V

 

            Đêm ở Anvers (Belgique)

            Sau suốt một chiều tối uống với nhau những chai cham- pagne để mừng Daniel vừa trúng một giao kèo với đài truyền hình RTL Hòa Lan, năm người chúng tôi bước vào một quán rượu cạnh bên hải cảng Anvers, lúc đã khuya. Quán vắng lạnh lùng với dăm ba chàng thủy thủ ngồi cúi đầu uống rượu. Lão chủ già ngủ gục sau quầy. Ánh đèn hắt hiu vàng vọt. Cái máy hát nơi góc phòng cứ quay mãi không ngừng âm điệu buồn bã của bản nhạc Merci Chérie.

            Đêm đẹp quá! Lãng mạn quá! Tiếng còi tàu dưới cảng rít lên từng chặp nghe buồn áo não. Cơn gió ngoài khơi thổi vào nhuốm đầy hơi hướm biệt ly. Hương champagne váng vất trong đầu làm cho đôi mắt thấy ra rằng đêm càng tuyệt đẹp. Và rồi bên tai như một nỗi giục giã của Định Mệnh, những âm thanh nghẹn ngào vẫn từ cái máy hát cất lên:

            Merci chérie, toi, l’amour de ma vie

            Merci chérie pour les heures que tu m’as donné

            Adieu! J’ai des larmes dans les yeux

            Je dois m’en aller

            Je dois te quitter

            Mon coeur blessé, blessé

            Je sais que tout va finir

            Merci chérie!

            Adieu chérie!  

(Cảm ơn người yêu của đời anh

Cảm ơn những lúc hạnh phúc em đã mang cho anh

Vĩnh biệt em! Đôi mắt anh ứa lệ

Anh phải ra đi

Đành từ bỏ em

Trái tim tan nát

Anh biết rằng tất cả đang chấm dứt

Cảm ơn em!

Vĩnh biệt em!)

 

 

            Lưu diễn Chợ Lách, Bến Tre.

            Chợ Lách là một trong ba huyện của cù lao Minh, thuộc tỉnh Bến Tre. Con sông Tiền chảy đến vùng Cái Bè, Vĩnh Long thì mở ra ba chi lớn: sông Mỹ Tho với hai cửa Tiểu và Đại; sông Hàm Luông; sông Cổ Chiên với hai cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Ngoài ba chi ấy còn có sông Ba Lai nằm giữa sông Mỹ Tho và sông Hàm Luông. Bốn con sông này tạo thành ba dải cù lao: cù lao Bảo, cù lao Minh và cù lao An Hóa.

            Cù lao Bảo gồm các huyện Châu Thành, Giồng Trôm, Ba Tri và thị xã Bến Tre. Cù lao An Hóa là huyện Bình Đại. Phía biển của cù lao Bảo và cù lao An Hóa có Cồn Hố, thấp và xanh um cây cối. Cù lao Minh gồm các huyện Chợ Lách, Mõ Cầy và Thạnh Phú. Ngoài biển cũng có cồn.

            .. .. ..

            Tháng 1/1979, đoàn di chuyển qua Chợ Lách, dựng rạp trên một bãi đất rộng. Nhân viên đoàn được phân phối cư ngụ trong các mái tranh của dân địa phương.

            Trời đêm sáng trăng. Giữa các đoạn tạm nghỉ phần đệm Tân Nhạc của đêm trình diễn, tôi vẫn ưa thích ngồi chồm hổm trên mặt đất nơi một góc hậu trường, nghe các anh công nhân kể chuyện. Trong đoàn hát 120 người thì giới công nhân chiếm đến hơn một nửa. Đa số bọn họ không được học hành đầy đủ. Có người lại chẳng hề biết đến trường học là gì. Tuy nhiên, vốn liếng hiểu biết của họ về cuộc đời làm cho tôi vị nể. Những kinh nghiệm sống, những chuyến đi góc bể chân trời đã là những ngôi trường quý báu họ từng theo học nhiều năm qua.

            Trong các câu chuyện kể, cái thế giới được nghe hoàn toàn khác xa với thế giới rực rỡ đầy màu sắc mỗi đêm tôi vẫn thấy. Ở đây, tôi hình dung ra những lũy tre xanh, những xóm thôn mộc mạc mà các con người này từng phải giã từ trong nuối tiếc. Ở đây, tôi tưởng tượng ra cặp mắt đã khô đôi giòng lệ của các bà mẹ già mãi ngóng tin con. Ở đây không phải là ánh đèn màu với những hào quang lộng lẫy. Ở đây chẳng phải là tình nghĩa đổi thay mau lẹ như những chiếc áo cần đổi thay cho hợp cảnh, hợp màn.

            Một anh công nhân kể với tôi:

            “Má tui rất mê Cải Lương. Đi đâu bả cũng khoe với chòm xóm là có con đi theo gánh hát. Bả tưởng tui làm ông to bà lớn nào trong gánh hát, dè đâu tui chỉ là một thằng vác phông. Tui vẫn ước ao một lần gánh tui ghé về quê cũ để đón má tui đi coi Cải Lương cho đã. Tội nghiệp, tui biết bả hà tiện, mê thì mê vậy chứ đâu dám bỏ tiền mua vé đi coi. Một lần lâu lắm mới được về hát ở gần chỗ tui ở. Tui mừng rơn, theo đò về rước má tui. Tự nghĩ phen này bả sẽ được hãnh diện chừng nào với bà con chòm xóm. Nào dè khi gặp, tui mới hay là đôi mắt bả đã mù!”

            Một anh khác nói:

            “Tía tui thì lại khác với bà già anh. Ổng có chút chữ Nho ông nội tui để lại nên cho Cải Lương là xướng ca vô loại. Ổng dạy tui rất nghiêm, đánh tui dữ lắm. Ổng muốn tui lớn lên làm thầy thông thầy ký cho ổng nở mày nở mặt. Kẹt cái là ổng có vợ nhỏ. Má tui chết hồi tui còn chút xíu. Vì vậy, không chịu nổi những lời đâm thọc của bà dì ghẻ, tui bỏ nhà trốn theo gánh hát, đi miết không về. Cấp đó tui mới chừng 12, 13 tuổi. Một bữa tía tui nghe nói làng kế bên có rước gánh tỉnh về hát Tết. Ổng chèo ghe qua kiếm tui. Nào dè ổng bị Tây đi ruồng bắn chết. Hay tin, tui khóc quá trời. Bây giờ cứ ngày Tết là tui nhớ ổng, van xin ổng tha cho tui cái tội bất hiếu.”

            Cải Lương là một giới vẫn bị mang tiếng đổi vợ thay chồng nhanh như thay áo. Điều này không hẳn đúng với giới công nhân. Có những cặp vợ chồng ăn ở với nhau năm này qua năm khác trên chỉ một góc hậu trường một cách êm đềm đằm thắm. Có những con người lo lắng từng chút một cho nhau bằng cung cách thành thật hiếm thấy nơi một giới cao hơn.

            Một lần, tôi nghe một anh công nhân bày tỏ:

            “Tui và vợ tui lấy nhau hồi hai mươi tuổi khi cùng đi theo gánh hát; ở với nhau có một mặt con mà chẳng hôn thơ hôn thú gì ráo. Cấp tui bị bắt đi quân dịch mấy năm, tưởng bả đi theo người khác, dè đâu bả vẫn ở vậy chờ tui. Chừng gặp tui, bả mừng hết cỡ, cứ đứng ngây mà ứa nước mắt.”

            Một anh khác tâm sự:

            “Dẫu gì thì vợ tui hồi xưa cũng là con nhà có vườn có ruộng. Chỉ vì thương tui mồ côi nên trốn nhà đi theo gánh hát với tui. Bả lại có sắc nên không thiếu gì kép hát quơ quào chọc ghẹo. Vậy mà bả không ưng, lại còn nói gái chính chuyên chỉ lấy một chồng!”

            Cách bày tỏ của những con người lao động này đơn sơ nhưng hàm chứa cả một tấm tình sâu sắc. Mối liên hệ gia tộc hay cái nghĩa tào khang được họ trân trọng còn đậm đà hơn trong các vở tuồng vẫn hát mỗi đêm. Sân khấu và cuộc đời đâu có gì khác biệt? Điều quan trọng là làm sao nhận chân cho ra giá trị của sự việc bên dưới lớp bề ngoài thô thiển đơn sơ.

            []

 

 

            Paris. Nửa đêm tỉnh giấc, tôi chợt rùng mình theo tiếng gió rít luồn qua lò sưởi. Giấc mơ về đứa em gái út sao thật là buồn! Biết bao hình ảnh xô về trong trí nhớ. Bao kỷ niệm sống dậy giữa bóng tối mông lung... Cái đêm em ra đi, gió cũng rít nhiều như vậy, mẹ tôi thường nhấn mạnh điều đó. Chuyến đi không bao giờ tới, để lại trong tim mẹ già một lỗ thủng lớn không bao giờ còn lấp được cho đầy.

            Năm năm rồi kể từ đêm ấy, cứ mỗi lần nghe tiếng gió rít giữa khuya là lòng tôi lại nhói đau, tưởng như có tiếng ai đang từ cõi xa xăm vọng lại. Giây phút cuối cùng của em trên biển lạnh sao cứ làm tôi suy nghĩ? Đêm đen. Biển đen. Bản năng sinh tồn bị dìm xuống tận cùng bởi Thần Chết mặc áo màu đen. Giây phút tuyệt vọng ấy, em đã nghĩ đến điều gì? Khung trời ấm áp có gia đình hiện diện? Khuôn mặt mẹ hiền có mái tóc bạc phơ? Hay là hình ảnh một người yêu, người bạn nào em đã bỏ lại nơi thành phố?

            Năm năm qua rồi mà trong trí tôi, nỗi thắc mắc này cứ còn quanh quất. Đó là niềm đau, một ám ảnh nặng nề đeo đẳng hoài giữa trái tim tôi.

 

 

            Thạnh Phú, Bến Tre, cuối tháng 1/1979.

            Trừ các lần di chuyển bằng đường thủy và xe lửa, đa số các chuyến lưu diễn của đoàn đều sử dụng xe đò quốc doanh, được ban Ngoại Vụ ký giao kèo thuê mướn với công ty xe khách mỗi lần đổi bến.

            Sau 1975, giống như ngành ca hát, ngành giao thông vận tải đường bộ cũng đã vướng vào cái nạn vé chợ đen. Vì vậy, như một thỏa hiệp ngầm, trên những chuyến xe đò mang bảng hiệu đoàn, ban quản trị đã mặc cho những người lơ tự do rước một số khách ngoài để kiếm thêm lợi tức. Số khách này hầu hết là người đi buôn xa; với một chỗ ngồi hay đứng phía sau đuôi xe, họ phải trả một giá gấp ba so với giá chính thức.

            Hệ thống công an giăng ra chằng chịt trên khắp các quốc lộ để chận xét, tịch thu các món hàng của người đi buôn lẻ. Đã có nhiều việc đáng tức cười pha lẫn thương tâm xẩy ra trong khía cạnh này. Trên đường đi Hậu Giang, có những người đàn bà quấn quanh đùi, bên dưới chiếc quần đen ống rộng, những tảng thịt heo, mỡ heo để qua mặt nhân viên nhà nước. Trên các chuyến xe lửa Sàigòn - Hà Nội cũng đã có nhiều người đàn ông khoẻ mạnh, một cánh tay bó chặt bằng vải bố ôm vòng thanh sắt giáp nối giữa hai toa xe, cánh tay còn lại đón bắt những túi gạo nặng 10 đến 20 kí từ các người buôn chung, đứng dọc dài dưới đất, nơi chuyến xe lửa lăn bánh chậm lại trước khi vào ga chính. Sau đó lập tức, các túi gạo này được các người bên trong toa xe đón lấy và cho tẩu tán.

            Cũng trên những chuyến xe lửa, quãng đường Tuy Hòa-Vạn Giã, khi công an lên khám xét, đã có những người đi buôn lẻ vội vàng leo lên mui xe lẩn tránh. Chuyến xe chuyển bánh, chui vào đường hầm. Những con người đáng thương này bất ngờ bị gạt té, thân thể nát nhừ dưới lằn bánh sắt.

            Trên những lộ trình lưu diễn, chúng tôi gặp rất nhiều người đi buôn lẻ đón chuyến xe đoàn. Cứ sắp đến một trạm gác là những bịch trà, bịch cà-phê, tôm khô hay bất cứ thứ gì cũng có thể được quẳng nhanh vào chỗ ngồi của nhân viên đoàn ngay khi ấy để qua mặt công an.

            .. .. ..

            Con đường bộ từ Chợ Lách qua Thạnh Phú rất gập ghềnh lồi lõm. Những lúc gặp phải một cái ổ gà, chiếc xe đò nhẩy chồm lên làm cho mọi người bỗng dưng giống như đang chơi trò nhào lộn.

            Có một hình ảnh khiến tôi không sao quên được. Khi chiếc xe chạy qua khỏi một bệnh xá ở ngoại ô châu thành Thạnh Phú thì được đón lại. Có tiếng khóc nghẹn ngào đau đớn. Có vài người lố nhố trên đường. Những người này đón chiếc xe đoàn để xin chở cái xác một người thân vừa chết ở bệnh xá. Xác chết được bó lại trong một chiếc chiếu, hai bàn chân vàng ệch khô héo ló ra ngoài. Người đàn ông độ 40, vẻ chịu đựng, đã nói với ban quản trị đoàn rằng vợ ông ta, 29 tuổi, chết vì ung thư máu. Giọng ông run run như vướng đầy lệ. Người ta thu xếp nhanh một chỗ nằm cho người vắn số trên mui xe.

            Tự dưng, tôi nghe xúc động kỳ lạ. Chẳng hiểu tại sao? Có lẽ nguyên nhân phát sinh từ đôi bàn chân người đàn bà ló ra bên ngoài chiếc chiếu? Chiếc chiếu ngắn quá không đủ làm ấm chân người chết? Hay là bà mẹ quê hương nghèo khổ quá không đem được cho đàn con  những vật chất bình thường?

            Tôi cũng tự hỏi, trên tầng mây kia, biết linh hồn người chết trẻ có thấy an bình hơn khi cúi nhìn lại cái mui xe đã dằn xóc thân thể bà không chút nào xa xót? Và ở thế giới mới lạ bà vừa đặt chân đến kia có được êm đềm hơn vùng quê cũ đau thương?

            Những điều này cứ ám ảnh và ám ảnh tôi hoài trong suốt chiều tối đầu tiên đặt chân đến Thạnh Phú.

            []

 

 

            Paris. Viết cho Hạnh.

            Hạnh thương nhớ,

            Thư này đến thì đã gần Tết, em cầu chúc Hạnh và bé Thương Thương một mùa Xuân êm đềm, hạnh phúc.

            Bên này đang giữa mùa Đông nên trời rất lạnh. Mấy hôm nay, nhiệt kế xuống đến 20 độ dưới không độ. Tuyết ngập đầy phố. Mùa Đông này, ai cũng bảo lạnh hơn mọi năm.

            Em hiện đang làm việc trong một quán café ở Paris, đồng thời hợp tác với một ban nhạc Pháp, đi trình diễn khắp nơi, luôn cả ở ngoại quốc. Mỗi lần đi như vậy là em lại phải giao phần việc ở quán café cho một cô bạn nhận giùm. Cũng may, mình được bà chủ quán thương. Bà này có chồng đi lính ở Việt Nam thời trước, rất có cảm tình với dân Việt Nam. Vì vậy, việc làm không mất sau mỗi bận đi xa.

            Đời sống Âu Châu không dễ dàng, Hạnh ạ. Con người phải chạy đua từng phút với thời gian mới mong theo kịp đà tiến của xã hội. Em cũng bị quay cuồng như thế suốt hai năm đầu ở Pháp. Nhưng giờ thì đã quen. Giờ thì em vẫn có đôi lúc rảnh rỗi đi uống café, tìm lại con người thật của mình, tìm lại quãng thời gian đã mất. Những khi ấy, em thật nhớ Sàigòn và nhớ Hạnh.

            Chiều hôm nay, trời Paris rất đẹp. Mây xám chập chùng giăng phủ. Những hạt tuyết mỏng rơi nhẹ trong không gian trông giống như những sợi bông gòn tả tơi bay trong gió. Cũng có lúc, em như thoát được ra ngoài sự quay cuồng của cuộc sống để lắng lòng mình trước một khung trời bao la, man mác. Và sao thật kỳ lạ, em cứ gợi nhớ hoài những ngày tháng chúng mình lưu diễn Mũi Né, chỉ riêng em và Hạnh trú lại trong căn nhà gỗ lẻ loi trên bãi cát của người đàn bà có chồng đi biển xa.

            Kỷ niệm đối với em là những điều quý giá, là một phần hạnh phúc cuộc đời mà khi về già, mình hưởng được rất nhiều ấm áp từ nó. Thì, trong năm năm trời phiêu bạt, Hạnh và em đã có không biết bao nhiêu kỷ niệm với bạn bè. Chúng mình không thể chối được điều rằng, đời sống Cải Lương với những chuyến lưu diễn dài đã là những tư liệu quý báu giúp tâm hồn mình phong phú, dù rằng cũng chính đời sống ấy đã làm mất đi của mình phần nào cá tính nguyên sơ.

            Chiều nay, em nghe lòng yên bình quá. Điều này thật quả hiếm hoi trong cuộc sống quay cuồng ở đây.

            Hạnh thương nhớ,

            Năm nay em lại đánh rơi một mùa Xuân nữa trên quê hương. Giờ đây chỉ nghĩ đến những ngày cuối năm, đường phố Sàigòn ngập đầy các hàng pháo đỏ, bánh chưng xanh xếp cạnh các gốc mai vàng ối và những chồng dưa hấu chín mọng, lòng em như thắt lại. Người Việt Nam xa xứ gần như chẳng Tết nhất gì cả. Đó không phải là lễ của người Âu Châu nên dân Việt Nam vẫn phải đi làm trong ba ngày thiêng liêng ấy.

            Buồn lắm, Hạnh ạ!

            Em tạm ngưng. Cho em hôn bé Thương Thương.

            Thân ái.

 

 

            Đêm cuối cùng ở Thạnh Phú.

            Tan hát xong, đoàn phải di chuyển ngay bằng ghe lúc 12 giờ khuya cho kịp qua Châu Hưng ngày kế tiếp. Cả 120 người đều không ngủ, thu dọn, gồng gánh xuống thuyền, tiếp tục lộ trình lưu diễn.

            Trên những phiến gỗ dài xếp ngổn ngang bên cạnh bến đò, tôi ngồi chuyện trò cùng người bạn chơi trompette. Bầu trời trong vắt không một gợn mây. Muôn ngàn vì sao sáng ngời, lấp lánh. Bóng tối bao trùm sâu chung quanh ngọn đèn dầu lớn trong tay anh tổ trưởng Dàn Cảnh để chỉ huy các tổ viên làm việc. Những gánh cháo khuya, nơi đầu gióng lơ lửng ngọn đèn mờ, theo chúng tôi đến tận bến đò để mong vớt vát thêm vài đồng bạc cuối.

            Đêm mang một mùi thơm huyền bí. Cây đa già nơi chiếc quán đầu ngõ chợ âm thầm yên ngủ. Những bụi lau xôn xao theo bước chân đoàn người lữ thứ. Xa xa, ở tận cuối làng, tiếng chó tru buồn thảm nghe như tiếng ma gào quỷ khóc, hòa hợp với bản tấu khúc đơn điệu của các loại côn trùng, càng làm cho đêm tăng thêm mùi huyền bí.

            Có những lúc lặng yên, tôi ngắm nhìn các vì sao. Các vì sao tôi yêu từ khi còn bé. Các vì sao trong truyện kể của Alphonse Daudet(1) đã được khắc sâu trong ký ức tuổi thơ. Các vì sao làm giàu cho trí tưởng tôi khi tin rằng điều mình ước sẽ thành nếu có một vì sao băng ngang khi ấy. Các vì sao vẫn theo tôi góc bể chân trời trên bước đường đây đó lãng du.

            Tôi cũng nghĩ đến cuộc sống giang hồ hiện tại. Những đêm hát khuya, ít ngủ. Những sáng thức giấc sớm lên đường. Đôi mắt trũng sâu và cả thân hình hao gầy mòn mỏi. Nhưng bù lại, như một ân sủng của Thượng Đế, là những mối xúc cảm trong hồn vẫn còn lai láng trước một thiên nhiên huyền bí. Và tôi cho rằng đó chính là điều may mắn lớn, Thượng Đế đã đưa đến trong cuộc đời tôi.

            []

 

 

            Paris. Đêm, trở về nhà muộn, ngồi chuyện trò ít phút với mẹ già, nghe bà than phiền về sự ăn ngủ thất thường của tôi. Tôi lặng im nhớ đến buổi tối làm việc nhọc nhằn ở quán café, muốn tâm sự với bà bao nỗi khó khăn trong cuộc sống. Và tôi bâng quơ bày tỏ: “Tự nhiên sao lại bỏ xứ ra đi để làm tôi làm mọi cho kẻ khác. Bây giờ mới đầu mùa thu mà con đã nghe sợ hãi quá mùa đông...”

            Giữa hai mẹ con bỗng dưng có một sự im lặng rất ngậm ngùi.

            Một câu nói của bà khiến tôi điếng lòng không ít: “Nhiều ngày tháng khi con đi làm hay đi trình diễn xa, thằng San đi học, mẹ cứ đi lui đi tới trong nhà mà không biết làm gì để thì giờ trôi qua cho hết.”

            Tôi đâm bặt ngang mọi ý nghĩ riêng, nghe một chút xấu hổ dấy lên trong lòng. Và tôi nhìn lại khuôn mặt già nua thân yêu dường ấy mà tưởng như lần đầu mới gặp...

            Tôi hiểu nỗi cô đơn của mẹ tôi, của những người già trong cảnh sống cách xa vùng quê cha đất tổ. Hiểu cái tâm trạng vời vợi buồn, mỗi ngày phải bó gối trong nhà nhìn tuyết rơi tầm tã ngoài song. Quê hương, bà con, xóm giềng, làng mạc... tất cả đều xa xôi quá! Gần gũi chỉ còn lớp con phải đầu tắt mặt tối với đời sống; lớp cháu thì lại thuộc một thế hệ khác đã bị Âu hóa phân nửa hay gần trọn cả rồi. Cứ vậy mà nỗi buồn ngày một tăng trong trong tâm hồn những con người già nua đáng thương ấy; nỗi cô đơn bám dính, có khi gần xuôi tay nhắm mắt, còn chưa một lần rời khỏi trái tim.

 

 

            Cuối tháng 1/1979. Lưu diễn Châu Hưng, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

            Có những kỷ niệm và những nơi chốn một đời tôi vẫn  nhớ. Năm ngày ở Châu Hưng cũng vậy. Đây là một xã rất nhỏ thuộc huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Trước 75, muốn đến Châu Hưng, không thể đi bằng đường bộ vì sợ trúng mìn Việt Cộng; phải đi bằng đò máy, bến đậu đặt tại vựa trái cây Mỹ Tho, xuôi theo dòng sông Cửu Long. Một làng quê hẻo lánh không có tên trên bảng đồ nước Việt. Nơi đây, tâm hồn con người đơn sơ, dễ chịu. Các mái nhà tranh nhỏ xíu nằm gọn lỏn trong những khu vườn um tùm cây trái. Những con đường mòn im lìm, mát rượi chen giữa các bụi tre chỉ đủ cho một người đi qua.

            Ngôi nhà tôi và hai người bạn xin trú tạm là của một ông cụ hiền lành, sống lẻ loi đơn chiếc; một năm đôi lần mới có cô con gái bế con từ chợ Mỹ Tho đáp thuyền về thăm.

            ......

            Ngay từ buổi đầu đến đây, tôi đã được nghe anh em đoàn kháo nhau về một “ngôi chợ ma” chỉ nhóm từ lúc nửa đêm cho đến cuối canh năm gà gáy. Đêm thứ nhì sau khi tan hát, chúng tôi một bọn bốn người đi bộ ba cây số đường làng, tìm đến ngôi chợ ma.

            Chợ họp trong một cái đình. Bên ngoài trời tối đen, bên trong nhuốm đầy vẻ liêu trai huyền hoặc. Người ngồi co ro như xác chết. Người đi lui, tới như bóng ma. Các tia ánh sáng chập chờn nhảy múa trên hai bức vách. Từng mảng bóng tối ẩn núp, rình mò. Đó đây, tiếng mời chào, trả giá nghe thật mơ hồ thăm thẳm. Thỉnh thoảng có cơn gió lạnh lùa vào, giống như một linh hồn vừa thoát trần gian đến xin nhập cuộc.

            Tôi mở to đôi mắt, không ngờ rằng trong đời lại có lần bắt gặp hình ảnh hãn hữu quý giá đến vậy. Giữa một thời đại mà con người đã đặt chân lên tới tận cung trăng thì trong đất nước tôi vẫn còn tồn tại một ngôi chợ liêu trai kỳ ảo! Ánh sáng văn minh không soi tới được nơi này. Thật là chua xót, nhưng sao cũng thật ngậm ngùi xúc động.

            Ngang qua một hàng xoài, một bà cụ già đưa nụ cười móm mém ra chào khách. Tôi ngồi xuống lựa mua dăm trái, rồi hỏi bà do đâu mà chợ lại họp vào lúc nửa khuya? Bà kể, từ thời Pháp thuộc, để tránh máy bay địch hay bỏ bom ban ngày, dân trong xã phải họp chợ vào buổi tối. Cái lệ ấy mấy chục năm sau vẫn không thay đổi.

            Tôi uống từng câu kể của bà –một chứng nhân lịch sử- về cái thời xa xưa đó. Hình ảnh những người dân quê băng đồng, lội ruộng tìm đến với nhau, ngồi bên nhau đôi giờ trong đêm như những bóng ma vất vưởng luyến lưu trần thế, không những bi thương mà còn là tuyệt vời nữa. Trái tim tôi thắt lại. Cả tâm hồn tê buốt, lạnh căm.

            Ngoài kia, ánh sáng trên mình những con đom đóm lập loè, ẩn hiện. Cơn gió lạnh vẫn lùa qua từng lúc, tựa như tiếng thở dài của những linh hồn u uất còn lẩn quất đâu đây...

            Đêm chưa tan và ngày chưa tới…

            []

 

 

 



(1)  Alphonse Daudet, nhà văn Pháp (1840-1897) rất nổi tiếng với tập Lettres de mon Moulin được viết ra năm 1866. Câu chuyện Các Vì Sao là một đoản thiên trong tập ấy.


Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

Bài 05