Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

  

 

 

XIV

 

            Paris. Khi biết ra ý định đi Mỹ của tôi, Daniel có vẻ buồn. Anh đã nói sau đó trong một buổi tập dượt: “Có thể rằng cô có lý, nhưng nếu là tôi, tôi sẽ chọn Âu Châu để bắt đầu lại một cuộc đời khác, hơn là nước Mỹ.”

            Tôi hỏi tại sao? Anh giải thích:

            “Nước Mỹ đặt giá trị vật chất lên hàng đầu sẽ không thích hợp được với những con người có một truyền thống tình cảm lâu dài như người Việt Nam. Ở đây, cô sẽ thoải mái hơn trong một nền văn hóa và phong tục có những điểm tương đồng với xứ sở cô.”

            Tôi đáp rằng đồng ý với anh tất cả những điều vừa nói, nhưng giờ đây tôi không có quyền sống riêng cho chính tôi nữa. Tương lai của đứa con tôi mới là vấn đề quan trọng.

            Và tôi tiếp: “Người Việt Nam lưu vong chúng tôi không chỉ nghĩ đến miếng cơm manh áo, mà còn phải nghĩ đến những cái gì xa hơn, liên quan đến đất nước dân tộc. Với tôi, một người đã sống 7 năm dưới chế độ Cộng Sản và trong một xứ nghèo đứng hàng thứ ba thế giới như xứ sở tôi thì bất cứ nơi nào khác trên quả địa cầu này cũng không còn quan trọng nữa trong cái nhìn về vật chất. Nhưng còn con tôi, cũng như tất cả những đứa trẻ Việt Nam khác cần phải được nuôi nấng, học hành đầy đủ. Tương lai dân tộc tôi trông mong phần lớn vào những đứa trẻ ấy.”

            Rồi tôi kết luận: “Tôi yêu nước Pháp và nền văn hóa đẹp đẽ lâu đời của nước Pháp, nhưng ở đây, tôi không hy vọng dư dả để có đủ tiền cho con tôi vào đại học. Một nước Mỹ giàu có sẽ có thể khá hơn cho chúng tôi trong vấn đề này. Cái kiếp lưu vong không thể kéo dài mãi mãi. Phải nghĩ đến một ngày trở về. Và trong ngày trở về ấy, dù cách gì chăng nữa, lớp thế hệ đi sau cũng sẽ rất cần thiết cho dân tộc tôi.”

 

 

            Sàigòn tháng 10/1979.

            Những trận mưa cuối cùng trong mùa tuy không còn dầm dề rả rích như dạo tháng Năm, cũng vẫn làm cho Sàigòn mang bộ mặt ướt át, sùi sụt cả ngày.

            Tôi nhận tin một cậu học trò cũ đã chết. Những lời thiết tha trăn trối trước phút lâm chung của cậu đã chính là những cú gõ mạnh lên sợi giây tình cảm trong trái tim tôi. Ước vọng cuối cùng là phải có ai đó đến tìm để báo cho tôi biết rằng cậu –trong phần hành một người lơ của chuyến xe đò chạy đường Sàigòn & Long Khánh- đã chết nửa giờ sau khi ngã từ trên mui xuống đất.

            Tôi hình dung rất nhanh cậu học trò 14 tuổi với dáng dấp gầy yếu khẳng khiu trong một lớp dạy ở Sàigòn gần 10 năm trước. Cậu bé không có đặc điểm nào ngoài cái điều thường xuyên bị đám bạn cùng lớp hiếp đáp vì sự nhỏ nhoi còm cõi trên thân thể cậu. Tình thầy trò chỉ kéo dài vỏn vẹn 9 tháng trong niên học năm ấy. Tôi rời Sàigòn lên Dalat. Một lớp học trò mới lại đến để đẩy lui lớp học trò cũ vào trong kỷ niệm.

            Điều tôi không ngờ là sự vắng mặt của mình vẫn còn được tiếp tục hiện diện trong ký ức của ai đó. Một điều càng không ngờ hơn nữa là tình cảm ưu ái mà tôi được dành cho ấy, lại xảy ra trong thời buổi đảo điên hôm nay, khi con người không còn đặt giá trị của lễ giáo, đạo đức lên hàng đầu.

            Có thể là tôi bi quan khi tin rằng trong một xã hội Cộng Sản, điều đầu tiên cần phải bị diệt đi chính là tình cảm. Miền Nam Việt Nam chỉ mới bị Cộng Sản hóa từ vài năm nay, nhưng cái cảnh con tố cha, vợ tố chồng và những băng hoại tư tưởng phát sinh từ chủ nghĩa vô thần, xảy ra không phải là ít. Vậy thì tình thầy trò khiêm nhường kia, làm sao còn tìm được chỗ đứng trong xã hội điên cuồng hiện nay?

            Tuy nhiên, trong cái tâm hồn mù mịt niềm tin này, những lời tha thiết cuối cùng của người học trò cũ đã giống như một đốm sáng từ xa nơi chóp ngọn hải đăng cho những con tàu lạc lối trong đêm trên biển rộng. Cái Đẹp vẫn tồn tại trên từng mỗi sự kiện hằng ngày của cuộc sống. Và tình cảm, điểm chính yếu tạo nên cái Đẹp vẫn hiện hữu trong tâm hồn nhiều người Việt Nam, cho dù vật đổi sao dời, cho dù dâu bể tang thương.

            []

 

 

            Paris. Tôi ưa thích căn phòng của mình, một khoảng chu vi 9 thước vuông nằm khiêm nhượng trên căn lầu tư của một tòa nhà lớn gần Gare de Lyon, thuộc quận 12 Paris. Màn cửa màu xanh đậm, bờ tường màu trắng, đơn sơ lạnh lẽo nhưng thân mật tuyệt luân. “Quân tử tri giao đạm nhược thủy”(Người quân tử giao tình với nhau lạt như nước). Bàn đọc sách ở đầu giường ngủ, cái giá nhạc và cây đàn vĩ cầm nằm lặng im trong góc. Căn phòng không có lò sưởi, phô bày thật rõ dáng cách đơn lẻ của nó. Màu trắng nhạt nhòa của bờ tường và màu xanh màn cửa đối chọi nhau sâu sắc. Hình như có một vết nứt làm banh cả da thịt, nhưng không thấy chảy máu? Đàng xa, qua cánh cửa sổ, những cuộn khói từ các đầu máy xe lửa bốc lên mờ mịt trong làn sương xám.

            Mỗi đêm từ quán café trở về, tôi vẫn có thói quen thức khuya, ngồi nơi bàn viết nhìn qua khung cửa sổ, nghe ngóng thời gian trôi đi và ngẫm nghĩ về những điều xảy ra chung quanh mình. “U cư sầu cực hốt truy hoan”(*), điều này tôi vẫn tự nhủ; nhưng nó càng hiện thực hơn trong một căn phòng ma quái lạnh lẽo vào lúc nửa đêm về sáng ở Paris.

            Một lúc nào, mẹ tôi đã nói với tôi: “Thời buổi này mà con sống như một người đang ở ẩn. Thật tội nghiệp!”

            (Trong giọng nói có đượm đầy xót xa ái ngại.)

            Tôi “ở ẩn” được chứ? Tại sao không? Đâu ai nỡ cấm tôi đêm thâu ngồi khoác chăn rách, nghe mưa rụng dưới giàn bầu và ngâm hoài hủy một bài thơ bốn câu?

            Ôi! Bài thơ ngâm thiếu một giòng! Buồn thay!

 

 

            Sàigòn, tháng 12/1979.

            Những cơn gió gầy nhuốm hơi sương làm không gian đột nhiên rét mướt đã nhắc cho tôi biết rằng mùa đông đang trở lại. Mùa đông của Sàigòn –đối với tôi- chỉ bắt đầu vào những ngày tiết trời đột nhiên trở lạnh và những cơn mưa dầm kéo dài từ tháng Tư không còn xuất hiện nữa.

            Mùa đông cũng biểu tượng trên những chiếc lá me xanh ngắt rơi tới tấp xuống góc đường Gia Long & Nguyễn Trung Trực, nơi tôi vẫn có thói quen tìm đến ngồi trong một cái quán nhỏ uống cốc cà-phê thật sớm mỗi lúc trở lại Sàigòn. Cái thói quen từ khi còn đi học, đến bây giờ vẫn chưa bỏ. Một dấu tích của thuở nào rất đẹp mà tôi vẫn cứ muốn qua mặt thời gian để lưu lại trong cuộc đời mình.

            Cốc-café-mùa-đông mang hương vị đậm đà hơn trong ý nghĩ khi tôi vừa được uống chất nước ngọt ngào vào trong máu, lại cũng vừa ngắm nhìn những chiếc lá me bay. Chiếc lá xinh xinh bé bỏng rớt vào cốc cà-phê đậm đặc chẳng khác nào một chút hy vọng màu xanh điểm vào cuộc đời tối đen chán ngắt!

            Khi chiếc lá xa cành,

            Lá không còn màu xanh

            Mà sao em xa anh,

            Tình vẫn xanh vời vợi…

            Hồn thơ của Huy Du, một thi sĩ miền Bắc đã đi vào tâm thức tôi lúc nào không biết; để rồi cứ mỗi lần nhìn một chiếc lá me rơi xuống trong khoảng chu vi rất bé của cốc cà-phê, tôi lại nghĩ về những giòng chữ êm đềm kia. Niềm yêu thích nẩy sinh không chỉ riêng vì sự lãng mạn ẩn tàng trong bốn câu thơ ấy, mà còn chính vì nhân vật tạo nên được nỗi lãng mạn lại là một người đã từng sống trong chế độ Cộng Sản ít nhất là 30 năm. Sàigòn với những buổi sáng tinh mơ mùa Đông càng được yêu nhiều hơn do từ điểm đó.

            .. .. ..

            Tháng 12, mùa sao sáng lại về. Cánh cửa của kho tàng ký ức có dịp mở ra để đón nhận thêm nhiều bâng khuâng xúc cảm. Thời gian của mùa Đông có mùa Xuân phôi thai đâu đó mà một ngày của ba mươi năm trước, tôi đã mở mắt chào đời.

            Ba mươi năm với những khúc quanh trong định mệnh, những nước mắt và những thất bại, vậy mà cứ mỗi mùa sao sáng trở lại là tôi không khỏi thấy lòng mình rộn rã, nôn nao. Hạnh phúc như gần hơn qua làn sương mong manh buổi sớm, qua cơn gió vồn vã buổi chiều và qua cái khí lạnh ngọt ngào trên đường khuya trở về mỗi tối. Tất cả những điều này, tôi gom lại thành một chuỗi kỷ niệm như một thứ hành trang đáng giá của đời mình.

            Và dẫu rằng mỗi lần trở về Sàigòn là tôi lại nhìn thấy qua các người thân thêm một chút khó khăn vật chất, nhưng tình cảm luyến lưu dành cho thành phố thân yêu kia vẫn cứ tràn đầy. Những chiếc lá me xanh bay trong gió sớm vẫn gợi lên nhiều mơ màng xúc động, và cốc cà-phê nơi chiếc quán ngang hông Thư Viện Quốc Gia dẫu có pha mùi xác cau nghiền nát cũng cứ còn làm cho tôi yêu thích, như thuở nào kiên nhẫn ngồi chờ từng giọt màu đen nhẹ nhàng rơi xuống đáy ly.

            Khi chiếc lá xa cành

            Lá không còn màu xanh.. .

            Nhưng với tôi, khi chiếc lá xa cành, lá vẫn còn màu xanh, dù chỉ là màu xanh trong một thoáng cuối cùng nào đó trước khi ngả sang màu úa, tôi vẫn cố bám vào để quý, để thương.

            []

 

 



(*) Dịch nghĩa: “Người quân tử giao tình với nhau lạt như nước.”

 

Bài 14