Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>


  

 

 

 

VI

 

            Paris. Một đêm mùa đông tuyết rơi trắng xóa, một anh bạn trong hội cựu quân nhân Việt Nam mời tôi cùng một nhóm bạn quen đến nhà anh dùng cơm. Tại đây, tôi gặp thêm ba người Việt Nam khác, hai nam một nữ, nói giọng Hà Nội. Anh bạn chủ nhà giới thiệu với tôi cả ba đều là bác sĩ, đến từ “bên kia giới tuyến” (lời anh bạn). Sau chuyến tu nghiệp ở Tiệp Khắc, họ trở về Việt Nam, ngang qua Paris phải đổi chuyến bay và phải ngủ tạm một đêm ở khách sạn phi trường. Vì không đủ tiêu chuẩn mướn phòng ngủ nên họ ngồi lại với nhau một góc nơi phòng đợi. Anh bạn chủ nhà của tôi khi ấy đang làm bồi phòng tại khách sạn, biết chuyện, bèn mời họ về nhà ngủ qua đêm, ngày mai đáp chuyến bay thẳng về Hà Nội. Cả ba đều trong cỡ tuổi từ ba mươi lăm đến bốn mươi.

            Buổi tiệc đêm ấy bỗng dưng biến thành đặc biệt. Nhóm ba người Miền Bắc trở nên là cái đích tấn công của bảy người Miền Nam. Chỉ riêng tôi và anh bạn chủ nhà là không đồng ý với thái độ thù hiềm không đẹp ấy. Vì vậy, anh cố dùng đủ mọi cách để màu sắc chính trị không bị pha trộn vào cuộc trò chuyện của hai nhóm Bắc-Nam.

            Anh bạn chủ nhà của tôi là một Đại úy Pháo Binh ngày cũ. Năm 1983, sau khi ở tù cải tạo ra, anh vượt biên đến đảo Mã Lai, được người vợ đi từ 1977 bảo lãnh sang Pháp. Qua đến nơi, anh mới hay rằng người xưa nay đà ôm cầm sang thuyền khác. Hai đứa con nhỏ giao lại cho anh nuôi, dấu tích duy nhất còn lưu lại trong cuộc đời chồng vợ của anh.

            Buổi tiệc đêm ấy, anh ngồi bên cạnh, nói nhỏ với tôi: “Mối hờn vong quốc dĩ nhiên là không quên được; nhưng dù sao những vị khách này cũng chỉ là một thứ nạn nhân như bọn mình. Họ đâu thể làm gì khác khi phải sinh ra và lớn lên trong Miền Bắc. Công kích họ làm gì thêm tội!”

            Tôi gật đầu đồng ý quan điểm ấy của anh. Nghe anh nói tiếp: “Biết đâu họ cũng có những hoàn cảnh đau thương như bọn mình đã trải? Kết luận làm gì một điều mình chưa hiểu rõ. Vấn đề chỉ là ‘cái nhìn’ duy nhất. Bây giờ mình nhìn họ là những kẻ đang cần một mái nhà để trốn lạnh, một chiếc giường để ngã lưng, thay vì ngồi bó gối nơi phòng đợi phi trường, nhìn tuyết rơi trắng xóa bên ngoài khung kính. Bấy nhiêu, tôi nghĩ là đã đủ để những gì liên quan đến chính trị khỏi cần phải đặt ra ở đây.”

            Tôi nói, anh làm tôi ngạc nhiên bởi không nghĩ rằng sau những tháng năm tù đày và những cay nghiệt gặp phải trên bước đường chồng vợ mà anh còn có được tấm lòng dạt dào như thế. Anh cười: “Có lẽ nếu không từng kinh qua những niềm thống khổ, chắc ngày nay tôi vẫn còn cái nhìn quá khích cực đoan như nhiều anh em khác mà thôi.”

 

 

            Đầu tháng 2/1979. Trở về Sàigòn.

            Chuyến lưu diễn Bến Tre gần hai tháng ròng đã chấm dứt. Tôi nghe xúc động vô bờ khi nhìn lại căn nhà màu gạch đỏ với các người thân. Mười năm dài phiêu bạt, lần đầu tiên tôi mới thực sự thấy gia đình là nơi cần thiết. Mười năm lang thang từ thành phố này qua thành phố khác với nỗi cô đơn chưa một lần gục ngã, với tuổi trẻ sôi nổi, cương quyết, vậy mà đến một lúc nào như hôm nay, tâm tư lắng lại, tôi chợt thấy mình yêu biết bao căn nhà đã sống từ khi còn bé có cả một kho tàng kỷ niệm ngủ yên dưới lớp bụi thời gian. Tôi nghe an tâm khi ẩn mình trong ấy. Nghe những buổi chiều mây xám giăng đầy trôi đi êm đềm trong căn bếp ấm thân yêu.

            Mười năm và một định mệnh nhiều giông bão, những chuyến khởi hành cô đơn, những dòng nước mắt lặng lẽ... đã cho tôi được một cái nhìn về hạnh phúc như ngày hôm nay. Hạnh phúc gói lại, đơn giản, nhẹ nhàng trong phạm vi một mái nhà bé nhỏ, trên ánh lửa chập chờn của căn bếp rộng mỗi bữa cơm chiều. Hạnh phúc cũng chan hòa trong đôi mắt thiết tha của người em nhỏ, trên khuôn mặt của bà mẹ già có mái tóc bạc phơ, có giọng nói mềm mỏng, dịu dàng như dòng sông Hương thương nhớ.

            Trong vườn tôi, hoa phù dung mới nở

            Ngày rất hồng và chim hót rất thanh

            Cửa nhà ai sáng nay vừa mới mở

            Người trở về gọi mẹ, gọi tên em...(1)

            Cánh cửa của căn nhà màu gạch đỏ cạnh bên gốc ổi trụi lá mùa đông có khi còn đóng kín, nhưng vòng tay và trái tim người mẹ hiền thì lúc nào cũng mở rộng để đón chờ một bước chân hoang.

            []

 

 

            Paris. Bên cạnh căn nhà tôi ở là một biệt thự xinh xắn của một cặp vợ chồng già người Pháp. Bà vợ đã ngoài sáu mươi nhưng trông khoẻ mạnh rất nhiều so với tuổi. Tính tình bà vui vẻ dễ chịu. Mỗi lần gặp tôi, bà đều chào hỏi rất niềm nở. Điều làm tôi lạ lùng là bà nhai trầu bỏm bẽm y hệt các bà cụ già người Việt. Môi bà đánh son đỏ thắm, nhưng màu đỏ của vôi quyện với trầu trong miệng e còn thắm tươi nhiều hơn. Mỗi lần có dịp đứng gần bà là tôi nghe nồng nàn nơi mũi một thứ mùi vô cùng ấm áp. Thứ mùi vừa dìu dịu của nước hoa trộn lẫn mùi trầu cau thơm ngát của quê hương tôi.

            Một lần tôi nghe bà kể, thuở xưa theo chồng sang Việt Nam làm đốc học ở Huế, bà có mượn một người đàn bà Việt Nam về làm vú em cho đứa con nhỏ hai tuổi. Ban ngày đứa bé chơi rất dễ chịu; nhưng cứ đêm là lại khóc đến khan cả cổ. Chẳng ai hiểu tại sao. Người ta cho gọi bà vú vào. Lạ thay, đứa nhỏ ngủ yên tới sáng. Thử đi thử lại, kết quả lần nào cũng đều như vậy. Sau cùng mới khám phá ra đứa nhỏ ghiền mùi trầu của bà vú già người Việt. Bữa nào vắng bà, nó trông biếng lười, không ngủ không chơi.

            Thế là cô đầm xinh đẹp học cách ăn trầu, món ăn quốc hồn quốc túy của người dân bản xứ. Ban đầu, ăn trầu chỉ là để lôi kéo đứa con nhỏ lại gần mình; sau, chính cô cũng đâm ghiền cái món đặc biệt này, y hệt mọi bà già trầu Việt Nam.

            Bà hàng xóm tôi cũng kể: “Ở Việt Nam ngót hơn hai mươi năm, tôi ưa thích lắm. Cái xứ gì mà thật là dễ chịu, tôi mặc nhiên xem như quê hương thứ hai của mình. Thời gian đầu mới bị tống xuất về Pháp, vì thiếu trầu cau nên tôi thật khổ sở. Mỗi lần gửi mua được từ Thái Lan, tôi quý ghê lắm.”

            Bà mỉm cười: “Mỗi quốc gia có một nền văn hóa riêng. Nước Việt Nam với hơn bốn ngàn năm văn hiến, ôi chao, có biết bao nhiêu điều đáng nói! Bây giờ đã già, tôi mới hiểu tại sao tôi lại ghiền cái món trầu cau đến vậy.”

            Và bà giải thích: “Không chỉ ghiền vì mùi thơm quyến rũ của nó, mà còn bởi vì nó biểu tượng được cho một khía cạnh văn hóa của dân tộc Việt Nam.”

 

 

            Hát Tân Uyên.

            Theo chỉ thị của Phòng Nghệ thuật Sở Văn Hóa Và Thông Tin Thành Phố Hồ Chí Minh, đoàn phải lên hát hai ngày 23 và 24 Tết tại vùng kinh tế mới Tân Uyên, thuộc Sông Bé, một tỉnh ở miền Đông Nam phần, bắc giáp nước Cam Bốt; nam giáp thành phố Hồ Chí Minh; đông nam và đông bắc giáp các tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, Đắc Lắc; tây giáp tỉnh Tây Ninh.

            Đây là đất của rừng cao su chảy dài như con sông, là “cái nôi” của chiến khu D một thời lừng lẫy. Sân khấu dựng ngoài trời. Chúng tôi được thu xếp ở trong những dãy nhà cất lên bằng ván, vội vã,  mỏng manh.

            Trời lạnh căm căm và có nhiều gió. Đêm tan hát, một số lớn anh em trong đoàn không ngủ, rủ nhau ra bãi đất trống sau lưng giàn sân khấu ngồi đốt lửa sưởi ấm qua đêm. Chúng tôi vây quanh khối ánh sáng lớn duy nhất trong toàn vùng kinh tế mới. Mỗi nhóm tự động nhặt nhạnh, tìm kiếm các cành khô củi mục tiếp cho ngọn lửa. Một số cùng nhau hát ca, trò chuyện. Một số vây quanh các chiếu rượu. Toàn vùng kinh tế mới lặng im trong giấc ngủ. Những người dân lam lũ suốt ngày theo nương rẫy, giờ đây thả hồn về trên những khung trời êm ái nhẹ nhàng hơn.

            Ngồi chung trong chiếu rượu của cả nhóm Tân Nhạc, trên tay cầm thanh củi dài khêu cao ngọn lửa mỗi lần sắp tắt, đầu óc tôi lan man theo những cảm xúc bất ngờ khi ấy. Địa danh chiến khu D cũng như nhiều địa danh nổi tiếng khác (Pleime, Đồng Xoài, Khe Sanh, Bình Giả...) là mồ chôn của biết bao nhiêu người Việt Nam trẻ tuổi. Ngày hôm nay, chiến cuộc đã yên, nhưng tên tuổi của họ thiên thu còn vang vọng thương đau trong tâm hồn các người thân.

            Tôi có người yêu chết trận Pleime

            Tôi có người yêu ở chiến khu D

            Chết trận Đồng Xoài,

            Chết ngoài Hà Nội,

            Chết vội vàng mình không manh áo...

            Bài hát Trịnh Công Sơn đã làm rung động không ít trái tim non dại của tôi thời gian mới lớn. Chiến tranh với những khía cạnh bi thảm của nó đã sớm nhồi vào đầu óc tôi những cảm xúc lạ lùng. Tôi đâm ngưỡng mộ bộ áo hoa rừng của những người lính tác chiến, ghi nhớ nằm lòng những địa danh đẫm máu. Tôi cũng thường đọc các cột “phân ưu” trong các nhật báo để tìm xem có tên người bạn, người quen nào đã vĩnh viễn ra đi mà tôi không hay biết?

            Tuổi trẻ của tôi không chỉ kết nên bằng những ước mơ tươi đẹp, mà nó còn ghi dấu rất nhiều những nỗi buồn khi nhận tin một người bạn giã từ cuộc đời trên một chiến trường nào đó, mỗi lúc hay ra một người thân đã hy sinh cho tổ quốc trong cái tuổi còn nhiều mộng mơ. Nghĩa trang quân đội Biên Hòa với các hàng mộ dài đề tên những người chết trẻ cũng làm cho tôi buồn không ít. Những con người chưa có dịp hưởng thụ các thú vui ở đời đã phải vội vàng rũ áo ra đi...

            Hơn mười năm trôi qua, bài hát của Trịnh Công Sơn đã chìm sâu trong ký ức thời tuổi nhỏ, không ngờ lại một đêm sống dậy dạt dào trong trí nhớ. Hình ảnh từng người bạn đã chết trong cuộc chiến năm xưa như hiện ra trên ánh lửa chập chờn. Đêm lạnh căm nơi vùng núi đồi kinh tế mới của chiến khu D một thời lừng lẫy. Đêm cũng ngập tràn trong tôi một màu đen đúa nhớ thương.

            Tôi có người yêu chết trận Ba Gia

            Tôi có người yêu vừa chết đêm qua,

            Chết thật tình cờ, chết chẳng hẹn hò,

            Không hận  thù, nằm chết như  mơ...

            []

 

 

            Paris. Tôi được mời đi dự buổi văn nghệ do một hội đoàn Việt Nam tổ chức tại Paris. Buổi văn nghệ chẳng có gì đáng nói, chỉ là sự lập lại của những màn ca vũ nhạc kịch ở phần đầu và phần sau là cuộc dạ vũ kéo dài từ nửa khuya tới gần sáng. Tuy nhiên, trong buổi lễ chào cờ, nghe ban nhạc tấu lại bài Quốc Ca Việt Nam và nghe những vị khách cao giọng hát theo, tôi không ngờ mình đã cảm động dường ấy.

            “Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi...”

            Tiếng hát vang lên khắp khán phòng, át hẳn tiếng nhạc, rền rền bên tai và xoáy vào tận cuối hồn tôi những niềm rung động dạt dào ngây ngất. Bản quốc ca này, tôi thuộc lòng từ khi còn bé, vậy mà chưa bao giờ nghe thấm thía yêu thương như trong tâm trạng của một đêm đi dự buổi văn nghệ ở Paris.

            “Hạnh phúc là những gì đã trôi qua” như ai đó đã viết.

            Thì hạnh phúc bất ngờ tôi bắt gặp lại chính là những thanh âm của dĩ vãng xa xôi đã làm tuôn trào không biết bao nhiêu cảm xúc ứ đọng lâu ngày trong trái tim câm nín. Cả một lịch sử hiên ngang ngất ngưỡng trở về. Từng triều đại đi qua rồi mất hút bỗng đứng lên sừng sững. Hồn thiêng sông núi như bừng sống dậy trên nét mặt những con người đang hiện diện; và tinh thần bất khuất ngạo nghễ của cổ nhân từ mấy ngàn năm qua cũng theo tiếng nhạc vọng lên trong khắp mọi nơi.

            Có điều gì ngậm ngùi hơn tiếng lòng của những con người mất quê hương đang phô bày trong giai điệu một bài quốc ca dĩ vãng? Còn điều nào xót xa hơn hình ảnh một nhóm người tha phương đất khách đang trang nghiêm chào lá quốc kỳ của một chính thể đã đi vào bóng tối xa xăm?

            Vậy mà, chỉ với ba phút cử hành bài Quốc Ca, tâm trạng tôi biến chuyển không ngừng biết bao cảm xúc. Mối sầu vong quốc bao trùm khắp cả khán phòng, len vào trong từng sớ tim, để tôi hiểu rằng không còn một bài ca nào khác trên đời tạo cho tôi nhiều rung động hơn bài Quốc Ca Việt Nam tôi đã được nghe lại một đêm giá rét ở Paris.

 

                       

            Sàigòn, tháng 2/1979.

            Đoàn nghỉ hát từ 25 tháng Chạp để chuẩn bị mừng năm mới. Chúng tôi được lệnh mồng Ba Tết sẽ lên đường lưu diễn Miền Đông.

            Năm ngày không hát, tôi cỡi xe đạp vòng vòng phố xá thăm bè bạn. Lại biết thêm những người bạn bỏ đất nước ra đi. Cũng thêm những người bạn đã chết. Chuyến ghe dài 7 mét của nhóm bạn tôi, ra khơi từ Cửa Đại, Bến Tre vào tháng trước, đã chìm lỉm dưới những cơn sóng bạc đầu. 13 người chết. Chỉ một người sống sót, trôi vật vờ suốt đêm trên sóng; sau, được tàu quốc doanh vớt lên.

            Đêm 30 Tết, nơi chiếc quán dốc cầu Trương Minh Giảng, tôi và hai người bạn ngậm ngùi ôn lại chuyện xưa. Trời có gió lạnh ngan ngát. Mùi bùn từ dưới gầm cầu bốc lên tanh ói. Tôi nghĩ đến những người bạn đã chết. Nghĩ đến những kỷ niệm vẫn có với họ ngay nơi chiếc quán này. Đêm 30 năm xưa, chúng tôi còn ngồi với nhau, uống từng cốc rượu và uống cả nỗi suy nghĩ của nhau. Bạn bè chia thành hai nhóm chủ trương: ra đi và ở lại. Nhóm này đả kích nhóm kia, hăng say kịch liệt; để rồi khi giao thừa đến, vẫn nâng cốc chúc mừng nhau thêm một tuổi đời mới.

            Đêm 30 năm nay, phần lớn nhóm bạn ngày nào đã vùi thây dưới biển. Cơn mộng vỡ tan rồi. Cảnh cũ còn đây mà người xưa đâu mất? Có còn chăng chỉ là nỗi ngậm ngùi rơi xuống trên những người ở lại, đêm 30 ngồi khóc bạn bằng những ly rượu đắng giữa một giòng đời đang vội vã đón chào Xuân...

            Đâu đây, tiếng pháo giao thừa bắt đầu nổ vang lên.

            []

 

 

  

 



(1)  Không nhớ của ai?

Bài 06