Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>



 

 

 

XVIII

 

            Paris. Người ta bảo “Trái đất tròn!” quả thật đúng.

            Một buổi chiều ở Paris, tôi gặp lại hai người bạn lúc còn đi học sau gần hai mươi năm cách xa biền biệt. Bây giờ họ là chồng vợ của nhau. Tình bạn thuở thiếu thời tưởng đà phôi pha theo năm tháng, nhưng thật thì không đúng. Trong các câu chuyện vẫn còn có một sự chân thành ẩn hiện. Trong những lần hội ngộ vẫn lóe lên nét vui trên mắt mỗi người. Dẫu vậy, giữa tôi và họ lại có một điều vô cùng dị biệt: hai người bạn tôi hiện đang là đoàn viên trong hội Việt Kiều Yêu Nước, một hội đoàn của những sinh viên Việt Nam du học thân Cộng Sản; còn tôi, một người vì Cộng Sản mà bỏ nước ra đi! Tuy nhiên, trong các lần viếng thăm nhau, hầu như cả ba đều cố tránh không cho các câu chuyện dẫn đến đề tài chính trị. (Thực ra, trong sâu thẳm tâm tư, chính trị phe phái là những điều chẳng khi nào khiến tôi phải bận tâm.)

            Một dịp, tôi được hai người bạn mời đến dự buổi vui như lệ thường mỗi cuối tuần của hội Việt Kiều Yêu Nước. Cuộc vui tổ chức đơn giản trong căn phòng được mướn làm trụ sở của hội, rộng vừa đủ cho độ ba chục người. Một cái bàn dài kê sát tường, trên để thức ăn, nước uống. Mỗi người tự chọn lấy khẩu phần cho mình rồi tản ra mọi nơi trong căn phòng rộng. Những món ăn đặc biệt Việt Nam được giới thiệu là do các người phụ nữ trong hội góp phần nấu nướng. Nơi góc phòng kê một cái máy truyền hình cho đám trẻ con vừa ăn vừa xem.

            Khách tham dự độ ba chục người. Tất cả đều ăn vận xuề xòa. Ai nhìn thấy tôi cũng gật đầu chào thân mật. Trong số bọn họ, có vài người tôi biết mặt: những người có địa vị và đời sống vững chắc ở Paris.

            Các người đàn bà ngồi lại với nhau trong một góc. Các vị đàn ông vừa ăn uống vừa trò chuyện. Những đề tài về khoa học tiến bộ, thi ca, văn chương… được đưa ra hào hứng. Tuy nhiên với đề tài chính trị, tôi lại nghe họ phô bày một cách e dè, thể như họ chỉ muốn nhắn gửi riêng với nhau mà thôi.

            Nhìn vào các người hiện diện vừa nam vừa nữ, cả người lớn lẫn trẻ nhỏ, tôi cảm nhận được ngay sự thân mật của họ đối với nhau như trong một gia đình lớn. Cái đại gia đình mà một kẻ lạ như tôi, muốn chen chân vào, sẽ phải qua biết bao thử thách cam go.

            Tôi rời buổi vui của Hội Việt Kiều Yêu Nước lúc 9 giờ đêm khi mọi người vừa bắt đầu phần uống trà, café kế tiếp. Cảm giác lạc lõng đã có từ lúc mới hiện diện trong cuộc vui vẫn còn đeo đuổi lấy tôi khi đã ra ngoài đường phố vắng tanh. Tôi nhớ đến buổi hội 30 tháng Tư đêm nào đã dự. Trong óc không khỏi lóe lên nỗi chua chát mà tự kết luận với chính mình: “Những người Cộng Sản khéo léo một cách thành thật để (có thể) dối lừa cả thế giới. Trong khi những người thuộc phía gọi là Quốc Gia thì lại vênh váo một cách vụng về để tự lừa dối chính bản thân!”

 

 

            Giữa tháng 4/1980.

            Lưu diễn Ban Mê Thuộc, tỉnh Đắc Lắc.

            Tỉnh Đắc Lắc ở trên cao nguyên Đắc Lắc, một trong ba cao nguyên lớn của vùng Tây Nguyên; bắc giáp tỉnh Gia Lai & Kontum; nam giáp tỉnh Sông Bé và tỉnh Lâm Đồng; đông giáp tỉnh Phú Khánh; tây giáp nước Cam Bốt với đường biên giới dài trên 200km. Độ cao trung bình ở vùng này là 500m so với mặt biển.

            Từ Nha Trang, đoàn dẫn thẳng ra Ninh Hòa, Dục Mỹ, rồi vòng qua quốc lộ 21 dẫn lên Ban Mê Thuột. Một lần trước 1975, tôi đã có dịp đến đây; nhưng trong cái nhìn khi ấy, Ban Mê Thuột chẳng gợi lên trong tôi cảm nghĩ thích thú nào. Trời mưa làm phố phường nhơ nhớp, lại thêm chuyến đi chớp nhoáng hai ngày không đủ thiếu vào đâu, đã khiến cho tôi bỏ qua một cơ hội tìm hiểu về cái xứ buồn muôn thuở ấy.

            Bây giờ trở lại, khắp không gian, nét buồn vẫn còn dầy đặc. Những con đường đất đỏ đầy bụi. Mây trên trời lơ lửng lang thang. Những người Ra-đê ngồi ngay đầu chợ, bày ra những cái lồng chim, lồng sáo. Trên vai họ khoác hờ chiếc áo rách, khuôn mặt chịu đựng, buồn rầu.

            .. .. ..

            Nửa đêm tan hát, khí trời lành lạnh làm cho tôi và hai người bạn thốt nhiên thèm rượu. Nên, ghé vào một quán vắng bên đường, chúng tôi ngồi “ẩm tửu” quàng xiên. Một người bạn đọc cho nghe hai câu thơ mà tôi nhớ liền ngay được một:          

            “Người ơi! Người ơi! Đừng làm mây!”

            Câu thơ nghe vật vã lạ kỳ. Một câu thơ vô nghĩa, nhưng bốn chữ “người ơi, người ơi” sao thật gọi mời thê thảm khiến hồn tôi như chùng lại. Tôi liên tưởng đến hình ảnh một người tay bịt hai tai, bỏ tháng ngày chạy mãi, không nghe những tiếng gọi sau lưng. (Và làm sao mà không chạy cho được? Thiên hạ gần điên cả rồi! Chạy, cho dù để vỡ tan. Ở một chỗ cũng vỡ tan, nhưng ít ra trong tư thế chạy, sẽ không phải thảng thốt lắm với tiếng nổ bất trắc nào đó…)

            Đêm Ban Mê Thuột lạnh và hao gầy quá! Người bạn hừng chí đọc cho nghe những câu thơ rũ rượi buồn:

            Nửa đêm nằm mộng thấy sao rơi

            Ta biết người đang ở cuối trời

            Ới những đám mây còn lãng tử

            Xin để hồn chùng trong đêm khơi(1)

            Tôi nghe lơ mơ trong hồn mình một mối sầu giăng mắc. Và hình dung ra sự giăng mắc ấy giống như một lớp bụi ngàn năm, nằm lặng im khép kín đến độ tàn nhẫn trong một ngôi nhà hoang phế đã lâu.

            Một sáng người đi theo mây bay

            Ta say nằm lạnh với đêm dài

            Tỉnh ra thấy cụm hoa đầu ngõ

            Ta vẫn còn, hay nỗi tàn phai?(2) 

            Quán rượu nửa đêm bỗng như đang ở vào một tháng năm nào xa vời diệu vợi lắm; nơi ấy, không khí cô đọng và bước chân cơ hồ bay bổng, nhẹ tênh; mỗi khắc trôi qua là cả một năm dài đằng đẵng khiến con người có đủ thì giờ uống cả ngàn vò rượu và rồi thiêm thiếp trong giấc mộng suốt cả mùa Đông.

            Đêm với gió lạnh buốt ở Ban Mê Thuột, màu đèn vàng từ chiếc quán hắt ra như hứa hẹn cùng những con người đang co ro qua đường một khoảng không gian ấm áp, gần gũi. Chúng tôi –những người khách cuối cùng—ngồi thu hình trong bóng tối chập chờn như những con ma. Bàn ghế nằm trơ vơ trong dáng điệu buồn phiền mệt mỏi. Cái đồng hồ treo trên tường buông ra những tiếng thở dài lạnh ngắt!

            Rồi đêm cũng khuya. Rồi rượu cũng vơi. Rồi chúng tôi cũng đứng lên từ biệt quán. Chỉ còn dừng lại bên đường, dưới làn ánh sáng bệnh hoạn là cái cột đèn, lẻ loi đơn chiếc hơn bao giờ hết.

            []

 

 

            Paris.

            “Mà thật, ta đã khóc quá nhiều

            Tất cả bình minh đều chua xót

            Cả ánh nguyệt cũng đau đớn

            Và vầng thái dương ngây ngất đắng cay.”

            (Mais, vrai, j’ai trop pleuré

            les aubes sont navrantes

            toute lune est atrocé

            et tout soleil amer…)

            (A. Rimbaud)(*)

 

 

            Giữa tháng 4/1980.

            Lưu diễn Pleiku, thuộc tỉnh Gia Lai & Kontum.

            Dãy Trường Sơn đến ngang tỉnh Nghĩa Bình thì tách làm ba chi. Chi phía đông ra gần biển Nam Hải, đi qua các tỉnh  Nghĩa Bình, Phú Khánh. Hai chi kia đi xa ra về phía tây, bọc lấy miền Tây Nguyên. Tây Nguyên gồm ba đám cao nguyên lớn: Kontum--Gia Lai; Đắc Lắc và Lâm Đồng. Cao nguyên Kontum--Gia Lai ở phía bắc, ngang với tỉnh Nghĩa Bình, gồm các tỉnh Gia Lai và Kontum cũ gom chung lại; bắc giáp tỉnh Quảng Nam--Đà Nẵng; nam giáp tỉnh Đắc Lắc; đông giáp tỉnh Nghĩa Bình; tây giáp hai nước Lào và Cam Bốt. Pleiku là tỉnh lỵ chính của tỉnh Gia Lai--Kontum.

            Từ lâu, có vài lần tôi theo chuyến bay của một người bạn phi công để đến vùng đất sương mù đã đi vào thi ca ấy. Tuy nhiên, từ sau biến cố 75, đây mới là lần thứ nhất tôi trở lại Pleiku. Thành phố khởi đầu cho cuộc đổi đời quan trọng, mở ra một trang sử mới của đất nước kể từ khi quân đội Việt Nam Cộng Hòa rút khỏi nơi đây, ngày 17/3/1975.

            Bây giờ, bước chân lại trên những con dốc núi, tôi nghe trong lòng dậy lên một nỗi ngậm ngùi mang mang. Từ 5 năm qua, thời thế đã đổi thay, bánh xe lịch sử đã quay tàn khốc. Nhưng còn ký ức con người thì làm sao quên được những kỷ niệm đau buồn?

            Trong các ngôi nhà của người dân địa phương, hầu như nhà nào cũng có bàn thờ với di ảnh những người đã chết trong cuộc tản cư năm cũ. Biết bao thảm cảnh đau lòng chúng tôi đã được kể cho nghe.

            Một bà mẹ nách bên lưng ba đứa con dại mà đứa nhỏ nhất đang còn phải bế. Bốn mẹ con theo đoàn người di tản trên liên tỉnh lộ 14 về hướng Phú Bổn, Tuy Hòa. Đói khát, nhọc mệt đã làm cho đứa nhỏ nhất phải chết. Người mẹ cứ vậy mà ôm thây con đi theo trên một quãng đường xa. Đến một lúc không thể được nữa, bà đặt đứa bé đã chết xuống bên mép một con đường, rồi vừa lùi bước theo đoàn người di tản, bà vừa hướng mắt về xác con mà vái lạy…

            Một bà mẹ khác gánh trên vai đôi gióng, hai đầu thúng có hai đứa con nhỏ ngồi ở trong. Cũng trên liên tỉnh lộ 14, tất tả thế nào mà khi qua một chặng đường đèo, đứa con lớn 3 tuổi đã văng xuống vực sâu trong đêm tối.

            .. .. ..

            Giòng lịch sử đã cuốn xuôi, vô tình như nước chảy qua cầu; nhưng trong tâm tư mỗi người dân Pleiku, hình ảnh kinh hoàng của cuộc tản cư ngày cũ cơ hồ còn vương vất. Thời gian năm năm chưa đủ để xóa nhòa bao đau đớn. Thời gian hầu như cũng không làm đầy được những mất mát mà chiến tranh vẫn còn lưu lại trong tỉnh lỵ hoang liêu. Các con phố dốc cao không còn mang cái vẻ trữ tình khi ngày nay đã vắng đi rất nhiều quán cà-phê ấm áp. Các con đường chứa đầy màu xám hơi sương cũng không còn sinh động khi đã hết rồi những bộ áo hoa rừng đây đó lang thang…  
 

            Năm ngày ở Pleiku, tôi thường cùng người bạn chơi trom- pette đi vẩn vơ ngắm nhìn phố thị. Từng áng mây chiều lần lượt trôi về chân trời tím không làm cho Pleiku trở nên thơ mộng nữa, mà chỉ càng rũ héo hơn tâm tư những con người đã phải khóc đến khô đôi giòng lệ trong cuộc đổi đời tàn khốc. Thành phố của quán cà-phê và của lính một thời vang bóng, ngày nay chỉ còn là một thị trấn chết với cái khí hậu mùa đông quanh năm.

            Tất cả đã đổi thay. Tất cả không còn gì theo với giòng cuốn hút của Thời Gian và Lịch Sử. Có còn chăng chỉ là bầu trời rưng rưng chực khóc. Và có còn chăng vẫn là những con dốc mù sương ngàn đời giá rét, đứng nhìn bao dâu bể tang thương!

            []

 



(1) Thơ Chơn Hạnh.

(2) Thơ Chơn Hạnh.

(*)Arthur Rimbaud, thi sĩ Pháp (1854-1891). Những câu thơ trên được trích trong bài “le Bateau ivre” của ông.

 

Bài 18