Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

 

 

 

 

XVI

 

            Paris. Các “vần thơ” nhỏ của tôi:

Bốn câu:

            Mang mang bên song cửa

            Ngọn gió gầy thoảng đưa

            Ngây ngây mùi tháng Chạp

            Trời Sàigòn năm xưa...

Tám câu:

            Nửa đời trôi phiêu bạt

            Gió trên ngàn vẫn ru

            Con dế già vẫn hát

            Điệu ca buồn thiên thu

 

            Nửa đời như mây trắng

            Bàn tay còn xanh xao

            Mười ngón gầy bi tráng

            Níu cuộc đời lao đao

 

 

            Đầu tháng 3/1980, hát Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

            Từ Sàigòn, chúng tôi thẳng theo quốc lộ 20 dẫn lên miền núi. Điểm đến đầu tiên là Di Linh, thuộc tỉnh Lâm Đồng. Tỉnh Lâm Đồng là cao nguyên thứ ba và cao nhất của miền Tây Nguyên (hai cao nguyên kia là Kontum-Gia Lai và Đắc Lắc), bắc giáp tỉnh Đắc Lắc, đông và nam giáp các tỉnh Phú Khánh và Thuận Hải; tây và nam giáp các tỉnh Sông Bé và Đồng Nai.

            Di Linh là trị trấn xây trên cao nguyên Di Linh, về phía nam của tỉnh Lâm Đồng, cao 1.010m. Nơi đây, cư dân đa số là người Mạ, một trong các sắc tộc thiểu số, sinh sống bằng nghề trồng chè, cà phê; một số làm nghề săn bắn. Cách thị xã Di Linh 7km về phía Tây có ngọn thác Bô Bia cao 32m và trong vùng có ngôi đền thờ Kra Yo của người Chàm.

            .. .. ..

            Buổi chiều thứ hai ở Di Linh, tôi tìm đến thăm người bạn cũ, một trung úy phi công ngày trước. Sau bốn năm bị giam cầm trong các trại tù Cộng Sản, anh trở về Di Linh sống cùng cha mẹ già. Gặp tôi, anh mừng khôn xiết. Còn tôi thì lại kinh ngạc vì sự thay đổi quá độ trên vóc dáng anh. Trông anh gầy đi nhiều, khuôn mặt trầm xuống đầy vẻ chịu đựng. Hình ảnh một phi công hào hoa ngày trước, tôi và lũ bạn từng ngưỡng mộ, biến đâu hết cả. Tuy nhiên, giờ đây cái vẻ khép kín của anh lại làm cho người khác thấy dễ gần cận hơn.

            Tôi hỏi anh hiện đang làm gì?

            Anh cười nhẹ: "Tôi về vườn!" 

            "Trên nghĩa nào?"

            "Trên cả hai nghĩa đen và bóng."

            Buổi chiều Di Linh lạnh. Tôi và người bạn ngồi với nhau trước mái hiên, nhìn về hướng núi xa có màu lam thẫm. Làn khói trên các mái tranh của người dân thiểu số quyện tràn thương nhớ. Nỗi nhớ thương nào phủ xuống trên tôi và cả trên anh?

            Tôi hỏi người bạn có tính gì không cho tương lai sắp tới?     Anh lắc đầu: "Chắc chẳng tính gì đâu? Mà còn tính gì được nữa? Cả tuổi trẻ mình mất đi vì sự vô lý của một cuộc chiến kéo dài hơn một phần tư thế kỷ. Bốn năm tù đày cũng làm thui chột hết mọi mơ ước trong tôi."

            Rồi anh mỉm cười, vẻ buồn bã: "Hướng tương lai gần nhất nếu có chỉ là lấy vợ. Lấy ai cũng được, luôn cả các cô gái Thượng, bởi vì tôi là con một và cha mẹ tôi chỉ muốn có cháu để bế bồng."

            Anh giơ tay chỉ xa xa về đám rẫy sau lưng căn nhà:

            "Hiện tại tôi đã quen nhiều với đời sống lặng yên khép kín. Và tôi bằng lòng. Ở đây, tôi thấy gần gũi thiên nhiên, yêu quý từng ngọn cây, khóm cỏ, nâng niu từng sinh vật nhỏ bé. Mỗi buổi sáng đứng nhìn ra những luống chè óng ánh như rừng kim cương từ tia sáng của vầng thái dương rọi xuống, hay những buổi chiều ngồi ngắm các người dân thiểu số vác gùi trở về trên con đường hẹp, tôi cảm thấy mình thật giàu với những gì đang được thụ hưởng từ thiên nhiên."

            Tôi ái ngại nhìn anh, nhớ lại thuở nào anh là mẫu người ước mơ của nhiều cô gái, chàng phi công trẻ tuổi hào hoa, con trai độc nhất của một gia đình có đồn điền trà và café lớn nhất thị xã... Vậy mà ngày nay trông anh khiêm nhường quá, từ tư tưởng cho chí đến ngoài xác thân!

            Tôi hỏi anh nghĩ gì về bốn năm trong các trại tù Cộng Sản? Anh trả lời: "Một điều lạ là sau bốn năm học tập trở về, tôi thấy lòng mình bình lặng hẳn. Không oán hận và cũng chẳng nghe buồn bã. Cảm giác chỉ là sự rảnh tay trước một điều mình không thích nhưng vẫn bị buộc phải làm."

            Anh tiếp:

            "Chiến tranh! Ngay từ căn bản của hai chữ ấy đã chứa đầy vô lý. Và khi chung cuộc, tất phải có bên thắng bên thua. Cuộc chiến cùng màu da trong suốt ba mươi năm cũng thật tràn đầy vô lý. Nhưng giả thử nếu bây giờ ‘chúng ta thắng’ và ‘bên kia thua’ thì liệu chúng ta có ‘làm khác hơn’ những con người chiến thắng hiện nay? Tôi nghĩ là không. Vì vậy, suốt bốn năm trong các trại tù cải tạo, đâm ra bình lặng hẳn. Tuổi trẻ mình đã bị buộc phải hy sinh nhiều quá, giờ đây tôi không muốn hy sinh thêm nữa vì những điều vô lý, không lợi ích cho ai."

            .. .. ..

            Buổi chiều ở Di Linh, chúng tôi ngồi trước mái hiên, nhìn hoàng hôn bắt đầu giăng trên đồi núi. Tôi nhắc lại với anh kỷ niệm một lần được anh mời về đây chơi trong một dịp Giáng Sinh. Và nói: "Dạo ấy thoạt nhìn mà tôi đã mê ngay cái sườn đồi có ngôi nhà anh đang nằm trên đó."

            Anh cười: "Cũng dạo ấy, trong buổi họp mặt vui, một người bạn chúng ta đã ngâm lên những vần thơ của Yên Thao:

            Hỡi anh bộ đội

            Này bạn pháo binh

            Hãy rót cho khéo

            Kẻo nhầm nhà tôi

            Nhà tôi ở cuối thôn Đoài

            Có giàn thiên lý, có người tôi yêu..."

            Tôi nhìn anh, tưởng như vừa bắt gặp trong đôi mắt u trầm một thoáng vui nào đó...

            Bây giờ cái sườn đồi còn đây, ngôi nhà cũng còn đây với đầy vết đạn in hằn lỗ chỗ. Chiếc cổng rào xô lệch. Một bức vách thủng một lỗ to vì đạn pháo kích trong trận đánh cuối cùng tháng 3/1975. Người bạn cho tôi biết cha mẹ anh chẳng còn tiền để sửa sang lại ngôi nhà cho hoàn chỉnh. Anh nói thêm: "Luôn chính tôi cũng không muốn. Ngay dù bây giờ trông nó giống như một ngôi nhà hoang phế thì đối với tôi nó vẫn rất đẹp. Nét đặc thù của nó chính là, dẫu cho dấu vết chiến tranh in hằn trên mọi chỗ vẫn không làm cho cả ngôi nhà sụp đổ. Cũng như tôi, dù trải qua những điều vô lý nhất của chiến tranh, tôi vẫn còn tồn tại với chính tôi."

            []

 

 

            Paris. Một bản tin ngắn đọc trong một tờ báo Pháp:            

            "Theo hãng thông tấn Pháp AFP, Pháp đang đẩy mạnh cuộc quyên tiền để nghiên cứu về bệnh ung thư, một chứng bệnh đặc biệt phổ biến ở Pháp. Theo AFP thì hiện nay ở Pháp, cứ 5 người dân lại có một người chết vì bệnh ung thư. Và theo các chuyên gia Pháp, đến cuối thế kỷ này hoặc đầu thế kỷ tới, tình hình có thể còn tồi tệ hơn. Thậm chí, cứ ba người dân lại có một người chết vì ung thư. Những trường hợp mắc bệnh là do nguyên nhân từ bên ngoài nhiều hơn thiên bẩm. Nói chung, thuốc lá và rượu được coi là hai nguyên nhân chính gây nên bệnh trạng."

            .. .. ..

            Có một điều rằng, từ ngày bỏ Việt Nam ra đi, tôi không còn thích uống rượu nữa. Đôi lúc cũng thấy ngạc nhiên với chính mình điểm ấy. Không phải vì sợ ung thư như bản tin trên đã viết; lại càng không phải tiết kiệm tiền bạc; cũng không tin tưởng vào câu nói thường ngày của mẹ tôi: "Rượu chẳng giải quyết gì được!", vậy mà rõ ràng từ bao năm nay, tôi chẳng còn muốn uống một cốc rượu nào.

            Cái thuở sống càn khôn nghiêng lệch ngày xưa ấy đã không còn nữa. Giờ đây chỉ là an phận, lắng chìm, như cây đàn nằm im trong chiếc hộp gỗ, nhớ nhung những lúc vẫy vùng trong thế giới âm thanh!

            Hay có phải đã lâu tôi chẳng còn tìm ra được một Kinh Kha? Đã lâu không còn gặp một Giang Châu Tư Mã hiểu được bản chất Tì Bà nữ? Thuở trước, trong những quán rượu ở Sàigòn, ngồi nghiêng ly sóng sánh khi áng mây chiều đang chuyển dần sang màu tím, tôi thường được một người bạn đọc cho nghe các bài Hành, đặc biệt là bài Dịch Thủy Tống Biệt của Lạc Tân Vương mà anh biết tôi vô cùng yêu thích:

            "Thử địa biệt Yên Đan

            Tráng sĩ phát xung quan

            Tích thời nhân dĩ một

            Kim nhật thủy do hàn."

            (Nơi đây Kinh Kha từ biệt Thái tử Yên Đan

            Tóc tráng sĩ dựng ngược vì hùng khí bốc lên

            Người thời xưa đã khuất

            Nhưng nước hôm nay vẫn còn lạnh.)

            Giờ đây thiếu nhiều quá, dẫu có uống hoài cũng chẳng thấy say; có ngâm sang sảng cả ngàn bài cũng chỉ thấy lòng mù mờ, nặng nề như đám mây kia thôi!

 

 

            Dalat, tháng 3/1980.

            Sau Sàigòn, Dalat là thành phố đã chiếm trong tôi một vị trí rất lớn. Tôi yêu Dalat tự lúc nào không biết? Chỉ biết rằng từ cái thời xa lắc ngày xưa, khi cuốn nhật ký bắt đầu nằm trong cặp sách như một người bạn thiết, tôi đã viết đầy lên đó những trang cảm xúc về một thành phố mà tôi chỉ có thể đến trong các vụ nghỉ hè. Thành phố nhỏ có những dòng đèn đường, những con dốc thấp, những buổi chiều sương mù pha cùng gió lạnh với những chiếc quán lặng lẽ tịch liêu... được gói lại trong chiếc chậu úp bằng pha lê rất lớn. Thành phố buồn nằm trên một ngọn núi, cao 1.500 mét, quanh năm có gió gào, mưa khóc và những con người sống mà như đã chết. Cái thành phố lạnh lùng kiêu sa ấy vẫn có được một vị trí hiện diện trong tình cảm tôi dù ngay cả những lúc vắng mặt của nó. Tình cảm này khiến tôi quyết định chọn Dalat làm điểm đến đầu tiên trong tuổi vào đời.

            Có những tối trời thật lạnh, đi đàn về khuya, tay ôm violon, tay cầm điếu thuốc lá, tôi ghé vào một cái quán đóng cửa muộn, gọi một ly café và ngồi suy nghĩ xa xăm. Chiếc đèn mù mờ của quán hắt lên tường những mảng ánh sáng màu vàng thảng thốt. Từng hạt sương đêm bám lên cửa kính bên ngoài. Hai bên phố phường lắng dần trong giấc ngủ. Và trong khoảng không gian chập chờn lúc nửa đêm của chiếc quán café, mộng lẫn với thực, ma quái dắt tay thiên thần nhảy múa, đất trời thôi không xa cách một ly hào nào!

            Có những buổi sáng rét mướt làm mặt trời không chịu thức, tôi đón vội vàng chiếc xe đò Chi Lăng nơi phố chợ cho kịp giờ dạy đầu tiên. Một phần đời tôi trải dài với hai nghề nghiệp, hai lớp người liên hệ khác nhau trên con phố núi. Lũ học trò, các lớp dạy, con đường ra về có gốc cây khuynh diệp ngả nghiêng cành lá, hay con suối nhỏ róc rách dưới chân đồi... đã chiếm một vị trí ngất ngưởng trong kỷ niệm tôi, cũng bằng như sân khấu, ánh đèn và những tràng pháo tay rộn ràng của khán giả.

            Dalat đã đẹp với những buổi chiều vàng rơi trên ngọn đồi Cù lộng gió nhìn xuống Bờ Hồ lúc nào cũng rưng rưng như chực khóc, lại càng đẹp hơn trong những đêm trăng huyền ảo mơ màng. Nơi khu Cam Ly Thượng vào một đêm rằm nào đó, có ngồi cạnh bếp lửa nhìn ra cả một vùng núi đồi đắm chìm lung linh dưới bầu trời trăng sáng, mới thấy được rằng Thượng Đế quả thật công bình. Cạnh bên những đau thương đổ xuống từ thế hệ này sang thế hệ khác trong cả một chiều dài lịch sử, đôi bàn tay nhẹ nhàng của Ngài cũng đã vẽ nên những nét đẹp lạ lùng cho giải đất Việt Nam. Một đêm trăng huyền hoặc nơi vùng núi đồi Cam Ly Thượng là biểu tượng gần nhất cho cái Đẹp ấy. Trời Dalat lạnh như ướp đá. Những nóc nhà tranh bé nhỏ của các người Dân Tộc nằm san sát cạnh nhau; trên các tấm kính vuông, từng luồng ánh sáng hắt ra, thân mật dịu dàng như mùi thơm của giàn thiên lý bám nơi đầu ngõ. Trên dốc cao, những cành cây khuynh diệp nghiêng ngả cười đùa...

            Đêm thật rờn rợn với tiếng gào ai oán của dòng thác Cam Ly đổ về từ đỉnh núi. Đêm cũng rất buồn rầu theo tiếng cú rúc dài như đưa tiễn một linh hồn vừa từ giã trần gian. Và đêm cũng không kém mơ màng khi ngàn thông trên đồi rủ nhau cao tiếng hát. Nhưng, đêm đã thật đẹp lạ lùng trong luồng sáng dịu dàng bí mật của trăng.

            Tôi yêu Dalat, phần nữa có lẽ vì đã yêu ngôi nhà trọ của mình, một biệt thự nhỏ cuối đường Hoàng Diệu dẫn ra vùng núi đồi Cam Ly Thượng. Một quãng đời hoa mộng nhất của tôi đã kết tụ nên trong căn nhà trọ này. Ở đây, trong những buổi chiều rưng rưng mây xám, tôi ưa thích ngồi bên cửa sổ nhìn ra khu gia cư của các người dân thiểu số. Những làn khói lam trên các mái tranh tản mác ra, mờ ảo. Từng luống khoai nằm lặng im bên cạnh cụm hoa cúc vàng. Vài người đàn bà ngồi ngoài hiên gọt bắp, dáng vẻ hiền lành chịu đựng. Những đứa trẻ con chạy nhảy nô đùa, trên mình phong phanh chiếc áo laine bết bùn, rách nát...

            Cũng tại đây, trong căn biệt thự cuối đường vào những đêm trăng, ngồi bên bếp lửa, tôi nhìn ra vùng đồi núi Cam Ly. Dalat đẹp quá, nhưng cũng huyền bí quá! Luồng ánh sáng mơ màng chan hòa trên triền núi, rớt xuống dòng thác lạnh căm và soi trên những lối mòn đầy lá. Trong cái màu lung linh bàng bạc ấy, tôi bỗng liên tưởng đến nỗi cô đơn ngàn kiếp của chị Hằng Nga. Tôi yêu chị Hằng từ khi còn rất bé qua giọng kể chuyện thầm thì của mẹ tôi. Một đêm trăng sáng trong vườn, giữa lúc chị Hằng đang cười đùa ca hát thì bỗng đâu có mũi tên bay vào ghim giữa ngực. Mũi tên định mệnh của Hậu Nghệ đã không làm cho chị Hằng chết và sợi dây tơ hồng oan nghiệt của ông lão ngồi dưới trăng vẫn cứ buộc chặt hai người...

            Từ thuở bé mà tôi đã biết tưởng tượng ra nỗi buồn vô cùng trong tim người con gái bất hạnh khi ngồi trên mây cao nhớ về dương thế. Để rồi cho đến lúc lớn lên, đọc Thúy Kiều của Nguyễn Du, đọc Marguerite Gautier của một nhà văn Pháp, tôi có say mê, thương cảm, nhưng cũng không bằng sự thương cảm dành cho chị Hằng trong chuỗi ngày thơ.

            Bao năm trôi qua mà niềm cảm thương này vẫn cứ còn vương vất. Cứ mỗi mùa trăng là tôi lại thấy lòng mình quạnh quẽ, u buồn. Tôi hiểu nỗi cô đơn của chị Hằng qua luồng ánh sáng trải dài trong đêm vắng. Tôi cũng hiểu chính mình qua cái tâm hồn không ngừng say mê cái Đẹp của thiên nhiên. Và trong cuộc đời đã nhiều lần tôi tìm ra cái Đẹp. Một trong những cái Đẹp vô cùng ấy chính là hình ảnh một đêm trăng huyền ảo trên con phố núi cao 1.500 mét trong giải đất quê hương.

            []

 

 

            Paris. Viết cho Hạnh.

            Hạnh thương nhớ,

            Em viết cho Hạnh trên một ghế đá trong vườn Luxem- bourg vào buổi chiều được nghỉ làm như thường lệ. Lá vàng rơi đầy trên các lối nhỏ. Đám mây trên trời tụ, tán bâng quơ. Mùa thu đã về rồi Hạnh ạ. “Mùa thu Paris”… như bài thơ của Cung Trầm Tưởng mà thuở còn đi học, chúng mình vẫn ưa thích đọc cho nhau nghe.

            Hạnh thương nhớ,

            Đọc lá thư vừa nhận, em rất xót xa theo những rối bời trong tâm tư bạn mình mà không có cách gì xẻ chia cụ thể. Giờ đây em tự biết không đủ thẩm quyền để nói ra một lời khuyên nào với bất cứ ai về sự ở lại hay ra đi khỏi quê hương. Cũng không ai làm được điều ấy. Nên với Hạnh cũng vậy, em xin không dám có lời khuyên.

            Hạnh có nhớ cái đề luận mà bà giáo Việt Văn đã ra ngày xưa, khi chúng mình còn ngồi ở lớp Đệ Nhị: “Hãy kể về một sự việc quan trọng đã gặp trong đời rồi dẫn giải ra những kinh nghiệm đi kèm sau đó.”

            Hẳn nhiên là em cắn bút theo một đề tài hơi có vẻ “rắc rối tơ lòng”! Mười bảy tuổi thì làm gì có kinh nghiệm; vậy mà em cũng đã viết bừa được một bài luận dài đến 4 trang!

            Lúc này nghĩ lại, em thật tức cười với những tư tưởng ngây ngô ngày ấy. Giờ đây, khi cuộc đời đã tạm gọi là chín muồi, em mới thấy rằng chẳng có kinh nghiệm nào giống kinh nghiệm nào. Bởi vì, ngay trong chính một con người, thời gian buổi chiều và thời gian buổi sáng cũng đã có nhiều biến chuyển tâm hồn rất cách biệt; nói gì ai khác?

            Vậy thì, với những nỗi ưu tư mà Hạnh đang muốn trông chờ vào “kinh nghiệm” của em, em không dám bàn đến. Cả em và Hạnh đều đủ chững chạc để biết mình muốn gì và làm được gì cho cuộc đời mỗi đứa. Hơn ba mươi năm sống, những bước chân mình sẽ không còn dễ dàng vấp té nữa như lúc đôi mươi.

            Em cầu chúc Hạnh may mắn và hài lòng với những sắp xếp, cho dù ra đi hay ở lại.

            Thương mến.

 

 

            Dalat, ngày lưu diễn thứ hai.

            Đi trên phố cũ mà lòng rưng rưng tê buốt. Dalat đã thay đổi quá nhiều. Dù rằng bầu trời vẫn buồn như khóc, mây xám giăng phủ chập chùng, mặt hồ trơ trơ câm nín và gió trên ngàn vẫn hát điệu thiên thu... nhưng dường như tất cả đã bị cơn lốc thời gian làm cho quay cuồng điên đảo.

            Buổi chiều, trời có chút nắng vàng nhè nhẹ. Tôi bước vào một quán rượu nhỏ gần căn nhà trọ ngày nào, ngồi nhìn những bức tranh Tàu, những câu đối chữ Nho lồng trong khung kính. Vài người khách ngồi ở cái bàn đối diện đang đề huề đối ẩm. Tiếng khà bật ra từ trong cổ họng sau mỗi lần tiếng cốc chạm nhau. Nơi đây cũng còn nhiều tay hiền nhân quân tử thất thời lỡ vận. Một ông lão người Tàu đã ngà ngà say, tay cầm chiếc gậy có khắc hai câu thơ của Lý Bạch(1) "Xử thế nhược đại mộng. Hồ vi lao kỳ sinh" (Ở trong đời ví như trong một giấc mộng lớn. Làm chi cho cuộc sống vất vả nhọc nhằn?), tay kia dắt con chó nhỏ lông vàng. Tôi nghe trang hảo hán này nói với bà chủ quán -cũng người Tàu- rằng chiều nay ông không có tiền mua rượu (nên xin mua chịu của bà) nhưng vẫn nhất định không bán con chó nhỏ với giá 50 triệu! Ông gọi con vật là Kim Mao Cẩu Vương và cười hề hề!...

            Tôi trở ngược lên phố, vác theo tấm lòng tả tơi rách rưới như một thứ hành lý nặng cân nhất. Con-đường-của-những-kẻ-cô-đơn (như ngày xưa tôi thường gọi) vẫn nằm im lìm trên đồi Cù tím. Vài người Thượng cúi mình lượm củi, chiếc gùi đeo trên lưng trông giống như một khối buồn thảm bám lên cuộc đời. Những chùm cỏ dại bao quanh cụm hoa cúc trắng, phất phơ cười đùa trong gió. Những chùm cỏ dại mà ngày xưa tôi vẫn gọi là "chùm thạch thảo" như trong thơ của Apollinaire(2)

            L' adieu!

            J' ai cueilli ce brin de bruyère

            L' automne est morte souviens-t' en

            Nous ne nous verrons plus sur terre

            Odeur du temps brin de bruyère

            Et souviens-toi que je t' attends.

(Vĩnh biệt!

Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo

Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi

Đôi chúng ta sẽ không còn gặp nhau nữa

trên cõi đời này

Hương thời gian ngát mùi thạch thảo

Và em hãy nhớ rằng ta vẫn chờ em!)

           

            Buổi chiều đi trên phố cũ mà hồn như giăng đầy mây xám. Dalat đã buồn, nay lại càng ray rức buồn hơn. Làm sao còn tìm thấy được những ngày đầu hôm nắng quái? Làm sao tìm ra nữa hình ảnh một du tử lang thang khinh thế ngạo đời? Nắng vàng buổi ấy sao tươi thắm quá! Bây giờ chỉ còn là một đống kỷ niệm lộn xộn nằm váng vất giữa hồn. Một triều đại đã đi vào bóng tối. Chỉ có con người là nhân chứng chua xót nhất của cuộc biển dâu, ngồi vật vã rấm rứt khóc trước những đổi thay tàn khốc của thời gian.

            Cù hạng tứ khai mê cựu tích

            Quản huyền nhất biến tạp tân thanh.

            (Đường sá mở ra bốn bề làm lạc dấu xưa

            Đàn sáo nhất loạt thay đổi, thế vào những âm thanh mới) (3)

            Nguyễn Du 200 trăm năm trước, khi làm xong bài thơ Thăng Long Thành Hoài Cổ, đã quăng bút, ngồi đọc lại, tay vò đầu, âm thầm khóc cho cái chuyện "mê cựu tích""tạp tân thanh" ở trên. Ông khóc, và cuối cùng mang nỗi khổ tâm xuống tuyền đài. Hết!

            []

 

 

            Paris. Bài thơ của Vũ Hoàng Chương, đọc tình cờ trong một tờ báo Việt Nam, ai đó để lại trên bàn của quán café. Bài thơ nằm trong tờ báo, lẻ loi giữa một chồng báo Pháp lộn xộn, cũng giống như con người tôi đang trơ trọi len mình vào giữa một xã hội quay cuồng đảo điên.

            “Ôi! Lòng ta sao buồn khôn nguôi

            Niềm u uất trôi theo tháng ngày buông xuôi

            Há vì cơm áo chẳng no lành

            Há vì đời không ai mắt xanh

            Thuở chưa có ta đường đi thênh thênh

            Kịp khi có ta đường gai chông chênh

            Ôm hoài vọng mà thôi

            Tình yêu còn đâu nữa

            Xuân đời chưa hưởng kịp

            Mây mùa thu đã sang!”

 

 

            Dalat, ngày lưu diễn thứ ba, buổi chiều.

            Gặp một người bạn cũ và nghe được tin tức về những người bạn cũ khác. Có người đã bỏ đi ngoại quốc. Có người còn ở lại Dalat. Có người di chuyển xuống đồng bằng. Lại cũng có người vào rừng chiến đấu. Trong lớp thứ tư, có nhiều người bạn quen vẫn cùng tôi chào nhau trên con phố núi: những chiến sĩ của Lực Lượng 204 Trinh Sát Dalat.

            Cơ hội nào đã khiến tôi biến thành bạn của vị chỉ huy –thiếu tá P.- và một vài anh em khác trong đơn vị này, tôi cũng chẳng nhớ. Chỉ nhớ rằng trong suốt thời gian ở Dalat, họ đã là những người bạn tốt của tôi. Cái tiếng xấu “kiêu binh” thật sự không làm tôi sợ hãi; thay vào đó, những thành tích diệt giặc của họ được đồn đãi khắp nơi đã khiến tôi nể phục thật nhiều.

            Tháng 3/1975, Dalat hoang mang vô kể. Dân chúng lũ lượt gánh gồng, giã từ con phố núi. Thời gian tháng Ba đau buồn ấy, sau một quyết định bất ngờ, tôi ở lại vùng đất đã được mình chọn lựa. Mỗi sáng từ Cây Số Sáu Nguyễn Hoàng, tôi thả bộ ra phố, nhìn Dalat bùng lên trong cơn sốt di tản và mỗi chiều lại trở nên lạnh vắng hơn bao giờ.

            Chiều ngày 27/3/1975, tôi lang thang trên phố như một kẻ vô hồn. Hình ảnh chiếc molotova trên có một Thượng Úy Việt Cộng bị cột đứng –nằm im lìm nơi bãi cỏ con dốc Lê Đại Hành, giữa một hàng rào người đang nhìn ngó- đã đúng là một cái gì vô cùng mỉa mai đối với những chiến thắng không ngừng của quân đội Bắc Việt đang tràn vào miền Nam khi ấy. Một chiến công của Lực Lượng 204 Trinh Sát trong trận đánh cuối cùng ở Di Linh. Lòng tôi chợt ấm khi nhớ đến những người bạn quen trong đơn vị nổi tiếng này, những chiến sĩ gan dạ vẫn chiến đấu đến giờ phút gần tàn của một cuộc chiến kéo dài đã hơn một phần tư thế kỷ.

            Nửa đêm 1/4/1975, một cuộc di tản lớn của quân đội VNCH tại Dalat âm thầm diễn ra về hướng Đơn Dương. Thành phố bị bỏ ngõ và bắt đầu rối loạn từ đây. Kho đạn Võ Bị và Cam Ly bị thiêu hủy, suốt đêm vang rền tiếng nổ. Một số lớn dân chúng Dalat cũng theo quân đội mà ra đi. Duy chỉ có đơn vị 204 của Thiếu tá P. đang đóng ở Di Linh là bị bỏ rơi lại. Di Linh cũng thất thủ sau đó như bao nhiêu thành phố khác từ vĩ tuyến 17 trở vào, nên những “kiêu binh” này rút vào rừng, tiếp tục cuộc chiến đấu đơn độc từ đây…

             .. .. ..

            Buổi chiều trở về chốn cũ, tôi đứng lại trên triền dốc Ngọc Lan, đúng vào vị trí năm nào đã đứng để nhìn xuống bến xe đò đầy những con người vội vã ra đi. Trời Dalat lành lạnh, mây giăng thấp và buồn ngàn đời. Những-khuôn-mặt-của-một-thời-Dalat đã không còn hiện diện trên con phố núi, nhưng kỷ niệm cũ càng vẫn cứ ngàn đời còn ngủ im trong ký ức tôi.

            []

 

 



(1) Lý Bạch, thi hào đời nhà Đường, Trung Hoa.

(2) Guillaume Apollinaire, thi sĩ người Pháp gốc Ý (cha Ý, mẹ Ba Lan), sinh ở Rome 1880 và chết ở Paris 1918. Bài thơ l’Adieu ở trên được trích trong tập Alcools của ông.

(3) Trích bài Thăng Long Thành Hoài Cổ của Nguyễn Du.

  

 

Bài 16