Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

 

 

  

 

 

X

 

            Paris. Mùa hạ đã đến. Sự xuất hiện của các chàng nghệ sĩ lang thang trên hè phố Paris mỗi ngày một đông. Riêng khu Montmartre, một cồn đất cao khoảng 130 mét, nằm về hướng Bắc Paris –nơi có ngôi đại giáo đường Sacré Coeur màu trắng được xây từ cuối thế kỷ 19 theo kiểu mẫu Romano-Byzantine và được du khách hâm mộ không ngừng kể từ 1 tháng 8/1885- là chốn dụng võ của các chàng họa sĩ. Những giá vẽ được dựng ngay trên lề đường, cái này nằm cạnh cái kia, thân mật vui mắt, làm cho cả khu trông giống như một xưởng vẽ khổng lồ đầy màu sắc. Mùa hè, du khách đến đây nườm nượp cho tới tận khuya. Người ta đi bộ trên các con đường lát đá, tiếng gót giày khua vang rộn rã. Người ta dừng lại trước các giá vẽ; thỉnh thoảng có một người ngồi vào ghế làm mẫu cho họa sĩ. Những nét cọ mềm mại nhảy múa qua lại và rồi trên khung vải, một dung nhan sống động hiện ra.

            Xóm Montmartre –với truyền thống nghệ thuật đã có từ cuối thế kỷ 19, là nơi tập trung của nhiều nhà danh họa quốc tế--ngày nay vẫn còn phong độ độc đáo ấy. Những nghệ sĩ chưa gặp thời, hay những nghệ sĩ lỡ thời mạt vận, những sinh viên của trường Cao Đẳng Mỹ Thuật ở Paris (École nationale supérieure des Beaux-Arts) đa số quy tụ tại đây, trong các tòa nhà hay những quán rượu cũ kỹ được xây cất từ cuối thế kỷ 19. Họ làm đủ thứ nghề để sống và “nuôi sống” nghệ thuật của họ: từ việc vẽ những bức chân dung cho khách hàng qua lại, vẽ những chiếc cối xay gió, tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà... cho đến việc bán báo, bán sách và bán hàng rong trên bờ cầu sông Seine. Tất cả, miễn là nghề tự do và họ tự làm chủ lấy mình.

            Tôi có một anh bạn người Pháp, cũng là một loại “nghệ sĩ của hè phố Paris”. Cứ vào mỗi mùa hè và mùa thu là anh lại xách cây vĩ cầm xuống dưới gầm cầu sông Seine, tìm một chỗ khuất gió, đứng thẳng người ngạo nghễ, cái hộp đàn mở rộng trước mặt và chung quanh, bao quanh bởi một số đông du khách tò mò. Những bản Concerto của Beethoven, Mendelssohn hay của Bach lướt đi như gió bão trên mười ngón tay tài hoa điêu luyện. Những đồng phật-lăng được liên tục ném vào giữa thùng đàn. Cứ mỗi lần xong một bản độc tấu là tràng pháo tay lại vang lên rộn rã. Tiếng vỗ tay ca ngợi của đám thính giả chung quanh nồng nàn chẳng khác nào trong một cuộc biểu diễn tại một khách thính sang trọng ở Paris.

            Một bữa, tôi hỏi anh, với tài năng như thế, sao anh không tham gia vào một ban đại hòa tấu? Anh mỉm cười: “Cả một dân tộc Việt Nam thèm khát tự do và đánh đổi tất cả quê hương, tài sản để đi tìm tự do. Còn tôi, có tự do trong tay rồi, cớ sao lại phải đánh mất nó để chỉ mua lấy một chỗ đứng tầm thường và chút tiền bạc?”

            Anh nói tiếp: “Tự do thường đi đôi với hạnh phúc. Tôi đang có hạnh phúc, như vậy đã quá đủ.”

 

 

            Đầu tháng 7/1979, hát Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang.

            Cần Thơ (thời thực dân gọi là Tây Đô), tỉnh lỵ chính của tỉnh Hậu Giang, được xây trên bờ hữu sông Hậu. Nơi đây là trung tâm lúa gạo của miền Tây; chỗ gặp nhau của các đường bộ từ Châu Đốc & Long Xuyên; từ Hà Tiên & Rạch Giá; từ Sóc Trăng, Bạc Liêu; cũng là chỗ giao lưu của nhiều kinh lạch miền Hậu Giang. Nước sông sâu từ 8 đến 10 mét.

            .. .. ..

            Đoàn hát tại một rạp lớn ngay giữa trung tâm thị xã. Công viên được dựng lên gần đó. Mỗi chiều tối, các cô gái ăn sương tụ tập về đây với đủ sắc hương, tuổi tác. Các khách thưởng hoa cũng dập dìu lai vãng, hai mắt láo liên đảo xuôi đảo ngược, một mắt kiếm tìm cho đúng món hàng ưng ý, mắt còn lại canh chừng sự xuất hiện của công an.

            Các anh bạn của tôi trong tổ Tân Nhạc đều đã ngoài ba mươi nên rất có kinh nghiệm về “chợ người” trong các vùng chúng tôi đi đến. Từ chợ người  Rạch Giá, Mỹ Tho, Long Xuyên, cho chí đến chợ người ở các vùng hẻo lánh như Thủ Đức, Hốc Môn, đâu đâu các anh cũng biết. Nhiều lần tôi nghe họ phê bình, so sánh với nhau về các cái “phao câu” (từ ngữ của họ) một cách thẳng thừng trắng trợn. Tuy nhiên, với chợ người Cần Thơ, tất cả đều ngụ ý chê bai.

            Anh bạn chơi guitare basse, gốc miền Nam, đã lớn tuổi và vui tánh nhất trong bọn, oang oang cười khi kể lại: “Mình chưa kịp nói gì thì nó đã giựt phăng hàng nút áo, bày ra bộ ngực xẹp lép không cọt-xê, xú-cheng gì ráo, rồi ỏn ẻn nói ‘Anh Hai đi với em nghe? Có một trăm bạc thôi. Thấy mặt mày anh Hai sáng láng nên em thương, bớt cho năm chục!’ Mình cười cầu tài: ‘Nghệ sĩ nghèo lắm em ơi! Tiền đâu mà chơi gái?’ Tức thì nó nguýt mắt cái một, hai tay kéo vạt áo, vừa gài nút vừa chửi ‘Thứ hà tiện như anh thì về mà xào khô một mình cho chắc cái bóp! Đừng bày đặt đi tới đi lui trong công viên này nữa!’ Nói rồi, nó ngoe nguẩy chạy vội sang phía một thằng cha nào đó đang đạp xe trờ tới.”

            Anh chơi kèn saxo alto cũng kể: “Mình là đàn ông thì ba cái vụ chơi bời đâu có lạ. Đi qua nhiều nơi rồi mà chẳng thấy nơi nào như ở đây. Có đứa mặt mày non choẹt, tuổi chỉ đáng 12, 13, còn nhỏ hơn đứa con gái lớn của tui nữa. Vậy mà nó tỏ ra sành nghề đến sợ, làm tui chẳng thể nào nghe hứng thú. Thế nhưng khi tui cho nó tiền mà chẳng ‘mần’ gì nó thì nó lại chỉ vào mặt tui, cười khẩy: ‘Con này bị cha ghẻ phá trinh từ khi 10 tuổi, bụi đời liền ngay sau đó, giờ mới thấy một anh quân tử Tàu như anh!’ Điệu bộ và giọng nói nó khi gọi tui bằng anh làm tui muốn lợm giọng. Đồng thời, cũng thấy tràn ngập trong tim một mối thương xót lạ kỳ.”

            .. .. ..

            Mỗi buổi chiều ở Cần Thơ, trước giờ hát, tôi và người bạn chơi trompette vẫn đến ngồi trên ghế đá công viên ngắm nhìn các cô gái bán hoa nhởn nhơ cười nói. Trông bề ngoài, họ có vẻ vô tư và toại ý với “nghề nghiệp” của mình. Đa số đều ở lứa tuổi từ 20 đến bốn chục. Có cô độ 15, 17, hoặc nhỏ hơn. Tất cả các khuôn mặt đều phấn son lòe loẹt. Tuy nhiên, nhìn bộ áo quần của họ đã cũ sờn theo năm tháng, có chỗ còn vá víu, tôi không khỏi se lòng xúc động mang mang.

            Hoàn cảnh nào đã đưa đẩy các cô gái vào chốn cùng thấp kém? Gia đình và xã hội dự phần trách nhiệm gì? Những câu hỏi trên là của các nhà luân lý đạo đức đặt ra lúc đứng trước một vấn đề không kém phần quan trọng của quốc gia, đất nước. Còn tôi, khi đối diện với một trong muôn ngàn mặt trái của đời sống, tôi vừa nghe bất lực cam chịu, lại cũng vừa buồn bã mênh mang.

            []

 

 

            Paris. Daniel và Claudia mời tôi đi dự buổi tiệc trà tổ chức tại nhà một ký giả, bạn của Daniel. Tại đây, tôi gặp nhiều nghệ sĩ: có người tôi đã từng biết mặt qua báo chí, những nhà làm phim, những họa sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ và ký giả. Cũng gặp thêm những vị luật sư, bác sĩ và các thương gia.

            Nhận định được một điều, trong buổi tiệc trà gồm khoảng 100 người, những vị luật sư, bác sĩ và các thương gia gần như bị cô lập tẻ nhạt hẳn. Họ đứng riêng một góc với nhau và không một nhà nghệ sĩ nào –trừ ra vị chủ nhân- đến chuyện trò với họ.

            Tôi hỏi Daniel sao lại tốt bụng với tôi như vậy? Anh quay sang vợ, mỉm cười, rồi hỏi lại tôi thay cho câu đáp: “Nếu đổi ngược vai trò cô là tôi, sang Việt Nam tị nạn, thì gặp tôi, cô sẽ làm gì? Có phải cô cũng muốn đem tôi đi giới thiệu với các bạn nghệ sĩ của cô?”

            Tôi gật đầu, cảm ơn anh, một người bạn tốt trong đời tôi ít gặp.

            Tháng 7/1979, lưu diễn Long Xuyên, tỉnh An Giang.

            Địa giới An Giang mang hình tam giác giống như cánh buồm căng gió nơi đầu nguồn của những giòng sông vùng đồng bằng châu thổ, bắc giáp tỉnh Đồng Tháp; tây giáp nước Cam-pu-chia; đông giáp tỉnh Hậu Giang; nam giáp tỉnh Kiên Giang. Khác với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, ở đây có một miền núi nhỏ dài 30km, rộng 17km. Đó là đám núi Thất Sơn, Cô Tô, Cấm Sơn, Ốc Nhẫm, Nam Vị, Tà Biệt và núi Nhân Hòa. Có ngọn cao 580m, 614m và 716m. Chung quanh còn nhiều ngọn khác nữa. Hai ngọn núi xa về phía đông là núi Ba Thê và Núi Sập.

            .. .. ..

            Đoàn hát 10 ngày ở Long Xuyên, thị xã nằm trên bờ hữu sông Hậu, thuộc tỉnh An Giang.

            Hầu hết nhân viên đoàn trú ngụ lại khách sạn An Giang, tọa lạc ngay trung tâm thị xã, nhìn ra công viên Trưng Vương. Đường phố đẹp và sạch sẽ, khác hẳn với sự lầy lội trong nhiều thành phố miền Tây Nam phần. Dân ở đây đa số theo đạo Hòa Hảo và đời sống xem ra có phần sung túc. Các đêm hát thường đầy nghẹt khán giả. Giá vé chợ đen được mua rất cao. Vì vậy, mỗi lần đến Long Xuyên là đám chúng tôi thường “rủng rỉnh xu hào” nhiều hơn mọi nơi khác.

            Một món ăn đặc biệt là món chuột đồng được anh em đoàn chiếu cố nhiều nhất. Cứ mỗi mùa lúa chín thì lại có nhiều ông Tí ranh mãnh nổi lên cắn trộm lúa non, phá phách ruộng bờ. Người dân Long Xuyên đặt bẫy sập các tên trộm nhỏ bé; nhiều đến nỗi phải đem ra chợ bầy bán. Chuột ăn lúa nên thịt rất ngon, nhất là khi đem ướp ngũ vị hương hành tỏi rồi chiên lên, thật chẳng kém gì so với thịt gà tơ.

            .. .. ..

            Những ngày Long Xuyên, tôi đã không thể tìm ra cho tâm hồn mình một nỗi an bình cần thiết. Vào những giờ rảnh rỗi, tôi thường nằm lại trong khách sạn, đầu óc cứ mãi bị khuấy động bởi cái tin đứa em gái út vượt biển từ ba tuần trước mà người bạn trong tổ đem đến cho tôi sau năm ngày phép Sàigòn. Mẹ tôi đã nói với anh rằng ngay buổi sáng hôm sau cái đêm em ra đi, dân vùng quanh đó phát giác ra một chiếc ghe bị đắm ngoài khơi vào đêm trước. Những mảnh ván tàu và những đồ vật nhẹ trôi lềnh bềnh đầy theo làn sóng. Không nghe nói có nạn nhân nào sống sót. Mặt biển im lìm đã giữ kín những bí mật của người chết.

            Tôi không muốn tin những gì tưởng tượng trong đầu; không muốn nghĩ rằng em tôi đã dự phần trong chuyến ghe bị đắm. Vậy mà sao tâm trí cứ bị ngập chìm theo những nghĩ ngợi ấy trong suốt những ngày Long Xuyên?

            Từ lâu, tôi vẫn không có ý kiến gì theo các quyết định đi hay ở của các người thân. Đến một khúc đường cùng nào đó của cuộc sống mỗi con người, tình cảm đã bị bản năng sinh tồn mạnh hơn lấn lướt. Thì khúc đường cùng này đang xảy ra với nhiều người Việt; gần hơn cả chung quanh tôi là những người thân và bè bạn.

            Người ta đi tìm tự do bằng đủ mọi cách, mọi phương tiện. Thứ tự do được mua bằng một giá rất đắt, bằng cả một truyền thống tình cảm sâu dầy trong lòng người Việt đối với quê hương xứ sở, với đất đai mồ mả tổ tiên. Thứ tự do được đánh đổi bằng mạng sống mong manh của con người trong cuộc chiến đấu sống còn cùng thiên nhiên huyền bí. Thứ tự do được tắm bằng máu và nước mắt, hiểm nguy và cái chết. Thứ tự do đã làm cho cả thế giới phải cảm thán nghiêng mình.

            Từ lâu, tôi chỉ biết buồn khi nhìn từng người bạn bỏ đi, từng người thân xa lìa nơi chôn nhau cắt rốn để đến một vùng trời khác, làm lại cuộc đời mới. Bây giờ đến lượt em tôi, đứa em vô cùng yêu thương.

            Em đi thiên cổ buồn ngơ ngác

            Sóng vỗ trùng dương lạnh chốn về (1)

            Tôi tưởng như một ngón tay của mình vừa bị đứt lìa và những giòng máu không ngớt tuôn ra xối xả.

            Vết thương rồi sẽ lành theo năm tháng, nhưng liệu năm tháng có làm mờ đi được vết sẹo trong hồn tôi hay không?

            []

 

 

            Paris. Một bài thơ nhỏ.

            Em là trăng cổ độ

            Mọc giữa trời Đông Phương

            Nét mày nghiêng vũ trụ

            Tóc bồng xanh đại dương

            Ta là thân thủy thủ

            Nghe sóng buồn chập chùng

            Nghìn năm không bến đỗ

            Giữa lời ru rưng rưng.

 

 

            Long Xuyên, tháng 7/1979.

            Những giòng của nhà văn Mặc Đỗ viết về André Maurois (2) đã làm tôi lưu tâm đặc biệt kể từ sau buổi họp đoàn ở Cà Mau cứ mãi loay hoay theo những ý nghĩ về cái Đẹp không có thật trong cuộc đời.

            “Triết lý của Maurois là một triết lý buồn nhưng nuôi dưỡng niềm lạc quan. Dõi theo hạnh phúc, ta không thể từ chối hạnh phúc dù phải trả một giá cao. Tạm đặt chân lên hòn đảo nhỏ giữa đại dương đau khổ, chưa hẳn đã trả giá cao, vì ý chí vẫn còn nơi ta. Đằm mình trong đại dương đau khổ mới là buông xuôi, cho dù sự buông xuôi có vuốt ve được tự ái.

            Một đoạn trong cuốn Khung Cảnh Gia Đình của Maurois đã vạch ra một lằn ranh tế nhị giữa Định Mệnh và Ý Chí. Bernard Smith nói về vở kịch siêu hình mà chàng mới cấu tạo nên. Các nhân vật được hình dung bằng những con búp bê trên một sân khấu hoạt kịch: chàng ghen, chàng si, chàng tham, chàng giàu, chàng nghèo... Màn đầu, nhà đạo diễn còn làm chủ được các vai. Qua màn hai, một nhân vật búp bê phản kháng, đem vạch rõ thân phận tối tăm của đám nhân vật búp bê và bày cách thoát ly khỏi bàn tay nhà đạo diễn. Vở kịch tiếp nối không còn là vở kịch của nhà đạo diễn nữa. Bernard nói với Denis: ‘Tôi đã tìm ra tên của vở kịch: Các Nhân Vật Búp Bê Hiểu Ý Nghĩa Của Vở Kịch.’

            ‘Nhưng kịch kết thúc ra sao?’

            ‘Tôi chưa biết. Tôi cho rằng nhà đạo diễn sẽ thắng bằng cách đập tan chú búp bê nổi loạn kia vì bề gì ông ta cũng nắm những sợi giây’.”

            Mặc Đỗ kết luận:

            “Chúng ta biết rõ thân phận búp bê của mình, nhưng chúng ta cũng biết rõ không nắm được những sợi giây. Vấn đề hạnh phúc nằm trong mớ tương quan ấy.”

            []

 

 

            Paris. Đêm, khi trở về nhà, tôi chợt bàng hoàng vì ánh trăng tràn ngập khắp nơi. Thật là một điều hãn hữu trong một xứ lạnh thế này. Con trăng tròn vằng vặc sáng, treo lơ lửng trên nền trời thành phố Paris, vạch nhẹ những làn mây, bò lên cửa kính và len lỏi vào sâu tận trong phòng.

            Giữa khuya, đứng bên cửa sổ trông xuống cả một vùng phố im lìm trong giấc ngủ, rồi lại ngước nhìn trăng, lòng sao thật cảm hoài xa vắng. Đã lâu rồi tôi mới lại có dịp nhìn trăng. Con trăng giống như một người bạn thiết bất chợt tìm đến thăm giữa đêm nơi xa xôi đất khách. Con trăng của một thời dĩ vãng quê hương!

 

 

            Tân Châu, tỉnh An Giang, đầu tháng 8/1979.

            Từ ba giờ khuya, chúng tôi đã phải thức giậy cho kịp chuyến tàu thủy 4 giờ sáng qua Tân Châu. Trên bến Chợ Mới, Long Xuyên, ghe thuyền nhiều như mắc cửi. Chuyến tàu của đoàn thuê bao là một loại thuyền buôn lớn, xuôi theo giòng Tiền Giang và đến Tân Châu lúc đã xế trưa. Ai nấy đều bơ phờ mệt mỏi. Người bạn chơi trompette rủ tôi đi uống một chầu café “nhập thị”. Cái quán nhỏ ở cạnh bờ sông, gần cuối con đường, đã đem lại cho chúng tôi ít nhiều thoải mái sau một ngày dài bó gối trên ghe.

            Người chủ quán bảo với chúng tôi rằng bên kia sông là địa phận của nước Cam Bốt. Tôi kinh ngạc nhìn khúc sông trước mặt, nghe như có nỗi gì là lạ trong ý nghĩa của nó. Lòng chiều ngang không rộng lắm, ở giữa là một dọc dài kẽm lưới được dùng làm ranh giới chắn ngang hai quốc gia. Bên kia bờ, những phụ nữ và trẻ em Cam Bốt đang tắm rửa, giặt giũ. Làn da đen đen của họ nổi bật dưới nền trời xanh biếc bao la.

            Đây là lần đầu tiên tôi mới nhận thức được bằng cụ thể ý nghĩa của hai chữ “biên giới”. Mọi sự đơn giản giống như hai xóm làng được ngăn đôi bằng một giòng sông. Vậy mà có ai ngờ rằng biết bao tang thương đã đưa đến từ cái biên giới hiền hòa ấy? Bao nhiêu xác người đã gục ngã chỉ để bảo vệ an toàn cho phần đất giới hạn của mình. Bao nhiêu cuộc chiến tranh xảy ra chỉ vì hai chữ “biên giới” đã không được tôn trọng đúng với lằn ranh chỉ định?

            Buổi chiều ở Tân Châu, trời cao và trong vắt, tôi nghe ông chủ quán kể: “Lúc này bộ đội gác dữ lắm để ngăn những người bỏ trốn ra khỏi nước bằng ngã biên giới Cam Bốt. Chứ còn lúc trước, dân bên này và dân bên kia chèo thuyền mua bán, trao đổi hàng hóa như cơm bữa với nhau.”

            Buổi chiều, tôi ngồi uống ly cà-phê, nhìn ra giòng sông mà hình dung cái cảnh thanh bình ngày xưa ấy. Con sông hiền hòa lơ lửng trôi như không cần biết đến những mưu toan rắc rối trong lòng dạ con người. Bên kia, những người dân Cam Bốt mộc mạc vẫn bình thản tắm giặt; các đứa trẻ té nước vào nhau trong tiếng cười rộn rã. Và bên này, người dân Việt vẫn an nhiên sống cuộc đời của họ; tôi và người bạn vẫn ngồi uống ly cà-phê mùi thơm ngào ngạt. Không có gì khác lạ, ngoại trừ bên này biên giới là hình ảnh anh lính bộ đội và bên kia là anh lính Cam Bốt cầm súng đúng gác trong hai cái chòi nhỏ ở ven sông. Hai hình ảnh này đã phá tan đi sự êm đềm dịu dàng của cảnh sắc nơi một vùng quê miền Nam Việt Nam, và chiến tranh có thể xẩy ra bất cứ lúc nào từ ngón tay trên cò súng của hai vị thần giữ cửa ấy.

            []

 

 

            Paris. Đứa con trai nhỏ đi học về, ngồi rầu rĩ một góc. Tôi hỏi tại sao? Nó kể, đứa bạn người Pháp cùng lớp đã lấy cắp cái đồng hồ của nó trong giờ thể dục. Tôi vỗ về, an ủi rằng sẽ khiếu nại vụ này với nhà trường ngay hôm sau. Nó bật nói: “Con không ngờ tụi Pháp cũng ăn cắp!” Tôi ngạc nhiên hỏi tại sao lại dùng chữ “không ngờ?” Nó đáp: “Tại con tưởng tụi nó giàu quá mà, đâu cần gì ăn cắp?” Tôi giải thích, ăn cắp là tánh xấu của một số người nào đó, chứ không phải là do giàu hay nghèo. Đồng thời, phải nhận rằng, con nít Việt Nam trong thời buổi này “biết” sớm quá, dù là biết sai!

            Chiến tranh với những kỷ niệm sợ hãi chưa kịp xóa nhòa trong đầu óc thơ trẻ thì lại dồn dập tiếp những hình ảnh đau lòng theo các cuộc tù đày của cha, anh; hay những chứng kiến kinh hoàng trong các cuộc vượt biển. Lại thêm những tranh đấu cam go với ngôn ngữ xa lạ, với ý thức chênh lệch về thể chất, tất cả đều là nguyên nhân thay thế bàn tay Thời Gian làm cho sự ngây thơ của trẻ em Việt Nam bị mai một lần hồi đi.

            Chúa đã bảo: “Thiên đàng là nước của trẻ em.” Vậy mà lớp trẻ ở Việt Nam bị đau khổ vì một thứ “thiên đàng” không có thật đã đành, lớp trẻ ở ngoại quốc cũng chẳng kém gì hơn theo một thứ thiên đàng sung mãn quá độ của tự do vật chất. Trái xanh bị ép cho mau chín, làm sao có thể tìm thấy được hương vị ngon ngọt, đậm đà?

 

 

            Tháng 8/1979, lưu diễn Châu Đốc, tỉnh An Giang.

            Châu Đốc là thị xã biên thùy thuộc tỉnh An Giang, được xây trên bờ hữu sông Hậu, ngay cửa kênh Vĩnh Tế, sát biên giới Cam-pu-chia. Nơi đây hàng hóa phong phú vì là chợ biên giới, nhiều người bên nước Cam Bốt qua lại buôn bán với người Việt Nam. Cách thị xã Châu Đốc 5km về hướng tây nam có ngọn núi Sam đứng trơ vơ, cao 237m. Dưới chân núi là lăng mộ ông Thoại Ngọc Hầu và vợ là bà Vĩnh Tế, trấn phủ ở Vĩnh Thạnh năm 1818, người đã có công đào kênh Rạch Giá và kênh Vĩnh Tế, giúp cho sự giao thông buôn bán và nông nghiệp trong vùng thêm phần tiện lợi. Chung quanh lăng hai ông bà là các nấm mộ của phu dân đã chết trong lúc đào kênh.

            .. .. ..

            Các đêm hát ngoài trời trong 10 ngày lưu lại Châu Đốc thường đầy nghẹt khán giả. Có chừng 100 chiếc băng ghế dài ở giữa khán trường, xếp hàng song song theo chiều ngang, dành cho lớp người mua vé ngồi. Phía hai bên hông dẫn dọc ra sau là vị trí của lớp mua vé đồng hạng vào cửa, rồi mạnh ai nấy tìm chỗ đứng. Trong các đêm hát, vấn đề trật tự thường không được ổn định. Lớp người đứng sau đùn lên, xô lớp đứng trước té nhào xuống lớp ngồi trên ghế, làm thành một cuộc chen lấn ồn ào như vỡ chợ. Cứ mỗi lần như vậy, cuộc biểu diễn lại tạm ngưng và chiếc đèn pha được rọi sáng vào nơi gây ra rối loạn.

            Vị trí của hai tổ Tân và Cổ Nhạc ở sát ngay mặt tiền sân khấu, cách hàng ghế đầu tiên của khán giả là ba mét. Vậy mà cái khoảng cách bé nhỏ này luôn luôn bị tràn lấn tới cùng.

            .. .. .

            Trong các đêm hát Châu Đốc, tôi thường gặp một bà cụ già ngồi chồm hổm sau lưng anh bạn chơi trống, bên cạnh đứa cháu trai độ 10 tuổi, mặt mày hiền lành ngơ ngác. Cứ mỗi lúc nhìn qua là tôi đều bắt gặp ánh mắt của bà. Ánh mắt mới đôn hậu làm sao, đủ sức làm rung động bất cứ trái tim nào cứng mạnh nhất. Một lần ái ngại, tôi mời bà ngồi vào chiếc ghế trống của tổ Tân Nhạc. Bà nhỏ nhẹ chối từ với nụ cười ấm áp.

            Hình ảnh bà quen thuộc đến độ làm cho tôi yêu mến. Từ đêm hát đầu tiên cho đến đêm thứ tám, cứ đúng 7 giờ là tôi đã thấy bà ngồi vào vị trí cố định sau lưng anh bạn chơi trống, phía trái giàn nhạc. Bà lặng yên bên cạnh đứa cháu, nhìn chúng tôi làm việc và đợi chờ giờ hát. Trong sự ồn ào chung quanh, pha trộn giữa âm thanh và tiếng động, sự lặng yên của bà chẳng khác nào một đốm sáng rực rỡ hiện ra trên vùng trời đen tối. Và rồi, không biết tự lúc nào, cái đốm sáng ấy đã len thật nhỏ nhẹ êm đềm vào hồn tôi.

            Đêm hát thứ chín bỗng dưng không thấy bà đâu nữa. Chỗ ngồi sau lưng anh bạn chơi trống đã có kẻ khác mau mắn thế vào. Tôi nghe như thiếu thốn nỗi gì trong suốt bốn giờ làm việc, nghe tiếng đàn mình trở nên thừa thải, vô duyên!

            Đêm hát thứ mười cũng là đêm cuối cùng ở Châu Đốc, tôi đến sớm, lần dò tìm tới những khuôn mặt mà vài lần tôi đã thấy bà trò chuyện. Có một người là hàng xóm của bà. Người này kể rằng bà đã chết đêm qua, khi cùng đứa cháu băng qua chiếc cầu khỉ bắc ngang con suối nhỏ, trợt chân té, đầu đập mạnh vào một hòn đá... Cái lúc bà đang trên đường đi xem Cải Lương.

            Tôi thốt lặng người trong ý nghĩ rằng mọi sự trước mặt vẫn tuần hoàn như nhiên, trong khi đã có biết bao biến đổi âm thầm đằng sau cái như nhiên tuần hoàn ấy. Đoàn hát vẫn kéo màn, khán giả vẫn ồn ào như vỡ chợ, tôi vẫn cứ bấy nhiêu việc làm buổi tối… Tất cả đều vô tình như nước chảy qua cầu để không hay rằng một cuộc đời vừa kết thúc, song song với nỗi buồn thiếu vắng vừa được thành hình và lớn dậy giữa trái tim tôi.

            []

 

Paris. Một mẩu tin ngắn nằm trong góc khiêm nhượng trang 4 của tờ nhật báo Le Monde, xuất bản tại Paris: “Hôm qua, người ta vừa phát giác ra xác chết đã ung thối của một vị bác sĩ Việt Nam mới ra trường, dưới hầm tòa nhà số... đường... Được biết nạn nhân đã dùng dao mổ cắt đứt mạch máu ở cổ tay trái và chết vì cạn máu. Theo sự điều tra của cảnh sát cuộc quận 5 thì sự kiện trên xẩy ra đã từ hai tháng trước. Nạn nhân tên Nguyễn Văn T., 32 tuổi, sinh viên du học từ 1971, sống một mình và được ghi nhận là người rất tỉnh táo, sáng suốt. Tuy nhiên, kết quả cuộc điều tra sơ khởi cho thấy rằng sự việc trên là một vụ tự tử nhiều hơn là một án mạng.”

            Đây không phải lần đầu tôi đọc được mẩu tin như thế. Có những trường hợp tương tự xẩy ra trong cộng đồng người Việt ở Paris. Một cô gái trẻ đẹp nhẩy từ lầu 5 xuống đất. Một thanh niên khỏe mạnh lao đầu vào xe điện ngầm. Một người đàn ông tự bắn vào màng tang bằng súng lục. Một vị nữ giáo sư dương cầm dạy trường Nhạc Sàigòn ngày trước, đi bon bon trên đường rầy khi chuyến xe lửa tốc hành quốc tế vừa trờ tới… Tất cả đều được ghi nhận là những vụ tự tử.

            Người ta đi tìm cái chết như một lối thoát cho cái ngõ cụt của tâm hồn. Người ta chối từ đời sống như một hình thức đạp vỡ sự cùng khốn trong đầu óc. Người ta đến gần với sự tự tử khi cảm thấy như đang chết giữa một cuộc đời có những con người đang sống. Con số tự tử không phải là ít và phần đông đều thuộc giới trí thức trong cộng đồng người Việt Nam.

            Trái ngọt phương Đông đem trồng phương Tây, làm sao cho khỏi héo hon, chua chát? Người hiền phương Đông lưu lạc phương Tây làm sao không biến thể được vì phong thổ đổi thay?

 

 

            Hà Tiên, giữa tháng 8/1979.

            Từ Châu Đốc, đoàn dùng xe đò quốc doanh đi về hướng Tây Nam, theo giòng kênh Vĩnh Tế, qua khỏi núi Sam rồi đi sát vào kênh Bảy Núi và lại kênh Tri Tôn. Những địa danh Núi Đất, Núi Dài, Tịnh Biên, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia lần lượt chạy lùi đàng sau chiếc xe đò của đoàn. Để rồi đến cây số 95 khởi đi từ Châu Đốc, chúng tôi vào huyện Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang.

            Kiên Giang là tỉnh cực tây của miền Tây Nam phần, gồm một phần là đất liền và một phần là các đảo. Đảo lớn nhất là đảo Phú Quốc. Hà Tiên bắc giáp nước Cam Bốt; đông và đông bắc giáp tỉnh An Giang và tỉnh Hậu Giang; nam giáp tỉnh Minh Hải; tây là vịnh Rạch Giá, vịnh Cây Dương và vịnh Thái Lan.

            Dưới đời vua Minh Mạng (1833), Hà Tiên là tỉnh bao gồm một phạm vi rộng lớn từ Hà Tiên xuống tận Cà Mau ngày nay. Năm 1876, do sự phân chia của thực dân Pháp, tỉnh Hà Tiên cũ biến thành hai tiểu khu Hà Tiên và Rạch Giá, thuộc khu vực Bassac. Từ 1899, Hà Tiên và Rạch Giá trở thành hai tỉnh riêng biệt. Từ 1975, Hà Tiên và Rạch Giá được gom chung lại thành tỉnh Kiên Giang.

            Đoàn dừng bến 5 ngày ở Hà Tiên, thuộc tỉnh Kiên Giang, một mũi đất nhô ra biển, cách biên giới Cam Bốt không bao xa. Nơi đây cảnh sắc rất đẹp với các hòn Phụ Tử, Thạch Động, Đông Hồ, Đá Dựng.

            Thời xa xưa, Hà Tiên là thị trấn nhỏ được đặt dưới quyền cai quản của Tổng binh Mạc Cửu, một người Trung Hoa vì không thần phục chế độ nhà Mãn Thanh nên kéo cả gia đình sang đất Chân Lạp vào đầu thế kỷ 18. Ông được vua Chân Lạp cho cai quản đất Sài Mẹt, bèn mộ lưu dân, tổ chức lập ra 7 xã thành đất Hà Tiên. Năm Mậu Tý (1708), ông thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu, dâng đất Hà Tiên cho chúa và được phong làm tổng binh, giữ đất Hà Tiên. Con trai ông, Mạc Thiên Tứ, mẹ là người VN, kế nghiệp cha làm đô đốc trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ có tài văn chương, tác giả của Hà Tiên Thập Vịnh Tập, thành lập Chiêu Anh Các để văn thi sĩ thời ấy đến ngâm vịnh với nhau. Đất Hà Tiên trở thành đất văn học từ dạo đó.

            .. .. ..

            Một đêm trong năm ngày lưu lại nơi đây, trước giờ hát, bảy người trong tổ Tân Nhạc sửa soạn nhạc cụ chuẩn bị cho buổi trình diễn. Tiếng vang của sợi giây Sol trên cây violon khiến lòng tôi chùng lại. Một chuỗi âm thanh của một bản nhạc thời cũ vô tình theo nguồn cảm hứng trong tôi mà tuôn chảy ra trên 10 đầu ngón tay. Đột nhiên, tôi nghe tiếng trống đệm theo nho nhỏ, rồi tiếng basse, lại tiếng guitare của anh bạn ngồi bên cạnh. Bản nhạc vang lên nồng ấm làm lôi cuốn luôn tiếng kèn của hai anh saxotrompette. Người cuối cùng nhập cuộc là anh nhạc sĩ đàn keyboard. Anh là kẻ duy nhất trong tổ Tân Nhạc vẫn được ông trưởng đoàn ngợi khen là “có đạo đức cách mạng cao!” Chúng tôi như bị cuốn hút vào bản nhạc của một thời năm cũ để quên mất môi trường hiện tại.

            Trời đêm sáng trăng. Trên sân banh Hà Tiên, khán giả đã bắt đầu đông, một số vây chung quanh chỗ ngồi các người nhạc sĩ. Âm nhạc vẫn vang lên nồng ấm, lan rộng khắp nơi. Mười ngón tay của từng người nhạc sĩ vẫn không ngừng múa may trên hàng phím. Và rồi khi dứt bản nhạc, tất cả đều ngỡ ngàng vì tiếng vỗ tay rào rào của các người dự khán, từ trong hậu trường ra đến ngoài đám khán giả sau lưng.

            Hai anh bạn chơi trống và kèn saxo bật lên tiếng cười thích thú. Còn anh chơi guitare vừa búng thật kêu một sợi giây đàn, vừa cất giọng la: “Làm nữa đi!”

            Riêng người nhạc sĩ đàn keyboard quay đầu nói nhỏ cùng anh chơi guitare basse: “Tối nay thế nào mỗi người cũng nhận được một bản tự kiểm dài năm trang giấy!”

            Tuy nhiên, không ai trong số 6 người còn lại là không nhận ra một nụ cười thoáng nét thỏa mãn hiện trên khuôn mặt lầm lì đạo đức của anh.

            []

 

 

            Paris. Một tình cờ thú vị xẩy ra tại quán café. Khi tôi đặt hai ly vang nóng xuống bàn của hai thanh niên Việt Nam thì một người chợt đứng lên cúi đầu chào thật lễ phép: “Thưa cô, chắc cô không nhận ra em?”

            Tôi nhíu mày, lục trí nhớ. Chẳng thể tìm được chút nào quen thuộc trên khuôn mặt lịch sự kia. Chàng thanh niên nói tiếp: “Em là Quảng, học trò của cô năm 1972 tại Dalat.”

            Tôi chợt à lên tiếng nhỏ, nhớ lại tức khắc đứa học trò nghịch ngợm lớp 7 năm xưa. Quảng mỉm cười: “Trái đất tròn cô nhỉ? 14 năm rôài em mới gặp lại cô!”

            Tôi cũng mỉm cười gật đầu.

            14 năm xưa, thuở mới vào đời, tôi là một cô giáo được hầu hết học trò thương mến. Chênh lệch nhau trên dưới mười năm, vậy mà đám trẻ trai cũng như gái trong các trường tôi dạy ai cũng đều tỏ bày với tôi cả một tình thân. Nhiều người về sau trở thành bạn của tôi, không vì bất cứ lý do nào ngoài cái điều tôi rất chân thành khi nghe những tỏ bày của họ…

            14 năm dâu bể, gặp lại lớp học trò cũ ngày nào nay đã lớn thì nhìn lại mình đã sắp bước qua tuổi già! Trên mái tóc đã có vài sợi bạc và trong tâm hồn không còn gì những ước mơ xưa!

            Nhiều khi muốn quay về

            Ngồi im dưới hiên nhà

            Cái ước mơ duy nhất còn lại -nếu có- chỉ là điều trên, bình dị đơn sơ quá, nhưng sao cũng thật xa vời như một ảo ảnh?

 

 

            Rạch Giá, giữa tháng 8/1989.

            Rạch Giá là thị xã chính, cũng là ngư cảng lớn của tỉnh Kiên Giang, được xây trên cửa sông Cái Lớn và sông Cái Bé ở vịnh Rạch Giá. Dân cư hầu hết sống bằng những việc liên quan đến nghề cá: đánh cá, nhận cá, phơi cá, ướp cá, chữa thuyền bè. Rạch Giá cũng là nơi nổi tiếng trong thành tích chống Pháp, đặc biệt là chiến công đánh chiếm đồn Rạch Giá tháng 6/1868 của nhà anh hùng Nguyễn Trung Trực. Cũng nơi đây, ngày 27/10/ 1868, ông Nguyễn Trung Trực bị giặc Pháp hành quyết tại chợ thị xã. Về sau, dân Rạch Giá đúc tượng và lập đền thờ ông.

            Rạch Giá là một trong các vùng xuất phát của nhiều chuyến vượt biên. Có chuyến thành công và cũng có chuyến thất bại. Tuy nhiên, một điều không giống với các thành phố biển khác là ở đây người ta nói chuyện vượt biên dễ dàng và công khai trong các quán ăn, quán cà-phê mà không phải e dè gì. Có cả một hệ thống công an nhúng tay vào các chuyến đi, như một hình thức “ăn chia” với các chủ ghe vượt biển.

            .. .. ..

            Mỗi lần hát Rạch Giá là tôi lại gặp đâu đó trong thị xã những “khuôn mặt Sàigòn” quen biết cũ, bỏ thành phố xuống đây để “lập nghiệp”. Đêm hát đầu tiên ở Rạch Giá, tôi gặp lại một người bạn thuở còn đi học, hiện đang là bác sĩ trong một bệnh viện lớn ở đây. “Tha hương ngộ cố tri”, mười ngày Rạch Giá bỗng dưng mang một ý nghĩa đặc biệt. Những tối người bạn đến cửa sau hậu trường, gửi cho một mảnh giấy nhỏ với chữ “café” duy nhất; hay những sáng mù sương ngồi với nhau trong cái quán nhìn ra ngoài biển... đều là những kỷ niệm êm đềm trong 10 ngày lưu lại nơi đây.

            Trong các câu chuyện, tôi hỏi anh sao lại bỏ Sàigòn. Anh thành thật đáp:

            “Thoạt tiên, tôi cũng có nghĩ đến điều vượt biển, nhưng sau một thời gian làm việc ở bệnh viện, tôi đã không còn muốn ra đi.”

            Tôi chưa hết ngạc nhiên, đã nghe anh giải thích: “Trong tim tôi vẫn hằn một mặc cảm có tội đối với gia đình khi mà chính tôi đã dàn xếp cho đứa em trai duy nhất ra đi trên một chuyến ghe và chuyến ghe mất tích luôn ngoài biển.”

            Nét mặt anh trầm xuống:

            “Tuy nhiên, nguyên nhân chính không phải là điều trên. Ở đây, nhìn thấy hằng ngày những bệnh nhân nghèo khó, tiếp xúc hằng bữa với các con người đau khổ, tôi đã tự thấy xấu hổ nếu bỏ ra đi. Cảm tưởng giống như một người đang chạy trốn một trách nhiệm lương tâm nào đó.”

            Rồi anh cười buồn:

            “Không có tôi thì cuộc đời vẫn không thay đổi. Nhưng tôi nghĩ chị hiểu, thà rằng tôi đừng đến đây, vấn đề sẽ khác hơn. Ở đây, chế độ bạc đãi những người cũ, nhưng chúng tôi lại được các bệnh nhân quyến luyến, ân cần.”

 

            Những buổi cà-phê thường là như vậy. Mười năm rồi tôi mới gặp anh, người bạn dễ chịu nhất trong đám bạn ngày nào. Anh vẫn độc thân, ánh nhìn đượm nét khắc khoải của một nghệ sĩ nhiều hơn một y sĩ.

            Mười năm mà anh vẫn không thay đổi bao nhiêu trong những ý tưởng sống. Ngày xưa, khi quyết định bỏ cái học bổng dương cầm ở Tân Tây Lan để thi vào trường Y khoa Sàigòn, anh đã làm cho cả đám chúng tôi ngạc nhiên. Trước điều này, anh cười, giải thích:

            “Đất nước mình còn nghèo quá. Một y sĩ cần thiết hơn một nghệ sĩ.”

            Mười năm sau, tôi lại cũng nghe anh nói:

            “Bánh xe lịch sử đã quay, điều đó không thể chối. Nhưng đất nước càng bị mắc vào cái vòng quay tệ hại bao nhiêu thì vai trò người trí thức càng được cần thiết nhiều hơn bấy nhiêu.”

            Tôi hỏi anh nghĩ gì về những người đã bỏ nước ra đi? Anh đáp:

            “Mỗi người có một hoàn cảnh sống và môi trường suy nghĩ khác biệt, không thể nói cho chính xác được là ai sai, ai đúng. Riêng tôi thì lại cho rằng quê hương giống như một mái nhà, mình có đứng trong ấy mới thấy rõ được những chỗ dột của mái, chỗ thủng của vách để mà sửa sang lại cho hoàn chỉnh.”   

            Tôi cười, ngộ nhỡ cái nhà ấy đã bị kẻ khác chiếm đoạt?

            Anh gật đầu mạnh mẽ:

            “Thì sự hiện hữu của mình càng cần phải được phô bày nhiều hơn. Trên một mặt nào đó, tôi nghĩ rằng ‘ra đi’ tức là đã đồng hóa với ‘biến mất’ khỏi mái nhà quê hương của mình rồi đó.”

           

            Mười ngày ở Rạch Giá, tôi như tìm lại chút gì cái thuở ngày xưa khi cuộc đời còn tươi thắm màu xanh. Biết bao kỷ niệm được gợi lại, bao cái tên bạn bè được nhắc tới.

            Những người xưa đi rồi không về nữa

            Một mình tôi lại gặp một mình anh

            Chiều lửng lơ nghe nắng rụng bên thềm

            Anh cúi mặt, mắt buồn ươn ướt đỏ.(1)

            Những ly cà-phê đượm mùi thơm khét làm nhớ sao là nhớ thuở nào còn đi học. Những ước mơ tuổi nhỏ được kể ra trong âm vang tiếc nuối ít nhiều. Và thời gian vẫn cứ lạnh lùng trôi trong làn sương mỏng của 10 ngày Rạch Giá; nhưng trong tâm hồn hai người bạn cũ, nỗi ngậm ngùi còn vương vất mãi không thôi.

            []

 



(1) Thơ Trần Nghi Hoàng.

(2) André Mauroi, nhà văn Pháp (1885-1967).  

(1) Thơ Hoàng Trúc Ly.

 

Bài 10