Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

  

 

XVII

 

            Paris. Một cuộc đụng độ giữa hai băng đảng Việt Nam và Ả Rập xẩy ra gần Gare du Nord vào buổi chiều, nơi tôi vẫn đi qua hằng ngày trước khi đến quán café làm việc. Có nhiều tiếng súng nổ. Dân đi đường phải nép vào các góc phố để tránh đạn. Cảnh sát được huy động đến. Ba người bị bắt, hai thanh niên Việt Nam và một thanh niên Ả Rập; còn tất cả chạy thoát. Nơi “bãi chiến trường”, một xác chết Ả Rập nằm im lìm, trơ trọi.

            Từ trên thành xe buýt nhìn xuống, tôi nhận ra mặt một thanh niên Việt Nam bị còng dẫn đi. 24 tuổi, cầm đầu một nhóm trai gái bỏ nhà đi hoang tuổi từ 18 trở xuống, chàng trai này được coi là phần tử nguy hiểm của cộng đồng người Việt tại đây.

            Cạnh bên một số không ít các thanh niên gương mẫu, cũng còn có những thanh niên hư hỏng, hoang đàng. Nhóm thanh niên này tụ họp với nhau thành băng đảng trộm cắp, thậm chí còn nhúng tay vào cả việc giết người, cướp của. Điều này đã làm lo ngại không ít cho những bậc cha mẹ có con em trong tuổi còn đi học. Ở các buổi dạ vũ do các hội đoàn người Việt tị nạn tổ chức, cuộc kết thúc bao giờ cũng là một màn xung đột đến đẫm máu giữa vài cá nhân hay vài băng nhóm thanh niên. Nguyên nhân từ đâu là điều ít ai được rõ. Chỉ thấy rằng bất cứ hành động hay lời nói nào của các vị khách đến dự cũng dễ dàng tạo ra gây hấn cho những con người được xem là bất hảo tại đây.

            Trong một buổi dạ vũ, tôi có dịp chuyện trò với một thanh niên bị liệt vào thành phần bất hảo. Điều đầu tiên nhận xét là anh rất nhỏ nhẹ lễ phép để khó có thể ngờ rằng con dao bấm trong tay anh sẵn sàng phóng tới một người nào đó anh “không vừa mắt”.

            Trong cuộc chuyện trò, tôi nghe anh nói: “Em biết là tất cả mọi người trong cộng đồng đều ghê tởm em. Nhưng em cóc cần. Tử tế thì em để yên, không thì em phá.”

            Và anh cũng tâm sự: “Mẹ em đi lấy Mỹ từ khi em còn bé, bỏ em và đứa em gái lại cho ông nội nuôi. Từ 8 tuổi mà em đã biết làm đủ thứ nghề để sống, bán báo, đánh giày, bán cà rem, thậm chí còn phải đi móc túi nữa. Năm 1979, em 18 tuổi, làm lơ xe đò đường Rạch Giá – Cần Thơ nên bắt được một mối vượt biên. Người ta cho hai anh em em theo ghe bởi vì em đã giúp họ một nơi tá túc mỗi lần xuống Rạch Giá. Trên biển, tàu bị hải tặc Thái Lan cướp, nhiều người chết. Đứa em nhỏ 15 tuổi bị hiếp rồi quăng xuống biển. Chỉ có em và độ chục người nữa nhờ chui xuống hầm tàu mà sống sót. Bây giờ em là một tên du đãng, ai cũng ghê tởm em, nhưng em cóc cần! Tử tế thì em để yên, không thì em phá.”

            Câu sau cùng, anh lập lại vài lần với cái vẻ hằn học, dữ tợn.

            Tôi nghe lòng buồn  buồn. Bất cứ sự việc gì cũng đều có nguyên nhân và hậu quả của nó. Hạnh phúc hay đau khổ đều có “cái giá” phải trả; và cái giá này do chính con người làm ra chứ không phải là do số mệnh.

 

 

            Tháng 3/1980, lưu diễn Phan Rang, tỉnh Thuận Hải.

            Thuận Hải là giải đất cuối cùng của miền Trung nước Việt, lưng dựa vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, mặt nhìn ra biển Nam Hải mênh mông. Sau 1975, tỉnh Thuận Hải gồm các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận và Phước Tuy cũ gom chung lại, bắc giáp tỉnh Phú Khánh; nam giáp tỉnh Đồng Nai; tây giáp tỉnh Lâm Đồng; đông là biển Nam Hải.

            .. .. ..

            Giã từ Dalat là tôi như cũng giã từ luôn những kỷ niệm êm đềm trong quá khứ. Tâm trạng của chàng Armand Duval khi cho quật mồ nàng Marguerite Gautier trong tác phẩm Dame aux Camélias, tôi hiểu rất rõ bởi vì chính tôi cũng đang làm cái hành động “quật mồ” đối với Dalat hôm nay.

            Giờ đây, khi chiếc xe đoàn bắt đầu lăn bánh, thành phố hộp quẹt và ngọn gió thân mật vồn vã ấy sẽ chỉ còn là kỷ niệm! Cái gì rồi cũng biến thành kỷ niệm, và suốt đời con người chỉ phí hoài thì giờ để hoài vọng, xuýt xoa cho kỷ niệm mà thôi.

            Thị xã Phan Rang được dựng trên bờ sông Cái, cách biển 5km. Vùng này nhiều cát, ngay trong phố cũng lắm cát. Người dân Phan Rang thường bị bệnh đỏ mắt do bởi gió cát thổi vào. Từ thị xã cách 6km về hướng tây là ga Tháp Chàm; đường xe lửa từ miền Bắc đổ về qua đây rồi đi thẳng vào Nam. Quanh ga đã thành một vùng dân cư đông đảo. Trước mặt ga là một khu tháp của người Chiêm Thành, xây trên ngọn đồi thấp từ thế kỷ thứ 8 với đường nét kiến trúc đậm đà, sắc thái uy nghi.

            Đến Phan Rang thì đã xế trưa. Trời nóng và khô làm cho tôi càng nhớ nhiều hơn mùi thơm của những rừng thông và cái lạnh Dalat. Dễ có đến 10 năm rồi tôi mới trở lại đây. Ngày xưa, trong buổi vào đời tươi thắm nhất, tôi nhớ rằng mình cũng đã yêu Phan Rang dường nào! Thành phố nhỏ hiền hòa mang đầy nét lãng mạn đã gợi lên trong tôi rất nhiều xúc động. Những cái tháp Chàm tuế nguyệt trơ gan, nhìn giòng đời ngược xuôi trên quốc lộ chính. Cả một lịch sử nhiều đời của chế độ mẫu hệ chỉ còn ghi dấu lại trên những di tích hoang tàn. Và những người dân Hời sống âm thầm ngay trên chính đất nước họ một thời lừng lẫy. Những người dân Hời có điệu hát buồn như tiếng cuốc kêu sương!

            .. .. ..

            Cũng ngày xưa trong cái tuổi đôi mươi đầy thanh khiết, tôi nhớ rằng mình cũng đã biết yêu! Tình yêu cho một thanh niên Chàm –bạn thân cùng lớp với người anh lớn của tôi- đã không giống bất cứ mối tình nào trong đời tôi đã gặp. Tôi hòa nhập nỗi đau thương của dân tộc Chàm với nỗi cô đơn vời vợi trên đôi mắt anh để mà suy tưởng. Tôi trộn lẫn khuôn mặt cương nghị với hoài bão trong tim anh vào trong mỗi giấc mơ của mình. Cái hoài bão dành lại đất Chàm mà hơn một lần hai anh em tôi được nghe anh thổ lộ… Cái hoài bão ấy, theo tôi, thật là vô vọng, nhưng cũng tạo nên trong tôi một sự kính trọng dường nào.

            Sự giao thiệp giữa anh và gia đình tôi đậm đà, nhưng tình thân anh đối với riêng tôi không ra ngoài phạm vi của một người anh lớn. Vì vậy mà cho đến buổi cuối cùng của cuộc đời anh, một đêm trong tháng Năm có những cơn mưa giông làm se lòng những người lính tác chiến, khi viên đạn vô tình ghim vào giữa trán anh nơi chiến trường Quảng Trị xa xôi, năm 1967, anh cũng vẫn không hề biết rằng tôi đã yêu anh!

            Phan Rang đi vào kỷ niệm đời đời của tôi từ khi ấy.

            .. .. ..

            Giờ đây trở lại sau mười năm cuộc đời đã qua nhiều khúc rẽ, thành phố nhỏ vẫn chỉ gợi lên trong tôi một nỗi u hoài. Hai hàng cây sao từ đầu quốc lộ dẫn vào thị xã im lìm rũ bóng. Và cái dư âm dĩ vãng như cũng rũ xuống giữa một giòng đời vội vã ngược xuôi.

            Mười năm không phải là không có những tang thương dâu bể. Vậy mà trong trí tưởng riêng, cảm nghĩ của cái tâm hồn ngây thơ ngày trước vẫn không thay đổi mấy. Tôi vẫn cứ nhìn thấy ngay trong hiện tại một quá khứ nào xa xôi mù mịt. Vẫn cứ mường tượng đâu đó những oan hồn Chàm vất vưởng giữa con nước đời cuồn cuộn chảy xuôi. Thành quách đổ nát như còn vang lừng tiếng gươm đao, ngựa hí. Và trong cuộc chết vĩnh viễn của dân tộc Chàm theo giòng lịch sử, một quá khứ kiêu hùng vẫn cứ sống còn trên vùng đất hiu hắt buồn tênh.

            Nét đặc thù của Phan Rang trong cái nhìn của tôi chính là như vậy.

            []

 

 

            Paris. Mẹ tôi có vẻ buồn khi càng lúc cái hướng đi Mỹ của tôi càng thêm rõ nét. Tuy vậy, bà không ngăn cản dù biết là tôi phải đi một mình, không có bà và không cả đứa con trai.

            Bà chỉ nói ngậm ngùi mỗi lần câu chuyện đi Mỹ của tôi được đề cập tới: “Mẹ cứ tưởng bỏ Việt Nam sang đây là được xum vầy cùng con cái, nào ngờ mỗi đứa một phương, xa xôi cách trở”.

            Đây là điều đau đớn nhất của bà mà tôi được biết.

            Thể chất mẹ tôi vốn gầy yếu, và sự gầy yếu càng rõ rệt hơn từ ngày bà sống kiếp tha hương. Tôi hiểu bà thất vọng. Sự thất vọng không phải phát sinh từ cái nhìn cụ thể về một thế giới Tây Phương xa lạ, mà chính là sự “đoàn tụ” đã không thật sự đến như ý mong mỏi của bà.

            Giờ đây trong anh em chúng tôi, mỗi người định cư một nước; còn bà thì lại loay hoay với không gian nhỏ hẹp của bốn bức tường trong một thành phố quanh năm giá lạnh. Đàn chim con đã đủ lông đủ cánh, nhưng dẫu có muốn bay về thăm mẹ, cũng thật khó lòng… Giờ lại đến phiên tôi, đứa con cuối cùng bỏ bà mà đi.

            Trong trái tim già nua ấy, tôi biết rằng đã có một nỗi buồn vô kể. Quê hương, xóm làng, thân thích, bà con… đều chỉ là những danh từ ẩn nấp dưới một nơi nào trong ký ức; mà thật, hình ảnh đám con mới là điểm rõ rệt để bà nghĩ đến thường xuyên. Tình thương con bao la mà hơn 40 năm bà đã trải, bây giờ vẫn không suy xuyển. Lúc nào dưới mắt bà, chúng tôi cũng đều là những đứa trẻ thơ, và lúc nào bà cũng vẫn còn trông chờ cho con một hạnh phúc.

            Sự mất tích của đứa em gái út trong chuyến vượt biển hơn 5 năm trước chưa kịp nhòa phai trong tâm thức thì lại cái tâm trạng “một cảnh hai, ba quê” làm bà đau đớn từng khi. Đã nhiều lần tôi nhìn thấy mẹ tôi ngồi thẫn thờ nhìn ra bầu trời mây xám, và nhiều lần tôi bắt gặp một giọt lệ ứa ra trong đôi mắt già nua mỗi khi nghe một chút đau khổ nào trong cuộc sống chúng tôi.

            Tôi hiểu, nhưng không biết làm gì cho đúng? Cái định mệnh chia ly không phải chỉ riêng chúng tôi đón nhận, mà nó còn giáng xuống trên cả một dân tộc hơn bảy chục triệu người. Chia ly trên đủ mọi mặt, trong cái chết và trong cuộc sống. Chia ly giữa kẻ ở người đi và chia ly luôn cả trên những hình thức “gia đình đoàn tụ”.

            Khía cạnh nào cũng có vấn đề khổ đau của nó. Tôi nghĩ, hay hơn hết chỉ là “đối diện.”

 

 

            Đầu tháng 4/1980, hát Cam Ranh, tỉnh Phú Khánh.

            Năm 1965, đang lúc chiến cuộc Nam-Bắc Việt Nam diễn ra sôi động thì chính phủ Lyndon Johnson của Hoa Kỳ cho đổ thêm nửa triệu quân Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Nửa triệu quân này được phân phối đi khắp các vùng Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Tín, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Nha Trang, miền cao nguyên và miền đông Nam Việt. Riêng tại Cam Ranh có lữ đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ được điều động đến. Vùng vịnh Cam Ranh thời gian ấy bỗng dưng trở nên náo nhiệt. Ngang Cây Số Chín, các bar rượu mọc lên như nấm. Những cô gái làng chơi từ nhiều nơi tụ tập về đây. Đất Cam Ranh biến thành một trong những vùng có nhiều gái chơi và lính Mỹ nhất trên toàn quốc. Luôn một số cô gái gia đình đàng hoàng cũng không thoát được sự cám dỗ của vật chất mà những người Mỹ trú đóng tại đây đưa ra.

            .. .. ..

            Đầu tháng 4/1980, đoàn dừng bến tại Cam Ranh, thị xã khô cằn nắng cháy nằm trên đường quốc lộ I. Cam Ranh bây giờ khác hẳn với Cam Ranh của thời 1965-68. Phố xá buồn thiu tẻ ngắt. Ngang Cây Số Chín chỉ còn vài ba quán nước lèo tèo. Khu chợ nhỏ với vài quán cơm gần ngã ba đường quốc lộ dẫn vào Đá Bạc là còn biểu tượng được chút nào sinh động. Trước sân quán, những đứa trẻ lai đùa giỡn một cách vô tư.

            Tổ Tân Nhạc được cắt đặt cư trú trong một ngôi nhà của dân địa phương nằm sát ngay quốc lộ. Mỗi đêm trở về từ rạp hát, vài người trong bọn chúng tôi vẫn có thói quen ngồi ngoài sân ngôi nhà trọ nhìn ra đường vắng. Nơi đây ban ngày được dùng làm chỗ bán cà-phê, nước ngọt; ban đêm chỉ còn trơ lại hai băng ghế dài chân chôn sâu dưới đất. Vài đứa trẻ lai bụi đời thường đến đây ngủ lại. Có đứa nằm trên ghế, có đứa nằm dưới đất, khô đét, cong queo.

            Cam Ranh mùa này đã sắp vào hạ nhưng ban đêm lại có rất nhiều gió. Bên hông ngôi nhà trọ là một bụi chuối lớn, mỗi lần cơn gió thoảng qua làm lung lay bụi chuối, lại tạo nên một thứ âm thanh man mác não lòng. Con đường quốc lộ vắng hoe, thăm thẳm. Chúng tôi ngồi chuyện trò nhỏ giọng, cố không làm kinh động giấc ngủ các đứa trẻ. Trong tâm tư tôi dấy lên mối buồn phiền vô cớ khi nhìn các đứa trẻ nằm trơ vơ không mền không gối. Một trong những dấu vết còn lưu lại từ sau cuộc chiến tranh do người Mỹ điều động, chủ mưu.

            Kể từ sau cuộc rút quân khỏi miền Nam Việt Nam năm 1973, số con lai do người Mỹ và quân đội đồng minh để lại không phải là ít. Trắng có, đen có, Phi Luật Tân, Đại Hàn… xứ nào cũng có. Theo thời gian, những đứa trẻ này lớn lên. Dù sống chung âm thầm đầy mặc cảm trong gia đình với mẹ và một người cha kế cùng những đứa em mang giòng máu Việt; hay sống vất vưởng bụi đời nơi các trà đình tửu quán thì chúng vẫn phải tự sinh tồn, hiện hữu. Và dẫu rằng có được xã hội lưu tâm đến bao nhiêu, những đứa trẻ này vẫn cảm nghe cách biệt với xã hội. Sự hòa nhập bên ngoài chỉ là phương cách tự vệ để sống. Từ trong sâu thẳm tâm tư, hai chữ quê hương đối với những đứa trẻ lai này đã bị phân tán đi một nửa.

            .. .. ..

            Những đêm ở Cam Ranh, bọn chúng tôi vẫn ngồi với nhau nơi chiếc quán trống trơn nằm kề quốc lộ. Các đứa trẻ lai vẫn nằm ngủ vô tư. Thỉnh thoảng tiếng mớ “má ơi!” trong cơn mê của một đứa nào đó làm cho trái tim tôi cơ hồ thắt lại. Những nỗi buồn phiền vô cớ trong tâm hồn lại được dịp vỡ toang ra.

            []

 

 

            Paris. Một lần vào khoảng giữa tháng Tư dương lịch, tôi nhận được tấm thiệp mời với hàng tít “Đêm Uất Hận Và Quốc Kháng” do một hội đoàn người Việt ở Paris gửi đến. Buổi tổ chức được ghi vào đêm 30 tháng 4 tại hội trường… lúc 19 giờ 30.

            Ngày 30/4, đất trời bỗng dưng chuyển mình ấm áp. Mùa Xuân trở về xua đuổi khí lạnh của mùa đông. Khi tôi đến hội trường thì đã 7 giờ rưỡi tối. Ngỡ rằng trễ, hóa ra tôi lại là một trong những người đến sớm nhất. Hàng chữ to “Đêm Uất Hận Và Quốc Kháng” viết bằng sơn trắng trên nền vải đen treo ngay tiền đình đập vào mắt làm tôi hơi khựng. Ngay cửa ra vào, những người trong ban tổ chức đứng thành hàng, mặc com-plê màu thẫm. Trên ve áo sơ-mi của từng người có gắn một miếng băng đen nhỏ. Tôi thốt rùng mình tưởng như đang đến dự một cái đám ma!

            Bên trong khán phòng, người ta đang lăng xăng treo cờ treo quạt. Bàn ghế được sắp bày ngay ngắn. Đàng trước sàn khiêu vũ là sân khấu. Các vị nhạc công đang sửa soạn đồ nghề, khí cụ. Thỉnh thoảng tiếng vang chát chúa phát ra từ một cái micro nào đó làm đinh tai nhức óc những người hiện diện. Tiếng “testing 1 testing 2” của người nhạc sĩ đang điều chỉnh âm thanh dội lên khắp hội trường.

            Tám giờ, rồi tám giờ rưỡi và cho mãi đến chín giờ, các vị quan khách mới lao xao xuất hiện. Từng cặp đi với nhau, son phấn lượt là, áo quần đúng mốt. Ai nấy tươi cười hớn hở. Tiếng chào hỏi nhau vang lên thân mật. Những bàn tay đưa ra bắt lấy bàn tay.

            Chỉ trong nháy mắt, hội trường đầy kín các vị khách tham dự. Tiếng nhạc từ sân khấu bắt đầu tấu lên nho nhỏ. Buổi lễ chào cờ vừa chấm dứt là phần văn nghệ bắt đầu ngay. Các màn đơn ca, hợp ca, múa, xiếc lần lượt được biểu diễn và kéo dài suốt hai tiếng đồng hồ sau đó. Mỗi lần xong một tiết mục là tiếng vỗ tay lại nồng nhiệt vang lên.

            Phần kế tiếp và cũng quan trọng hơn là khiêu vũ. Khi tiếng nhạc vừa bắt đầu nổi lên một bản paso hùng tráng, các cặp nam nữ tự động từ bàn mình đứng lên. Họ dìu nhau ra sàn nhảy. Họ lướt đi theo điệu nhạc. Những cái váy rộng cuốn theo hướng quay của một bản valse quý phái. Những cái mông lắc léo tới lui theo một khúc rumba nhẹ nhàng… Không khí hội trường tưng bừng nhộn nhịp. Người ta đi lui đi tới từ bàn mình ra sàn nhảy rồi qua quầy bán nước ngọt. Người ta trò chuyện với nhau bằng tiếng Việt xen lẫn tiếng Tây; giữa các câu chuyện là những tràng cười vui thú tự do.

            Nơi góc xa sàn nhảy nhất, kế bên chỗ tôi ngồi, có một nhóm đàn ông đang luận bàn với nhau về những vấn đề liên quan đến thời cuộc, chính trị. Các từ ngữ “phục quốc, yêu nước, kháng chiến, chống Cộng…” được nhắc đi nhắc lại giữa những cốc rượu đưa lên mời nhau. Tôi nghe một ông trong bọn nói: “Tình hình hôm nay đã chín muồi, bọn Cộng Sản đang băng rã. Nhưng muốn thắng chúng nó, chúng ta cần phải hy sinh cho đất nước, dân tộc…”

            Chai cognac và chiếc sô đá để trên bàn lặng lờ ngắm họ. Bàn bên này, tôi cũng cố lắng tai nghe trong tiếng nhạc ồn ào cái phương cách “hy sinh như thế nào” mà họ sẽ đưa ra. Tuy vậy, cho mãi đến khuya, tôi cũng chẳng nghe thêm gì khác. Ai trong bọn cũng tranh nói, ai cũng có những ý kiến tuyệt hảo về việc phục quốc, kiến tạo đất nước để có một tương lai Việt Nam hùng mạnh ngang hàng với các siêu cường quốc tế… Nhưng giải pháp “hy sinh” mà vị khách nọ đề ra trước đó thì hầu như đã bị bỏ quên ngay sau khi vừa bật ra khỏi miệng ông ta.

            Tôi rời buổi hội khiêu vũ lúc gần hai giờ sáng. Chuyến xe buýt đã quá giờ nên không còn chạy nữa. Tôi cũng không nghĩ đến điều đón một chiếc taxi để về nhà cho chóng. Vì vậy, tôi cứ lần bước đi giữa đường khuya vắng lặng, hít thở không khí trong lành của một Paris khi đã ngủ yên vào trong lồng ngực. Hình ảnh buổi hội của đêm 30 tháng 4 tan nhanh trong trí nhớ.

            Những điều không thực sự giá trị đều dễ dàng mai một với Thời Gian.

 

 

            Tháng 4/1980. Lưu diễn Nha Trang.

            Hơn tất cả mọi vùng biển khác, Nha Trang là nơi tôi đến rất nhiều lần. Từ mùa hè đầu tiên năm 7 tuổi theo gia đình đáp xe lửa đi Nha Trang, thành phố êm đềm này đã để lại một ấn tượng đậm đà trong ký ức tôi suốt thời gian dài sau đó.

            Chuyến xe lửa đêm mới diệu kỳ làm sao với một đứa bé thơ lên bảy! (Sau này, nhiều chuyến xe lửa khác đã đến trong cuộc đời, nhưng cái cảm giác say sưa của thuở thiếu thời xa xăm đó thì không bao giờ tôi còn tìm thấy nữa.)

            Từ 6 giờ chiều, chúng tôi đã có mặt ở sân ga. Một thế giới đầy quyến rũ mở ra trước đôi mắt to thơ dại. Hơn cả gia đình với bầu không khí lặng yên vây phủ, nơi con người khó tìm được thú vui nào khác ngoài âm nhạc và sách vở; hơn cả học đường với nỗi lo sợ luôn luôn đối với thầy giáo và với các người bạn dữ dằn, phá phách, sân ga Sàigòn đã làm cho trí tưởng tượng của tôi đi xa, đi xa hơn trên những vùng trời khoáng đạt, tự do. (Tôi yêu tiếng còi tàu, những nhà ga và những chuyến đi không ngừng kể từ khi ấy.)

            7 giờ tối, đoàn xe lửa uốn mình về hướng Nha Trang. Lòng tôi nôn nao theo từng nhịp quay của những chiếc bánh lăn tròn trên đường sắt. Trái tim đập đều theo tiếng vọng xập xình liên tục không nguôi.

            Trọn một đêm, tôi không ngủ giấc nào. Những nhà ga nhỏ hiện ra dưới ngọn đèn vàng hắt hiu buồn bã. Tiếng còi tàu rú lên và lại tiếng bước chân người lao xao ồ ạt. Những đốm lửa than từ chiếc đầu máy bay ngược ra sau rồi tan trong bóng tối. Ánh sáng trên mình những con đom đóm chiếu ra lập lòe như những bóng ma trơi. Khi bình minh vừa ló dạng, tàu tới Phan Rang. Những tia nắng ban mai bắt đầu hiện ra trên đồng ruộng xám, soi lên vũng nước đục có con trâu đang lười biếng trầm mình. Trên bờ đê, các người Chàm đứng nhìn đoàn tàu đi qua với nét mặt lặng lờ câm nín. Hơi muối ngạt ngào quấn quýt không gian. (Tất cả những điều này tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ, kéo dài và tồn tại trong tâm hồn tôi cho đến lúc trưởng thành, như những hình ảnh đẹp.)

            Khi tôi lên chín, cha tôi qua đời vì một chứng ung thư. Gia đình phân ly từ khi ấy. Tuổi thơ tôi là một chuỗi dài những dòng tâm sự cô đơn viết đầy trong nhật ký về đời sống của một đứa bé thiếu tình cha và thiếu luôn bàn tay săn sóc cận kề của mẹ. Một đời sống buồn tẻ bị quản thúc bởi một ông cậu cứng rắn gắt gao và một bà mợ hững hờ đến gần như lạnh nhạt. Mỗi năm, tôi chỉ được gặp mẹ tôi cùng các anh em khác trong hai dịp Tết và nghỉ hè. Công việc làm ăn đã giữ chân bà lại Nha Trang. Vì vậy mà vô tình suốt 9 tháng ngồi trong lớp học, Nha Trang đã biến thành một nơi chốn đợi chờ thân yêu cho tôi.

            Cũng ngày xưa, trong các dịp nghỉ hè, những đêm Nha Trang đã để lại trong đầu tôi những hình ảnh xiết bao lãng mạn! (Tôi mang trong đời cái tật thức khuya để nghe ngóng thời gian trôi đi cũng do từ những đêm Nha Trang của thời tuổi nhỏ.)

            Ngồi nơi hành lang lầu hai ngôi nhà bà ngoại tôi –nằm ngay bùng binh đầu đường quốc lộ I- tôi nhìn bao quát các dãy phố im lìm trong giấc ngủ nửa khuya. Giòng đèn đường chiếu ra thứ ánh sáng nhạt nhòa trắng bệch làm không gian trở nên xanh lướt. Vài người bộ hành rảo bước trong đêm, tiếng gót giày vang trên phố vắng cái âm điệu khô khan, đều đều.

            Dưới mắt tôi, Nha Trang bỗng nhiên nhuốm đầy vẻ liêu trai huyền hoặc, càng nhiều hơn khi tiếng rao của một chị bán hàng nào đó cất lên, văng vẳng: “Bánh ú, hột vịt lộn đây!” Tôi yêu Nha Trang phần lớn chính là từ những tiếng rao ấy, xa vời, chịu đựng.

            Giữa đường khuya giá lạnh, hình ảnh một người đàn bà quảy trên vai đôi gióng thúng, chiếc đèn dầu con máng nơi đầu gánh tỏa ra thứ ánh sáng lập lòe, mờ ảo… trông sao thật vô cùng tội nghiệp! Tuy nhiên, đó cũng chính là hình ảnh đẹp nhất, lãng mạn nhất của Nha Trang mà tôi đã tìm ra. Một thế giới về đêm đang bừng sống. Thế giới của những con người khốn khổ lang thang. Những con người giữa khuya vẫn còn đem mồ hôi đi bán, đem giấc ngủ đổi lấy miếng ăn hàng ngày. Cái thế giới ấy đã đeo đuổi quyến rũ tôi suốt thời tuổi nhỏ… (Để rồi sau bao nhiêu năm, khi đã vào đời, tôi nhiều lần đặt chân lên các thành phố khác, vậy mà vẫn không thấy nơi nào có cái hương vị lãng mạn cho bằng những đêm Nha Trang qua tiếng rao và hình ảnh các người đàn bà gánh đôi gióng thúng, rảo bước giữa khuya…)

            []

 

 

            Paris. Thư viết cho Hạnh.

            Hạnh thương nhớ,

            Em kể cho Hạnh nghe tâm trạng này. Một đêm, lúc hai giờ sáng, sau khi từ giã buổi hội khiêu vũ do một hội đoàn Việt Nam ở Paris tổ chức, em đón xe buýt trở về. Chuyến xe đã quá giờ nên không còn chạy nữa. Thế là em thả bộ một mình giữa đường khuya Paris.

            Đêm mùa Xuân trời se se lạnh. Một nguồn hứng cảm tự nhiên tuôn ập vào người. Em không mảy may nghĩ đến điều đón một chiếc taxi để về nhà cho chóng. Cứ vậy mà đi từ khu phố sang trọng rực rỡ ánh đèn đến vài khu phố nghèo tối tăm buồn bã. Em cũng đi qua những quán rượu vẫn còn ồn ào tiếng nhạc. Vài cô gái ăn sương đứng đón khách giữa khuya nơi các ngõ hẻm, làm phô bày một trong những bộ mặt bi thảm nhất của Paris.

            Nơi khu đất trống, có một nhóm người vừa Ả Rập vừa Pháp đứng tụm lại chung quanh chiếc thùng phuy từ dưới đáy dội lên ánh lửa. Những bàn tay đưa ra sưởi ấm. Những câu chuyện rộn rã như tiếng lửa bén cháy các thứ rác rến mà họ quăng vào giữa thùng. Gần đó là một người đàn ông da đen trung niên đang ngồi trên thềm quán rượu, thổi lên những điệu kèn saxo ténor ai oán. Bài hát của Enrico Macias có những câu thế này: "J'ai perdu mon pays. J'ai quitté ma maison. Ma vie, ma triste vie se traine sans raison..." (Tôi đã mất quê hương. Tôi từ bỏ nhà xưa. Đời tôi, cuộc đời buồn thảm kéo dài lê thê không định hướng...) làm trái tim em cơ hồ nhức nhối. Tuy nhiên, tự đâu đó trong em trỗi dậy nguồn cảm hứng thật sự. Hạnh ạ, tâm trạng thèm muốn tự do mà em hoài mong bao nhiêu lâu đã đến với em khoảnh khắc bước đi một mình giữa đường khuya Paris.

            Không phải là thứ tự do cụ thể đuợc tìm thấy sau những năm dài sống trong hai triều đại đất nước mang đầy tính chất kềm tỏa trên nhiều mặt. Cũng không là sự tự do ao ước của một tâm hồn nổi loạn lúc nào cũng muốn vượt thoát ra ngoài những định luật xã hội, gia đình... Điều em muốn phô bày ở đây là "sự tự do đúng nghĩa trong trái tim người nghệ sĩ." Một sự cởi thoát hoàn toàn mọi điều ràng buộc tinh thần và cả thân xác trong hơn ba mươi năm đã sống; giống như đứa trẻ thơ lần đầu đứng trước một thế giới lạ kỳ nhiều màu sắc, tâm trạng dẫn nhanh từ sự sững sờ chiêm ngưỡng qua đến nỗi thích thú say mê.

            Hạnh thương nhớ, em viết cho Hạnh tâm trạng này chỉ là để chia xẻ với Hạnh cái điều mà chúng mình từng đề cập: "Thế nào là định nghĩa về một người nghệ sĩ?" Bây giờ em đáp: "Một người nghệ sĩ thật ra chỉ là một đứa trẻ thơ!"

            Hơn ba mươi năm sống, nhiều lúc em tưởng mình mang định mệnh của một người nghệ sĩ mà thật là không đúng. Chỉ một lúc nào thôi, như cái đêm đi bộ qua các con đường ở Paris, em mới chợt nhận thức ra, "để trở nên một nghệ sĩ, điều cần thiết là còn được mang tâm hồn trong trắng của một đứa trẻ thơ."

            Thương mến.

 

 

            Nha Trang.

            Đoàn hát ở rạp Tân Quang, nằm một góc chênh chếch giữa Quang Trung và Yersin dẫn về phía biển. Một phần đời rất đẹp của tôi trong cái thời tuổi trẻ giang hồ đã trải qua tại đây. Tôi yêu con đường Quang Trung thân mật có ngôi nhà mẹ tôi nằm ngay đầu ngõ. Tôi cũng yêu những bước một mình trên phố vắng Yersin. Yêu những buổi chiều lang thang trên con đường biển, cũng bằng như yêu những tối lạnh trời thả bộ ra Ga. Ôi! Những con đường thân thương trong quá khứ! Những con đường của một thuở vàng son khi cuộc đời còn ngây ngất màu xanh!

            Người bạn chơi trompette rủ tôi đi dạo một vòng quanh phố. Tôi bèn làm hướng đạo viên cho anh trong một nơi chốn mà anh chưa đến bao giờ.

            Buổi chiều, chúng tôi ngồi với nhau trong chiếc quán ven đường Hai Chùa, nhìn ra phố thị. Những hàng quán im ỉm ngủ quên. Những bác phu già đạp chiếc xe uể oải. Đường phố hầu như chìm trong hoang lạnh. Nhưng còn giọt nắng mùa hè thì vẫn không đổi sắc, từ ngày xưa cho đến ngày sau.

            Nét mặt người bạn tôi như dường thích thú. Nha Trang đã làm ngạc nhiên cho anh; và anh không giấu sự ngạc nhiên này trong những tiếng kêu thảng thốt. Còn tôi thì cúi đầu, hình dung lại Nha Trang của một thời quá khứ xa xôi... Ngày xưa trong ý nghĩ tôi, Nha Trang rất đẹp. Cái đẹp của nó không chỉ bao gồm trong biển rộng trời cao, mà còn vì cái "chất thơ" bàng bạc mơ hồ trên từng nơi từng chốn. Dalat kiêu sa bao nhiêu như một thiếu phụ trong khuê lầu đài các thì Nha Trang lại vẽ nên bấy nhiêu cái dáng dấp khinh khoát của một gã giang hồ!

            Buổi chiều, ngồi trên bờ biển, tôi cúi nhìn những con dã tràng mỏng manh nhỏ bé. Từng đợt sóng nối tiếp nhau xô mạnh vào bờ. Và bỗng dưng, nghe nhớ sao là nhớ cái thuở khom mình chạy theo những con dã tràng trên cát. Ôi! Những con dã tràng làm chuyện phí hoài (giống như tuổi trẻ của tôi!)

            Buổi chiều, màu xanh của trời và biển làm không gian bỗng như tươi thắm. Tôi nhắm mắt cố tìm một chút màu xanh trong trái tim nhưng vẫn hoài công. Một trang đời đã được lật qua từ mười năm trước. Một trang đời, tôi đang viết dở dang!...

            Mười năm trôi qua, biết bao tang thương dâu bể, vậy mà trong tôi, kỷ niệm về một người bạn vẫn cứ còn hiện hữu. Tiếng kèn trompette cất lên. Những người lính bồng súng chào chiếc quan tài có phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Người cha già cúi đầu. Người mẹ gầy vật vã trong tiếng nấc từng cơn. Một cái huyệt nhỏ nằm trơ vơ bên kia cầu Hà Ra, giữa vùng núi đồi bát ngát. Nơi yên nghỉ cuối cùng của người bạn rất thân khóa 25 Thủ Đức đã từ trần trên chiến trường Quảng Ngãi một ngày đã xa...

            Và mười năm chưa đủ xóa nhòa dư âm của mối tình đau khổ cũ. Một canh bài trong cuộc chơi tay ba mà từ lúc khởi đầu tôi đã biết rằng chỉ có mình là kẻ phải thua! Những đêm mất ngủ ngồi cúi đầu luồn tay trong tóc để nghe lòng khít khao đau đớn. Những ngày thả bộ một mình trên bãi vắng, cố tìm cho ra đáp số cuộc chơi...

            Những ngày Nha Trang, tôi đã ngụy tạo cho mình cái vẻ bề ngoài bình thản trong khi cả tâm hồn đang làm bão tố. Và tôi đi tìm thời gian đã mất bên cạnh một người bạn không biết gì về quá khứ của tôi. Chúng tôi đi qua trên nhiều con phố. Càng lúc người bạn càng tỏ ra rất nhiều ngạc nhiên. Anh thật thà bày tỏ: "Nha Trang đẹp quá! Tôi không ngờ trong quê hương lại có một thành phố tuyệt vời như vậy!"

            Còn tôi, sự tuyệt vời của Nha Trang ẩn tàng ngay trong những điều bình thường nhất: một con phố buồn, một mảng trời xanh, một tiếng rao mơ hồ giữa đêm thanh vắng, hay ngọn gió gầy từ biển cả thổi về làm rét mướt trái tim...

            Gió theo trăng từ biển thổi qua non

            Buồn theo gió lan xa từng thoáng rợn...

            (Gió đâu có buồn, mà chỉ vì gió qua biển rộng non cao, không gian lớn quá nên cái buồn cũng lan theo gió. Tôi đâu có buồn, nhưng chỉ vì kỷ niệm trở về đã làm cho tôi buồn đó thôi!)

            Những ngày xưa, thời gian gần Tết, tôi ưa thích lang thang trên con đường Độc Lập kéo dài qua Phan Bội Châu rồi dẫn ra đầu bãi biển. Và chỉ thời gian gần Tết, tôi mới cho rằng Nha Trang tuyệt vời hơn hết trong ngọn gió mùa Đông. Gió mang mang lan tràn trên phố. Gió sắt se như tiếng biển thở dài. Gió nồng nàn đượm màu muối mặn. Và gió buồn rầu như tiếng còi tàu báo hiệu sắp ra khơi.

            Những ngày xưa! Ôi! Những câu chuyện ngày xưa bao giờ cũng nên thơ, và cũng đẹp!

            []

 

Bài 17