ hay chính quyền hiện tại? Nhưng tôi không dám hỏi. Cho đến lúc chia tay, tôi nghe anh nói: "Có lẽ tôi phải bỏ học đi xa."

            Anh không giải thích chữ "đi xa" là mãi tận đâu và trong óc tôi chỉ hình dung sự đi xa của anh như một chuyến trở về Quãng Ngãi.

            Từ buổi chiều hôm đó, anh không còn đến thăm tôi nữa.

            Hơn một năm sau, đọc trong các tờ báo Việt ngữ và ngoại quốc nói về cuộc tàn sát một lúc 502 người Việt Nam (380 người ở thôn Từ Cung và 122 người ở thôn Cỗ Lũy, xã Mỹ Lai, huyện Sơn Mỹ, tỉnh Quảng Ngãi) của tên Trung úy William L. Calley ngày 16/3/1968, tôi mới biết rằng gia đình người bạn tôi là một trong số 24 gia đình nạn nhân bị bắn chết không thương xót dưới tay đồng bọn và chính cả tên trung úy tàn bạo kia.

            Nhiều năm trôi qua, tôi vẫn không có tin tức gì của người bạn cũ. Cho đến một buổi chiều tháng 5/1975, trời Sàigòn gió mưa tầm tã, một người đàn ông mặc quân phục Cộng Sản tìm đến gặp tôi. Người này tự giới thiệu là bạn chiến đấu cận kề với anh bạn Quảng Ngãi, được bạn tôi trao gửi một sứ mạng trước khi anh từ giã cuộc đời trên chiến trường Bình Long năm 1974. “Cái sứ mạng tìm về nói cho tôi hay rằng anh vẫn yêu bài thơ Tỳ Bà của Bích Khê như hình ảnh đẹp nhất của một quá khứ cơ hàn thuở xưa.”

            .. .. ..

            Buổi chiều cuối cùng ở Quảng Ngãi, tôi nằm trên chiếc võng trong ngôi vườn xa lạ, hình dung ra những tiếng nổ vang rền trong ngày 16/3 năm cũ. Những giòng máu đỏ của các người dân vô tội chảy dài trong trí tưởng. Những cái thây đổ gục. Giọt nước mắt của bạn tôi như cũng chập chờn trong đầu óc mông lung. Từ chiếu rượu, tiếng chuyện trò vang ra ào ạt. Tuy nhiên giọng nói miền Nam của các anh bạn trong tổ Tân Nhạc vẫn không át được giọng nói Quảng Ngãi nặng nề của vị chủ nhân.

            Hơn mười năm dâu bể, mọi sự tưởng như lắng im dưới mép bờ quên lãng. Trong trí nhớ tôi, khuôn mặt người bạn cũng bị thời gian làm cho biến dạng đi. Nhưng còn bài thơ Bích Khê với buổi chiều sắp tắt ngồi trong quán café bên hông trường đại học, làm sao tôi quên được? Làm sao thời gian có thể tàn phá nổi giá trị của mối tình câm mà một con người đã cưu mang từ thuở thanh xuân cho đến lúc từ giã trần gian?

            Bài thơ của Bích Khê cứ nhảy múa trong trí nhớ buổi trưa nơi một vùng quê xa lạ. Bài thơ có những câu làm xúc động được tôi từ dạo nào tâm hồn còn trắng trong như tờ giấy và luôn cả bây giờ trái tim đã đầy biết bao vết sẹo đớn đau:

            Ôi! Người năm xưa quên lời thề

            Hoa vừa đưa hương gây đê mê (...)

            Tôi không bao giờ thôi yêu nàng

            Tình tang tôi nghe như tình lang!

            []

 

 

            Paris. Một bài thơ nhỏ:

            Ta muốn vì em mà tử đạo

            Như một tín đồ đã quyết tâm

            Triều lên xương máu tràn giông bão

            Những tiếng kêu rền hạnh phúc câm

           

            Trắng mưa quá khứ chim về muộn

            Ai vẫy chào ai khi bóng đêm

            Cây lá gọi tên ngàn kỷ niệm

            Ta gọi thầm em giữa đáy tim

 

            Xương máu triều lên em có biết

            Ta lặng nhìn em tự phút giây

            Ngón tay sợi tóc là hoa nở

            Trong từng giọt lệ tiếng đàn ai

 

            Ta sẽ vì em mà hiển lộng

            Trong miếu đền ta hương khói im

            Một phút từ tâm em có nhớ

            Thế giới ta đầy dấu vết em.

 

 

            Đầu tháng 5/1980.

            Lưu diễn Bình Trị Thiên, vùng cổ thành Quảng Trị.

            Thuở xưa, ngôi nhà của gia đình tôi nằm cạnh một quán ăn. Một tối, có những người lính Nhảy Dù đến đây nhậu nhẹt, rồi sinh ẩu đả, làm huyên náo cả xóm. Nấp kín vào sau cửa, tôi nghe tiếng ly tách rơi loảng xoảng, tiếng súng bắn lên trời, rồi lại tiếng la lớn bằng giọng miền Trung nặng chịch của một người lính Nhảy Dù sau cơn ẩu đả: “Thằng này là dân Quảng Trị, gặp Việt Cộng là giết, xong cắt tai nhai rau ráu, mổ bụng lấy gan ăn liền!” Cơn phẫn nộ của người lính Nhảy Dù say rượu ấy đã đi luôn vào tiềm thức tôi những niềm sợ hãi. Khi ấy, tôi nhớ rằng chỉ mới độ mười hai…

            Tháng 6/1967, trời Sàigòn gió mưa tầm tã. Một buổi chiều, giở những trang nhật báo như lệ thường mỗi buổi, tôi thốt lặng người đau đớn khi đọc nơi trang 4 một cột phân ưu những giòng thế này: “Trung úy Thuận Văn Chàng, trung đội trưởng trung đội… Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù đã hy sinh vì tổ quốc vào đêm 27/5/1967 tại chiến trường Khe Sanh, Quảng Trị. Toàn thể gia đình sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ tiểu đoàn 9 Nhảy Dù xin chia buồn cùng gia đình Trung Úy Chàng và cầu chúc linh hồn người bạn chiến đấu được phiêu diêu nơi miền cực lạc.”

            Trung úy Thuận Văn Chàng là người bạn gốc Chiêm Thành, rất thân với người anh lớn của tôi.

            Tháng 1/1973, tôi được dịp theo ban đại hòa tấu trường Nhạc Sàigòn ra Huế biểu diễn. Trong chương trình, có một đêm dành để vinh danh công lao các chiến sĩ đang đồn trú tại Quảng Trị sau cuộc tái chiếm cổ thành Đinh Công Tráng tháng 9/1972. Lần đầu tiên trong đời, tôi đã nhìn thấy nhiều đến không biết cơ man nào mà kể các bộ áo hoa rừng với màu mũ đỏ. Một thứ xúc động mạnh mẽ đột nhiên vây chụp tâm tư khi đặt chân lên vùng đất đã diễn ra những trận giao tranh đầy máu lửa. Và cũng có một nỗi ngưỡng mộ lớn dậy trong tim khi ngồi trên sân khấu nhìn xuống cả một rừng chiến sĩ của một trong những binh chủng lẫy lừng nhất Quân Lực Miền Nam Việt Nam.

            Trong phần khoản đãi phái đoàn biểu diễn sau đó, mỗi người trong đám chúng tôi được một hay hai vị sĩ quan Dù đến xã giao trò chuyện. Người tiếp xúc với tôi là một Thiếu tá độ ngoài ba mươi tuổi, dáng gầy gầy nhưng nét mặt trông thật nhiều nghị lực. Khi hỏi về thân thế nhau, anh cho biết vẫn còn độc thân. Điều này làm tôi ngạc nhiên. Anh giải thích: “Bọn chúng tôi đa số không đứa nào dám lấy vợ. Cuộc chiến này không biết sẽ còn kéo dài đến bao lâu? Những người lính trận như chúng tôi mỗi lần ra giới tuyến đều không dám mơ đến ngày trở lại. Lấy vợ, chỉ làm đau đớn cho họ vì sự chết sống bấp bênh của mình, trong khi đã có biết bao người thân ruột thịt vì mình mà đau đớn.”

            Khi ấy, độ 10 giờ tối. Tháng Giêng gần Tết, núi đồi Quảng Trị lạnh căm buốt giá. Tôi nhìn vị Thiếu tá mà hình dung rất nhanh đến người lính Nhảy Dù dữ dằn đã được nhìn thấy khi mười hai tuổi. Lại cũng nghĩ đến khuôn mặt cương nghị của người thanh niên Chàm tôi đã âm thầm tưởng nhớ vào năm mười tám. Có cái gì là lạ trong cảm nghĩ khi nhận ra thêm một bộ mặt khác của người lính Nhảy Dù vào sinh ra tử. Những con người tuổi trẻ phải hy sinh mọi tình cảm thuần túy nhất của mình cho một thứ chiến tranh quái ác kéo dài suốt bao nhiêu năm.

            .. .. ..

            Đầu tháng 5/1980, lần thứ hai tôi có dịp trở ra Quảng Trị. Đoàn dựng rạp ngay tại cổ thành Đinh Công Tráng. Buổi chiều chưa hát, tôi đứng sau tấm màn sân khấu lộ thiên nhìn bao quát ra giàn đất trống có những băng ghế dài xếp hàng song song, trơ trọi. Trong trái tim dậy lên một mối buồn sầu. Tôi nghĩ miên man đến buổi chiều của năm 1973 xa lắc…, một buổi chiều như bao buổi chiều khác nhưng đã mở ra trong tâm hồn tôi những xúc cảm khó quên.

            Thời gian qua mau, cảnh đời tang thương dâu bể. Chỉ mới vài năm mà cả một thế cuộc đổi thay tàn khốc. Nước Việt Nam Cộng Hòa bị xóa tên trên bảng đồ thế giới. Những binh chủng thiện chiến oai hùng nhất của Quân Lực Miền Nam tự do cũng bị xóa tên luôn!

            Những ngày hát Quảng Trị, hình ảnh những người lính kiêu hùng năm cũ cứ chập chờn làm cho đầu óc tôi không yên ổn. Từ anh lính Nhảy Dù say rượu cho đến người sĩ quan Dù bạn rất thân với người anh lớn. Từ cả một rừng chiến sĩ mũ đỏ đã qua một lần chúng tôi được dịp đến trình tấu để vinh danh chiến tích của họ vào một buổi chiều đầu Xuân lạnh giá, cho đến vị Thiếu tá (tôi chẳng nhớ tên) đã đến chuyện trò cùng tôi suốt buổi tối liên hoan tháng 1/1973. Tất cả những con người này (trừ ra vị sĩ quan Chàm) tôi đều chỉ gặp trong đời một lần duy nhất. Vậy mà cơ hồ như hình bóng họ thật thân thiết với tôi trong buổi chiều đứng trên sân khấu nhìn ra vùng núi đồi đẫm máu năm xưa.

            Thời gian trôi như nước sông Thạch Hãn đổ ra biển. Những trận chiến kinh hoàng rồi chỉ còn là kỷ niệm đau thương trong lòng người dân Việt phía bên này và cả phía bên kia. Nhưng các chiến sĩ Nhảy Dù đã hơn một lần tôi gặp mặt, bây giờ họ ở đâu, những người còn sống? Và những người đã chết, hồn thiêng họ liệu có còn vương vất nơi đây?

            []

 

 

            Paris. “Thức đêm lai rai” để nghe ngóng lòng mình là một trong vài sở thích đặc biệt của tôi. Tại đây, trong căn phòng nhỏ không có lò sưởi, thời gian đã quá nửa đêm, tôi như tìm thấy cho mình một nỗi an bình thật sự. Cả một xã hội quay cuồng không còn vị trí. Và những lo toan phiền não trong suốt ngày dài phải lùi bước bên ngoài khoảng không gian chật hẹp của riêng tôi.

            Cái bản chất “ngây thơ” trước cuộc đời vẫn không làm tôi lớn nổi. Tôi nghe sợ những va chạm tàn nhẫn hàng ngày. Sợ những thôi thúc bức bách của một đời sống mà tôi không mảy may biết lấy gì chống đỡ cụ thể. Tuy nhiên, lòng người là thứ làm cho tôi phải ngại ngùng trên hết. Trong một xã hội Tây Phương, cái gì cũng đầy đủ, nhưng tình cảm chân thành giữa con người với nhau, tôi khó lòng tìm thấy. Nền văn minh vật chất càng cao bao nhiêu, sự đòi hỏi tận diệt về tinh thần càng nhiều hơn gấp bội. Vượt trên nhiều hình thức liên hệ chỉ là sự đạp đổ lường gạt nhau để tranh từng bước thắng. Và trong mọi mối giao hảo, điều cuối cùng vẫn chỉ đưa đến những giả trá, đố kỵ để mong tìm lợi ích cho riêng cá nhân.

            Giờ đây, một tình cảm thủy chung và chân thành –dù trên khía cạnh nào—cũng là điều vô cùng quý báu mà dẫu có đốt đuốc đi giữa ban ngày cũng không tìm ra được. Cái thuở nào con người đặt giá trị đạo đức lên hàng đầu đã đi vào dĩ vãng xa xăm…

            Tôi sợ. Trong nỗi sợ còn pha thêm điều chán chường buồn bã. Chỉ những khi rút về căn phòng lạnh lẽo của mình, thời gian đã quá nửa đêm, tôi mới nghe an bình trở lại.

            Đánh lừa chính mình để được thấy lòng thanh thản, tôi cũng cam tâm. Bởi, dù sao trong sự đánh lừa ấy, tôi cũng đã tìm ra một lối thoát cho nỗi suy sụp tinh thần mà tôi đang đứng cạnh bên mép bờ hiểm nguy của nó.

 

 

            Tháng 5/1980, lưu diễn Huế.

            Huế là kinh đô Phú Xuân cũ của nhà Nguyễn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, Huế là tỉnh lỵ chính của tỉnh Thừa Thiên. Sau 1975, tỉnh Thừa Thiên cùng hai tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị sát nhập làm một gọi là Bình Trị Thiên, Huế là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Bình Trị Thiên kể từ đó.

            Năm 1558, Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam đóng trụ sở tại xã Ái Tử, huyện Đăng Xương, tỉnh Quảng Trị về sau này. Đời Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1687-1691), kinh đô được dời về xã Phú Xuân, huyện Hương Trà, tức là Huế bây giờ. Đời Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) gọi Huế là đô thành. Gia Long lên ngôi năm 1802, gọi Huế là kinh sư. Tên Huế là do từ chữ Hóa của Thuận Hóa mà ra.

            .. .. ..

            Tôi được sinh ra ở Huế nhưng từ thuở bé đã sống tại Sàigòn. Kỷ niệm cụ thể về nơi chôn nhau cắt rốn vì vậy mà cũng gần như không có. Một vài lần trước 1975, theo ban đại hòa tấu trường Nhạc Sàigòn ra đây biểu diễn, những cuộc đi chơi tập thể chẳng khiến tôi có một ý niệm đặc biệt nào về Huế. Tuy nhiên, từ đời kiếp nào xa lắc, tôi biết rằng vùng quê hương dân gầy ấy đã chiếm cứ trái tim tôi, như một ảo ảnh, như một giấc mơ không thức tỉnh bao giờ.

            Yêu Huế, phần nữa cũng vì tôi đã yêu vô cùng giọng nói mềm mỏng dịu dàng của mẹ tôi theo những câu ru một đời tôi vẫn nhớ:

            “Ai về cầu ngói Thanh Toàn

            Cho em về với một đoàn cho vui!”

            Tôi đồng hóa Huế với bà, đem tất cả những điều chiêm ngưỡng về bà để phủ lên cho Huế. Vì vậy, tình cảm có phần thiên vị khi nghĩ về vùng quê hương mơ màng ấy. Chùa Thiên Mụ, núi Ngự Bình, làng An Cựu hay bến đò sông Hương… đều là những kỷ niệm được cất sâu trong tim tôi từ khi còn bé. Và tôi yêu tất cả những kỷ niệm này như yêu con người đã cấu tạo nên hình hài thân thể tôi, một cách riêng tư ích kỷ!

            Ai đó khi nhận xét về Huế, đã nói rằng: “Non bất cao, thủy bất thâm, nam đa trá, nữ da dâm”. Điều này tôi cho là thiếu sót và có phần lệch lạc. Với một khí hậu hai kỳ nắng mưa rõ rệt –mùa hè chói chang, mùa đông lạnh buốt--, một diện tích rộng dưới ba ngàn ki-lô-mét vuông, phía tây được bao bởi dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía đông là vùng biển Nam Hải mênh mông, Huế là một cái mốc lịch sử quan trọng trong cuộc Nam tiến của Chúa Nguyễn kể từ đầu cuộc Trịnh-Nguyễn phân tranh; cũng là trung tâm văn hóa và chính trị một thời, kéo dài đến gần ba thế kỷ.

            Không thể chối rằng, sống trong một hoàn cảnh địa lý và chính trị đặc biệt của xứ Huế, con người phải trở nên khôn ngoan, mưu lược. Tuy nhiên, làm sao phủ nhận được trong bản chất của người đàn ông Huế còn có sự chân thành, tính hào sảng ẩn khuất đâu đó dưới lớp bề ngoài mưu lược, khôn ngoan? Cũng như cái Đẹp là điều được ưa chuộng hàng đầu, thể hiện từ tinh thần ra đến vật chất trong đời sống người dân Huế; và đối với người đàn bà Huế, cái Đẹp được hình dung qua sự kiểu cách yểu điệu bề ngoài thì ít, mà nổi bật bởi nét sâu sắc kín đáo và lòng chịu đựng hy sinh thì nhiều. Cái Đẹp ấy đã bị nhìn lệch lạc đi, để rồi có phải chữ Dâm được khoác lên cho người đàn bà Huế một cách oan uổng cũng chỉ do từ điều lệch lạc ấy?

            Huế thơ mộng, trầm buồn đã đành với chùa Thiên Mụ bên bờ sông Hương do chính tay Chúa Nguyễn Hoàng cho dựng lên từ đầu thế kỷ 17, với giòng An Cựu “nắng đục mưa trong”, với thôn Vỹ Dạ nổi tiếng một thời là nơi vãng lai của nhiều tao nhân mặc khách, mà Huế còn ngạo nghễ bất khuất nữa trong một phạm vi địa lý eo hẹp không có nhiều đất cát phì nhiêu như những vùng trời khác của quê hương.

            Nghĩ về Huế là tôi nghĩ ngay đến một cái gì vô bờ nhẹ nhàng nhưng cũng rất mãnh liệt cương quyết. Hình ảnh người đàn bà đứng chờ chồng ra đi biền biệt, mặc cho thông reo, mặc cho tuyết đổ, lâu ngày biến thành bức tượng đá trắng xóa, được diễn tả qua ca khúc Chanson de Solveig của Grieg(1) cũng chưa nói hết được cái đặc tính “vô bờ” này của Huế. Phải là một khúc buồn ở cung mineur bí mật, khó hiểu như trong Symphonie Inachevée(2) của Schubert, hòa điệu nhịp nhàng với bản anh hùng ca Eroica của Beethoven(3) mới phô bày được hết hai cá chất tương xứng đối nghịch ấy. Và tôi yêu tất cả cái vô bờ này của vùng quê hương trầm buồn mà tôi đã chào đời tại đó hơn 30 năm qua.

            .. .. ..

            Trên toàn giải đất Việt Nam, không nơi nào là không trải qua hơn một lần bị chiến tranh tàn phá. Cuộc biển dâu có thiên vị cho ai bao giờ? Vậy mà sao chỉ với Huế, tôi đã nghe lòng ngậm ngùi thật nhiều trước bao tang thương biến đổi? Có phải vì ở đây, sự việc không chỉ giới hạn trong không gian cụ thể của một thành phố, một tỉnh lỵ, mà còn nói lên sự sụp đổ một nền móng văn hóa lâu đời của cả một triều đại?

            Huế đẹp Huế thơ không chỉ là do công trình sáng tạo của riêng Thượng Đế, mà còn có luôn cả sự góp sức của bàn tay Con Người. Những thành trì, cung điện được xây lên nguy nga hùng tráng không thua gì núi Ngự Bình hay dãy Trường Sơn bao vòng phía tây xứ Huế. Nét u trầm nơi các lăng mộ đền đài cũng chứa đầy chất thơ không kém gì sóng nước sông Hương. Ngày hôm nay, những nét đặc thù của Huế đã phôi pha nhiều lắm. Cuộc biển dâu ghi hằn dấu vết ở khắp mọi nơi. Một phần cái Đẹp của Huế là do Con Người tạo dựng, nhưng cũng chính Con Người đã giày xéo lên cái Đẹp ấy không chút nào thương xót. Sự vô tình của chiến tranh chỉ là kết quả sau cùng mà thôi!

            .. .. ..

            Những ngày trở lại Huế, mối xúc cảm trong hồn tôi dâng tràn lai láng. Vùng quê hương đầu đời đã làm dậy lên biết bao tâm trạng lạ lùng. Ý nghĩ giống như một người bỏ quên lâu rồi một vật gì vô cùng yêu dấu, giờ đây nhìn lại thì điều yêu dấu ấy đã không còn nguyên vẹn như trước. Để rồi, nỗi tiếc thương cứ bốc cao dần trong tâm thức khi nhận định rõ hơn rằng không điều nào khác có thể được yêu nhiều hơn vật dấu yêu đã bị bỏ quên kia.

            Đã có bao lần giữa trời đất ấy

            Mây gió lặng lờ, bờ cỏ chim kêu

            Lăng mộ đền đài, dấu đời nước chảy

            Rêu phủ xanh vàng ký ức hắt hiu

            Những cây sầu đông, ôi sầu biết mấy!

            Một giọt sương rơi giữ một buổi chiều(4)

            []

 

           

            Paris. Mẹ tôi vẫn thường phàn nàn rằng sao cuộc đời tôi đơn chiếc quá. Bà muốn tôi lập gia đình, muốn tôi "có một người đàn ông thay mẹ để đỡ đần cho con miếng ăn giấc ngủ" như bà thường bảo. Dưới mắt bà, lúc nào tôi cũng còn là đứa trẻ yếu đuối phải cần có ai khác để tìm nương tựa; và sự cô đơn của tôi đã làm cho bà xót xa phiền não thật nhiều. Tôi thương tất cả những nỗi này trong ý nghĩ bà nên chỉ mỉm cười mỗi khi nghe bà nói đến chuyện ấy. Tuy nhiên, với chính lòng riêng, tôi biết là mình sợ đời sống hôn nhân.

            Không phải rằng tôi không thấy sự chia xẻ và nương tựa vào một người chồng là điều cần thiết. Cũng không phải tôi không tìm ra cơ hội để lập gia đình. Nhưng những cuộc hôn nhân tan vỡ trong xã hội Tây Phương xẩy ra như cơm bữa khiến tôi e ngại; và cái hiện tượng ly dị trong cộng đồng người Việt có sĩ số cao chẳng kém gì với dân bản xứ đã ám ảnh tôi.

            Tôi có một cặp bạn cũ, ngày xưa phải vượt qua biết bao khó khăn mới kết nên chồng vợ; bây giờ trước một pháp đình ở Paris, cả hai lại trở thành thù địch của nhau. Một cặp bạn cũ khác cùng học chung trong trường Nhạc Sàigòn, nổi tiếng một thời trai tài gái sắc; ngày nay mỗi người đã không ngần ngại giơ ra những móng vuốt trong một vụ án tranh chấp tài sản để chỉ mong dành phần thắng về mình.

            Luật pháp tỏ ra rộng rãi trong vấn đề ly dị và lòng dạ con người dễ dàng đổi thay theo nhiều thứ tự do để quên mất cái nghĩa tào khang. Rốt lại, chỉ đám trẻ nhỏ nạn nhân của những cuộc hôn nhân tan rã là đáng thương duy nhất.

            Dù sao, nỗi cô đơn trong cuộc sống độc thân vẫn làm con người dễ chịu hơn là trong một đời sống lứa đôi mà cả hai kẻ đồng hành không còn muốn nhìn về tương lai theo cùng một hướng.

 

 

            Huế, ngày lưu diễn cuối cùng.

            Nửa đêm tan hát, chúng tôi một bọn năm người trong tổ Tân Nhạc rủ nhau xuống đò uống rượu thưởng trăng. Ngày mai đoàn sẽ trở lại Sàigòn. Ngày mai tôi cũng giã từ năm năm quá khứ. Cuộc rượu đêm cuối cùng ở Huế đâm thành đặc biệt. Sóng nước sông Hương vỗ vào hai bên mạn thuyền, làm con đò chòng chành dao động. Ngọn gió hiu hiu chao đảo ánh đèn con.

            Anh bạn tổ trưởng rót một chung rượu nhỏ, đổ xuống lòng sông, bảo rằng mời thủy thần cùng uống. Rồi anh ngân nga bốn câu thơ:

            Đưa nhau đổ chén rượu hồng

            Mai sau em có theo chồng đất xa

            Qua đò gõ nhịp chèo ca

            Nước sông làm rượu, quan hà chuốc say(1)   

            Đêm thật đẹp. Giòng sông Hương loang loáng ánh trăng vàng, cảnh vật vô cùng nên thơ với những ngọn đèn dầu leo lét tỏa ra từ các con thuyền ngược xuôi qua lại, tựa hồ như những bóng ma chập chờn trên sóng. Tiếng rao nhẹ nhàng của các cô lái đò vang lên, mời mọc khách các thức quà ăn uống nửa khuya.

            Ôi! Cái giọng Huế mới dịu dàng làm sao! Tôi mang trong tim cả một giòng Hương giang thương nhớ, nhưng lại không biết nói tiếng Huế. Vì vậy, nghe đâu đó cái âm điệu hao gầy của vùng quê hương mảnh dẽ là tôi lắng tai nghe cho kỳ hết mới thôi.

            Trời đêm có gió lạnh heo heo. Ánh đèn đường từ trên thành cầu chiếu xuống, mơ hồ nhòa nhạt. Cuộc rượu đêm trăng mang đầy chất thơ kỳ ảo. Máu Kinh Kha bừng dậy trong người. Một điều thích thú là khi uống rượu vào, mọi sự bỗng trở nên ngả nghiêng khinh khoát. Rượu hâm nóng tâm tư, đem cho mắt nhìn màu hồng, dù thoáng chốc vụng dại. Thứ nước có khả năng nổi lửa đốt những bức thành chắc nịch của khổ đau, mở ra những chân trời ước mơ huyễn mộng.

            Người bạn chơi guitare vừa gảy đàn vừa hát. Những âm thanh xoắn ốc làm rung động những sợi tơ trong sâu thẳm tâm hồn:

            Tuyết rơi mỏng manh buồn

            Ga Lyon đèn vàng

            Cầm tay nhau muốn khóc

            Nói chi cũng muộn màng(2)    

            Không có ga Lyon, không có màu tuyết trắng, cũng không cả ngọn đèn vàng hiu hắt, vậy mà sự chia phôi vẫn hiện hữu đây đó trong không gian. Dưới làn ánh sáng chập chờn ma quái, nhìn người bạn gục đầu trên phím nhạc, tôi bỗng liên tưởng đến bức Au soir de la Vie của Van Gogh(3). Bức tranh vẽ người đàn ông ngồi úp mặt trong đôi tay, trông thật thảm hại, chịu đựng.

            Đêm cuối cùng ở Huế, cũng là đêm cuối cùng trong cuộc đời phiêu bạt năm năm, tôi nghe như mình tan mất trong một thứ kỷ niệm đẹp lạ lùng. Cơn hỏa bốc dần trong óc, càng nhiều hơn khi một người bạn đọc lên bài Tống Biệt Hành của Thâm Tâm(4).

            Đưa người ta không đưa qua sông

            Sao có tiếng sóng ở trong lòng

            Bóng chiều không thắm không vàng úa

            Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong

            Những câu chuyện được kể cho nghe từ bờ biển dâu nào xa xăm trở về trong trí nhớ. Cái thú đi đò trên sóng nước sông Hương một thời đã là cái thú của giới mặc khách tao nhân. Lòng tôi ngập tràn một cảm giác đăm chiêu rất là huyễn mộng; hình dung ra những-con-người-trăm-năm-cũ qua vóc dáng các bạn tôi.

            Gió đêm lạnh, len vào da thịt. Tôi nghe rờn rợn đâu đó, tựa hồ như đang ngồi trong một tiệc rượu ở cõi âm.

            Thuyền ai trên sông Hương

            Hồn tôi trên sông Hương

            Đầy một giòng nắng muộn

            Đầy một giòng nhớ thương(5)

            Giọng ngâm của người bạn vẫn cất lên sang sảng. Tiếng sóng nước vẫn liên tục vỗ vào mạn thuyền. Trời càng khuya, ánh trăng càng vằng vặc sáng. Không gian thật mỏng manh hao gầy để phải nghĩ  đến sự chia cách ngày mai.

            Đêm cuối cùng ở Huế, miền quê hương đầu đời một lần chôn nhau cắt rốn, tôi đã muốn mình tan mất luôn trong nỗi êm đềm của tình bạn và của cả đất trời lơ mơ huyễn mộng. Một kỷ niệm góp phần vào đống kỷ niệm của tôi, đáng yêu, bé bỏng. Một ngày nào đó nghỉ ngơi, những cái bé bỏng ấy sẽ được đem ra khỏi kho tàng trí nhớ, và xâu chuỗi để đời sẽ được kết nên, đượm đầy ký ức thời gian.

            []

 



(1) Trích hai câu cuối bài Ngẫu Ðề của Nguyễn Du.

(1) Bích Khê, tên thật là Lê Quang Lương, sinh ngày 24/3/1926 ở làng Thu Xà, xã Phước Lộc huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Mất ngày 17/1/1946, 30 tuổi.

(1) Edward Grieg (nhạc sĩ dương cầm và cũng là nhà soạn nhạc người Na Uy, 1834-1907) đã viết phần nhạc cảnh cho hai phân đoạn của đại nhạc kịch Peer Gynn của Henrik Ibsen (thi sĩ và kịch tác gia Na Uy, 1828-1906). “La Mort d’Aise” trích trong phân đoạn I và “Chanson de Solveig” trích ở phân đoạn II là những tác phẩm hay và được phổ biến sâu rộng trong dân gian Na Uy.

(2) Symphonie Inachevée, hòa tấu khúc cung Si thứ, được đánh giá là một trong những bản hòa tấu hay nhất của thời hiện đại, viết năm 1822 bởi soạn nhạc gia người Áo, Franz Schubert  (1797-1828).

(3) Symphonie Heroique, còn gọi là Eroica, hòa tấu khúc thứ ba cung Mi bémol, dành để biểu dương Bonaparte, được viết năm 1804 bởi Ludwig Beethoven, soạn nhạc gia người Đức (1770-1827)

(4)  Thơ Trần Nghi Hoàng.

(1) Không nhớ của ai?

(2) Thơ Cung Trầm Tưởng.

(3) Vincent van Gogh, danh họa người Hòa Lan (1853-1890). Bức Au soir de la Vie (Hoàng Hôn của Cuộc Đời) được vẽ ra vào năm 1889.

(4) Nguyễn Thâm Tâm, thi sĩ thời tiền chiến.

(5) Không nhớ của ai?