Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

Bài 08

 

 

 

VIII

 

            Paris. Khí trời đã trở lại ấm áp. Những tia nắng vàng nhẩy múa trên các đọt cây. Chim trên cành chợt cao tiếng hát. Cỏ hoa như muốn trẩy mình lên. Mùa Xuân đang trở về sau những ngày mùa Đông vô cùng buốt giá.

            Đi trên phố Paris mà đôi lúc tôi cứ có cảm tưởng như đang đi trong thành phố mây giăng thấp ngàn đời của quê hương xa vời ấy. Giờ đây, xứ sở này không còn làm cho tôi phải e ngại nữa. Bản chất đầy nghị lực của người Việt Nam tiềm tàng trong máu huyết đã hỗ trợ cho tôi phần lớn. Có lẽ đó cũng là ân sủng Thượng Đế ban riêng cho những con người Á Châu bé nhỏ để có thể đứng vững trong thế giới hùng mạnh của người Âu châu?

            Tuy nhiên, khác với người Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, hay Cam-Bốt... người Việt Nam chiếm được nhiều cảm tình hơn của các giống dân Âu Châu. Thông minh, cần cù và hòa nhã là những đức tính quý báu góp phần rất nhiều cho sự thành công của người Việt trong xã hội Pháp. Qua những lần trò chuyện, tôi được nghe nhiều người bạn Pháp bày tỏ rằng nụ cười của người Việt Nam ấm áp rất nhiều so với sự câm lặng kiêu hãnh của người Nhật; nét đẹp của phụ nữ Việt Nam sâu sắc thanh tú hơn tất cả những phụ nữ của các nước Á Châu; mỗi người đàn ông Việt Nam là một cái núi đá câm nín chịu đựng trước mọi thiên tai tuế nguyệt, nhưng đồng thời lại là một lò thuốc súng bất cứ lúc nào cũng có thể nổ tung....

            Dù chủ quan hay khách quan trong cái nhìn ấy thì vẫn là điều làm cho tôi thích thú. Vị thế nương nhờ đất khách hiện nay do đó mà cũng bớt dần đi nỗi ngậm ngùi riêng.

 

 

            Sàigòn, tháng 5/1979.

            Sàigòn là thủ đô của nước Việt Nam Cộng Hòa kể từ ngày 30/4/1975 trở về trước. Quốc Hội khóa 4 ngày 2 tháng 7/1976 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quyết định biến Sàigòn ra một thành phố với cái tên “Hồ Chí Minh”.

            Nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa miền Đông và miền Tây Nam phần, thành phố Hồ Chí Minh bắc giáp tỉnh Tây Ninh và tỉnh Sông Bé; đông giáp tỉnh Đồng Nai; tây và tây nam giáp tỉnh Long An; bao gồm 12 quận nội thành (quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Bình Thạnh, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận và 6 huyện ngoại thành (huyện Bình Chánh, Củ Chi, Hốc Môn, Nhà Bè, Thủ Đức và Duyên Hải.)

            .. .. ..

            Đoàn lưu lại thành phố ba tháng để tập tuồng mới và hát ra mắt tại các rạp thủ đô. Sàigòn đang giữa mùa mưa. Những cơn mưa thường bắt đầu vào ban đêm, rả rích kéo dài tới sáng cũng chưa dứt hột. Tâm tư người nghệ sĩ u sầu hơn khi thấy rạp vắng đi nhiều khán giả.

            Đêm khuya, đạp xe từ rạp hát trở về trong cơn mưa như trút nước, nhìn con phố buồn tênh với những dòng đèn vàng đứng trơ vơ hai bên lộ vắng, tôi chợt thấy Sàigòn gần gũi với mình hơn bao giờ. Kỷ niệm xô nhau sống dậy theo từng vòng quay của hai chiếc bánh xe...

            Mùa mưa là mùa của loài dế. Những con dế than, dế lửa, dế ốc tiêu và dế thầy chùa thi nhau bay nhảy khắp nơi rồi nhanh chóng bị các bàn tay con người chộp lấy cho vào rọ. Những con dế cơm bụ bẫm trở thành miếng mồi ngon khi người ta đem nó ra ngắt đầu, bứt cánh, rút ruột, nhét vào trong bụng một hạt đậu phọng và đem tẩm bột chiên lên.

            Suốt cả thời thơ ấu, tôi chưa lần nào có được cho riêng mình một con dế. Có lẽ vì thương những sinh vật bé nhỏ ấy nên tôi không muốn có, không muốn làm như đứa em trai đem nhốt dế vào trong cái hộp quẹt nhỏ xíu, bỏ thêm vài cọng giá sống làm thức ăn cho nó; thỉnh thoảng lại đem ra, bứt sợi tóc quấn quanh cổ nó rồi quay vòng vòng như một hình thức “vô nước” trước khi thả xuống đấu trường để tranh tài với một con dế khác.

            Tôi vẫn không ưa cái trò chơi tàn nhẫn như vừa kể; tuy nhiên tiếng gáy của dế lại là điều mê thích thật nhiều với tôi. Giữa khuya, khi trời đã tạnh cơn mưa, nằm nghe một tiếng dế cất lên, rồi cả đàn dế cùng cất cao điệu nhạc, thêm tiếng rơi của từng giọt nước rỉ ra từ máng xối xuống một cái thùng thiếc nào đó, thật không còn gì thê thiết cho bằng! Nghe nó khắc khoải, ray rức trái tim làm sao giữa một không gian ngủ yên như chết.

            Mùa mưa cũng còn là mùa thú vị đối với trẻ con. Những trận mưa dầm kéo dài cả ngày làm trở ngại bao nhiêu cho các sinh hoạt của người lớn thì với con nít, lại là một niềm thích thú đặc biệt bấy nhiêu. Trong những mùa mưa xa xưa, tôi vẫn thường đứng nhìn ra ngoài cửa sổ để xem đám trẻ cùng tuổi xóm sau rủ nhau ra ngoài mưa đùa giỡn. Từng tốp con nít vừa trai vừa gái, đứa cởi truồng nhồng nhộng, đứa mặc phong phanh cái quần cụt, chạy khắp làng trên xóm dưới, vừa chạy vừa la gào inh ỏi. Cứ đến mỗi cái máng xối của một căn nhà nào đó là lũ trẻ dừng lại tranh nhau đứng bên dưới luồng nước, xong, hè nhau chạy biến qua con hẻm kế bên.

            Trò tắm mưa càng bị cấm ngặt thì lại càng trở nên quyến rũ với chị em tôi mỗi khi mùa mưa tới. Trong chuỗi ngày thơ ấy, đã từng nhiều lần tôi đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài mưa, lòng bồn chồn thèm muốn. Ít ra hơn một lần tôi ao ước mình là một trong những đứa bé kia để được tự do chạy nhảy tìm cảm giác lạnh run khi ngoài trời, mưa đang rơi nhanh xuống.

            []

 

 

            Paris. Buổi sáng đưa tiễn người anh lớn ra Gare de Lyon trở về Marseille. Mười mấy năm rồi mới gặp lại, khuôn mặt anh đã già, mái tóc dài tới gáy đã điểm sương. Một tuần ở với nhau, nói biết bao nhiêu chuyện mà thấy còn chưa đủ. Trên sân ga tấp nập rộn ràng, hình như cả hai vẫn còn nhiều điều muốn kể cho nhau? Bốn năm rời bỏ quê hương, đây mới là lần đầu tôi gặp lại anh, một điều mà khi còn ở Việt Nam, tôi tưởng dễ làm và làm ngay được ngày nào đặt chân lên đất Pháp.

            Ở một thời điểm xa xưa nào đó phải đi bằng ngựa hằng mấy tháng để thăm nhau mà con người vẫn dễ dàng làm được! Còn bây giờ, chỉ một chuyến bay vài tiếng đồng hồ cũng khó lòng thực hiện cái điều biểu lộ tình thân cho nhau.

            Buổi sáng, trời mù hơi sương. Chuyến xe lửa tốc hành trờ tới. Mọi người kéo cao cổ áo, nối đuôi nhau bước vội lên bục gỗ. Anh xiết tay tôi: “Một điều anh muốn khuyên em là nên lập gia đình đi. Mẹ đã già, và cháu San cũng cần có một người cha.”

            Tôi cười nhẹ: “Chính vì nghĩ đến mẹ và cháu San mà em càng không muốn lập gia đình đó!”

            Người xếp ga giơ cao cái cờ hiệu trong tay. Còi tàu rú lên. Chuyến xe lửa lăn bánh từ từ giữa những cái vẫy tay giã từ tới tấp.

 

 

            Sàigòn, tháng 5/1979.

            Trời Sàigòn vẫn mưa từng chặp, lê thê, ướt át. Các đêm hát không còn đông khán giả. Những hàng ghế cuối trống trơn, phiền muộn. Trước cửa rạp, các người bán vé chợ đen đi lui đi tới, nét mặt ủ dột buồn thiu, trên tay cầm xấp vé ế. Tuy vậy, chiếc màn nhung vẫn được kéo ra đúng giờ và người nghệ sĩ vẫn phải cất lên tiếng lòng ai oán như lệ thường mỗi tối.

            Một đêm trong Sàigòn, trời mưa làm lười biếng nên tôi ngồi lại nơi vị trí của mình để xem từ đầu đến cuối một tuồng hát mà bốn năm qua, tôi đã nhiều lần xem không trọn. Vẫn bấy nhiêu y trang đẹp mắt, bấy nhiêu phong cảnh quen thuộc, nhưng giờ đây dưới cái nhìn của tôi, tất cả lại đổi khác. Nghe như có nỗi gì mới lạ trước tiếng cười nắc nẻ của khán giả theo mọi cử chỉ, hành vi của một anh hề nổi tiếng mà nhớ đến cái cảnh nghèo khổ nheo nhóc của gia đình riêng anh...: hoặc khi nhìn lên nhân vật uy nghi trong vai vị tướng cầm đầu ba quân trên sân khấu, tôi lại nghĩ nhanh đến hình ảnh một anh chồng đau khổ vì sự phụ bạc của người vợ ngoài cuộc đời.

            Ai đó đã nói: “Nghệ sĩ là những con người thương vay khóc mướn cho nhân thế.” Điều này thật đúng. Nhưng có mấy ai biết, với những nỗi buồn riêng, người nghệ sĩ đã chôn giấu tận sâu dưới ánh đèn màu, dưới lớp phấn son loè loẹt? Mấy ai biết, đàng sau cái cười kia là những dòng nước mắt và những khổ đau chồng chất được biến thành nghệ thuật để làm cho trọn vai trò khóc mướn thương vay?

            Trên một góc cạnh khác, đối với tôi, từng anh công nhân cũng là từng mỗi nghệ sĩ, dù chỉ trong bóng tối và không được ai biết đến. Sự thành công hay không của một đêm hát là do phần không nhỏ bàn tay của các người nghệ sĩ vô danh này góp vào. Tấm màn nhung phải căng ra thế nào cho đẹp; một góc sân khấu phải dựng phông và chiếu đèn sao cho sáng để vai trò diễn viên được nổi bật... cũng đều thoát thai từ nghệ thuật.

            Cái đời hát ca ngày tháng mua vui cho người không chỉ gói trọn trên bề mặt đẹp đẽ lòe loẹt của ánh đèn màu, của những tràng pháo tay rộn rã; mà còn gom tụ luôn cả những nỗi ê chề bên trong hậu trường khi tấm màn nhung khép lại trước những hàng ghế buồn phiền, trơ trọi. Người nghệ sĩ khi ấy trở về đời sống thật, đối diện với từng hoàn cảnh riêng. Những nụ cười rơi mất. Lớp son phấn bay đi. Nét hào hoa sân khấu được lột bỏ... để chỉ còn lại những mối ưu tư theo vợ yếu, con đau, giá sinh hoạt đắt đỏ và đêm lương không biết có được lãnh đủ không khi mà trời mưa làm thất thu cho đoàn hát?

            Son phấn rớt phô mặt đời thê thảm

            Gió mưa lên lận đận kiếp giang hồ

            Ôi! Khóc mướn thương vay –màn đã khép

            Lớp phong trần ai diễn giữa đêm mơ?(1)  

            Ngoài kia, mưa rơi và còn rơi như không cần biết đến những mối buồn riêng trong tâm tư người nghệ sĩ.

            []

 

  

 

 



(1) Thơ Trần Nghi Hoàng.