Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

Bài 04

  

 

 

 

 

 

IV

 

            Liège (Belgique). Có một điều rằng, từ ngày ra đi khỏi xứ, tôi chẳng hề có lấy một người bạn thân. Dù rằng tôi vẫn giao thiệp, vẫn gặp mặt nhiều người Việt Nam tại Paris, nhưng cái ý nghĩ tìm được một người nào đó để kết thành bạn thiết, quả thật vô vọng xa vời. Dạo mới ra đi, có đôi lần tôi tự hỏi, người Việt Nam nơi xứ người đổi thay nhiều quá, hay chính tình cảm tôi đặt để cho vai trò “một người bạn” còn cao quá đã khiến tôi không thể có bạn? Thì cả hai điều đều đúng trong kết luận khi ấy của tôi. Tôi không thể nào còn tìm được một người bạn để cùng chia một mẩu tâm sự, chia những cảm xúc của một buổi chiều khi hoàng hôn đang xuống. Sự cô đơn và thiếu thốn tình bạn, tôi nghĩ, là thực trạng chung của nhiều người Việt xa quê hương.

            Bốn năm sau, cái nhìn tôi đã thay đổi. Một câu luận đề được làm từ khi còn bé cứ trở đi trở lại hoài trong óc: “Ta sẽ không bao giờ có được tâm hồn ta của buổi chiều hôm nay” (Jamais, nous n’aurons l’âme de ce soir). Câu văn thấm thía lạ lùng. Không phải rằng tôi hay những người Việt Nam khác thay đổi, mà chính là tất cả đã bị Thời Gian làm cho đổi thay đi.

 

 

            Tháng 12/1978, hát Tân An, tỉnh Long An.

            Lại một chuyến lưu diễn Miền Tây, mở đầu là năm ngày ở Tân An. Những chuyến đi làm rạc gầy thân thể, rớt rơi vật chất, nhưng kinh nghiệm và hiểu biết về quê hương trong tôi trở nên dồi dào, phong phú. Phải nhận là một may mắn lớn khi tôi gắn một phần đời mình vào cuộc sống Cải Lương. Những chuyến đi góc bể chân trời, những vùng đất xa xôi hẻo lánh, những bến xe, bến đò đầu ghềnh cuối bãi... từ đó đã giữ một vị trí quan trọng trong kỷ niệm để không bao giờ còn quên lãng được.

            Long An là tỉnh thứ nhất của miền đồng bằng Nam Bộ, hiện nay gồm tỉnh Tân An cũ, một phần tỉnh Chợ Lớn cũ và tỉnh Hậu Nghĩa gom chung lại; bắc giáp tỉnh Tây Ninh; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông giáp thành phố Hồ Chí Minh, nam giáp tỉnh Tiền Giang.

            Đời nhà Nguyễn, Long An được gọi là phủ Tân An gồm các huyện Cửu An và Phước Lộc, thuộc tỉnh Gia Định.

            Khi Pháp mới đặt chân vào đất Nam Kỳ, dân chúng Long An chống trả quyết liệt dưới sự lãnh đạo của vị anh hùng Nguyễn Trung Trực. Trận đánh tàu Espérance của Pháp là một chiến công hiển hách. Vào giữa trưa ngày 11/12/1861, Nguyễn Trung Trực cùng 150 chiến hữu bày mưu xông vào đốt chiến thuyền Espérance do Trung tướng Parfait chỉ huy tại Rạch Vàm Cỏ bên làng Nhật Tảo. Chiến công táo bạo này được dân chúng miền đồng bằng Nam Bộ lưu lại trong hai câu thơ:

            Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

            Kiếm bạc Kiên Giang khấp quỷ thần.

            .. .. ..

            Tân An là thị xã chính của quận Thủ Thừa, tỉnh Long An, nằm trên bờ hữu sông Vàm Cỏ Tây. Từ  Sàigòn đổ về Mỹ Tho, qua khỏi cầu Bến Lức là thuộc tỉnh Long An. Nơi đây nổi tiếng về quả khóm (còn gọi là quả thơm), trái to, dài, ngọt lịm. Có quả nặng đến 3, 4kg. Miền Nam có nhiều trái lành cây ngọt, nhưng hễ nói đến khóm là người ta nghĩ ngay đến khóm Bến Lức, Tân An.

            Trong Long An còn có trường Sư Phạm và lăng mộ cụ Nguyễn Huỳnh Đức, một vị công thần đời nhà Nguyễn và cũng là Tổng trấn Gia Định thời vua Gia Long (1816). Cả hai đều nằm trên đường Quốc Lộ 4, hướng tay phải từ Sàigòn đổ xuống Miền Tây.

            … … …

            Cứ mỗi điểm hát, ban ngoại vụ đoàn có nhiệm vụ liên lạc, sắp xếp chỗ ở cho nhân viên. Vì vậy, cả tổ Tân Nhạc được chỉ định lưu lại trong ngôi nhà ngói của hai ông bà cụ đã gần bảy mươi tuổi. Tâm tình người dân ở đây khác hẳn dân Sàigòn, dù rằng hai nơi chỉ cách xa nhau chừng 45 cây số. Trầm lặng, hiếu khách và rất hiền hòa, hai ông bà đã tạo được rất nhiều dễ chịu cho chúng tôi. Đêm khuya về, chúng tôi vẫn được bà cụ nấu sẵn cho nồi cháo lòng lót dạ. Ban ngày không hát, các người bạn kéo nhau đi câu cá tra trong một cái hồ rộng phía sau hè, còn tôi lại mê cái bếp củi nên cứ quanh quẩn với bà cụ già nơi đó. Sự ấm áp tỏa ra từ ánh lửa, hòa lẫn với nỗi dịu dàng trên đôi mắt cụ làm cho tôi không muốn rời xa. Những chùm tỏi khô treo lủng lẳng trên thành vách tạo nên một hình ảnh êm đềm thân mật. Không khí gia đình phô bày rõ nét qua màu đen ám khói của những cái chão, cái nồi. Và trước ánh lửa chập chờn, tôi được bà kể cho nghe không biết bao nhiêu là chuyện... Từ chuyện anh con trai độc nhất của hai ông bà chết trận mười năm cũ, đến chuyện con heo nái sau chuồng vừa mới đẻ một lứa sáu heo nhỏ đêm qua...

            Ngồi trong căn bếp nhìn ra sau hè cả một bầu trời buồn tênh ảm đạm, tôi thấy lòng mình rung cảm mênh mang. Loài dân du mục nào cũng ôm trong tim một niềm ước mơ thật lớn, mong tìm đến những vùng đất hứa, nơi con người lâu ngày lãng du, thèm khát một mái nhà cỏ, một bóng mát để thương nhau, để gầy dựng niềm tin cho nhau. Điều quan trọng là phải từng sống qua cuộc đời du mục. Đoàn lữ hành lượt thượt băng qua dãy sa mạc tưởng chừng không bao giờ dứt. Những trận bão cát làm kinh hãi cả vật lẫn người.

            Với tôi, qua suốt mười năm phiêu bạt, ở những lúc tình cờ bất chợt, tôi vẫn mê nhìn cái bếp lửa hồng có ngọn củi gầy bốc thơm mùi khói. Và tôi cho rằng đó là biểu tượng gần nhất của một vùng đất hứa muôn đời trong trái tim  tôi.

            []

 

 

            Liège (Belgique). Những người bạn Âu Châu làm tôi thoải mái duy nhất ở một điểm: âm nhạc. Ngoài ra là hết! Thực mà viết, Daniel và Claudia vẫn thường quan tâm đến đời sống kinh tế của tôi; cũng như Jean-Luc và Michel vẫn hỏi han về vùng quê hương cách xa nửa vòng trái đất ấy. Nhưng những điều này, tôi nghĩ, chỉ là những lưu tâm trong sự giao tế. Một nỗi thân mật vừa đủ, không mang tính cách thâm trầm của một tình bạn tâm giao.

            Buổi tối, sau khi trở về từ phòng thâu thanh, chúng tôi cùng ngồi uống trà quanh lò sưởi. Ai nấy đều lặng im riêng lẻ theo những nỗi niềm. Ngoài trời, tiếng gió rít mạnh. Các cánh cửa sổ lung lay dao động. Thỉnh thoảng, tiếng rơi của một cành thông nhỏ dội trên mặt đất, khô khan.

            Tự dưng, tôi không nghĩ mình đang ngồi bên lò sưởi nơi một vùng trời cách xa quê hương đến hàng vạn dặm... Đâu đây tưởng chừng như thật thơm mùi khói thông trong căn bếp Dalat năm nào... Thời gian đâu có nghĩa gì với những cảm xúc tràn trề như thế và không gian xa xôi đâu dễ làm tan biến trong tim những kỷ niệm một thời. Quá khứ và hiện tại như cùng hòa lẫn với nhau, làm ngất ngây hạnh phúc. Thứ hạnh phúc qua thật mau, tưởng như chưa hề đến!

 

 

            Tháng 12/1978. Lưu diễn Tân Thạch.

            Trên Quốc lộ 4 từ Sàigòn đổ về Miền Tây, đến tại cây số 76 sẽ gặp ngã ba Trung Lương. Tất cả các loại xe chạy về miệt Hậu Giang đều dừng lại tại đây dăm phút, nửa tiếng trước khi tiếp tục lộ trình miền dưới. Ở đây, các quán cơm nằm san sát, mỗi quán có một vẻ quyến rũ mời mọc riêng đối với khách đường xa. Từng con heo quay da vàng béo ngậy được treo lủng lẳng trước cửa quán, cạnh bên là những hũ dưa chua, những lọ tỏi ngâm giấm sắp bày la liệt. Rồi lại cơm, lại cháo, cá nướng, chim quay... món nào cũng có, món nào trông cũng hấp dẫn đẹp mắt cốt sao cho khách vừa lòng.

            Tuy nhiên, đến tại ngã ba Trung Lương mà không mua mận Trung Lương là một điều rất thiếu sót. Những quả mận Hồng Đào mặt ngoài mơn mởn có những lằn gân đỏ chạy dọc từ cuống xuống, được trưng bày trong những chiếc thúng đan bằng tre, bên dưới lót lá chuối. Màu xanh của lá lấp ló chung quanh màu hồng của mận, gợi nên một sự hòa hợp dịu dàng dễ làm xiêu lòng khách. Mận Hồng Đào có loại đặc ruột, có loại bộng ruột. Nhưng dù đặc hay bộng thì nó vẫn rất ngọt lịm và dòn rụm. Đi đường xa mệt mỏi, thêm những hôm trời nắng ráo, ghé Trung Lương cắn một quả mận Hồng Đào thì cầm bằng như được uống một ly nước dừa mát rượi. Ngoài ra còn có loại mận da người xam xám, xanh xanh, mùi vị chua chua, chát chát. Loại mận này mà chấm với nước mắm đường, hoặc với mắm ruốc dằm ớt bột thì phải kể là tuyệt!

            ……

            Trong bến Tân Thạch, đoàn dựng rạp ngay trên một bãi đất trống, chung quanh là những bụi tre um tùm rậm rạp. Cứ mỗi cơn gió tạt ngang, những bụi tre đong đưa qua lại, tạo nên một thứ âm thanh man mác rười rượi, như tiếng ru của mẹ hiền trên các câu ca dao buồn bã:

            “Ầu ơ, gió đưa bụi chuối sau hè

            Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ...”

            Tôi và hai người bạn nữa trú lại trong căn nhà lá của một bà già gần 70 tuổi được chúng tôi gọi là dì Bảy. Chiến tranh đã làm dì mất đi hai người con trai lớn. Còn cô con gái út lấy chồng xa, mãi dưới miệt Tân Châu, ít có dịp về thăm lại quê xưa. Vì vậy, ngày ngày dì chỉ thui thủi với đàn gà, luống rau trồng sau chái lá. Dì kể, những khi có đoàn hát về ngang Tân Thạch là dì vui hẳn lên bởi vì lại có thêm người ở chung trong nhà, cho dù chỉ là dăm bữa...

            .. .. ..

            Từ khi còn bé, tôi đã yêu đặc biệt dáng dấp và khuôn mặt của một bà già không quen biết. Lớn lên chút nữa, tình cảm này biến dạng theo khuôn mặt của bà ngoại tôi, của mẹ tôi và của rất nhiều bà già Việt Nam khác tôi đã gặp trong đời. Đó là bà già bán rượu đế vẫn đi ngang nhà tôi mỗi ngày, lúc mười một giờ ba mươi phút. Một bà cụ yếu gầy, dáng dấp mỏng manh.

            “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” qua giọng rao của bà đã làm tôi xúc động ngay từ lần đầu thấy bà đi qua cửa sổ. Sự xúc động này, tôi nghĩ, phát sinh từ nỗi so sánh trong cái đầu trẻ thơ hồi ấy. Chị bán hàng chè đậu xanh, thím bán tàu hủ hay ông lão bán mía hấp, ai đi qua xóm tôi cũng đều cất tiếng rao lanh lảnh. Chỉ bà bán rượu là không. Giọng bà khàn quá, nhỏ nhẹ quá. Mắt bà lại lòa nữa, một tay cầm cây gậy dò đường, một tay xách cái tĩn đựng rượu. Dạo ấy, mới 7 tuổi mà tôi đã biết rằng rượu đế là thứ không phải để dành cho con nít. Vì vậy, tôi vẫn tiếc thầm sao bà lại không bán chè bán xôi để tôi có dịp mua, có dịp cùng bà làm quen.

            Trong mắt tôi, bà bán rượu đế rõ ràng là một người già lão. Da mặt bà nhăn nheo, đôi mắt chết, nhưng khuôn nét thì rất hiền lành, tội nghiệp. Có một lần, dừng lại chuyện trò với mẹ tôi nơi đầu ngõ, bà kể rằng đã từ dưới tận Long Xuyên, tản cư lên Hốc Môn với ba người con trai nhỏ. Rồi ba người con lớn lên, đi lính, chết cả. Còn lại một mình, bà lấy rượu từ các lò rượu lậu ở Hốc Môn, đi bộ khắp hang cùng ngõ hẻm rao bán, làm kế sinh nhai.

            Hai năm trôi đi, bà vẫn cứ đúng 11 giờ rưỡi trưa đi qua xóm tôi với giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!”  nghe thật xa vời u uẩn. Lưng bà còng hơn một chút, cái tĩn đựng rượu trong tay hình như  nặng hơn đối với bà. Còn tôi, như một thói quen thân ái, cứ đúng 11 giờ rưỡi trưa là tôi lại ngó mông ra ngoài cửa sổ. Tôi kiên nhẫn chờ bà đi qua, như chờ một điều bí mật nào mà tôi tìm hiểu hoài vẫn không ra.

            Thêm một năm nữa. Bà vẫn đi qua xóm tôi lúc 11 giờ rưỡi trưa, nhưng bây giờ không còn bán rượu đế, mà lại biến hình thành một người hành khất. Bà đã gầy yếu lắm rồi, đôi mắt mù hẳn, nên có lẽ vì vậy mà chẳng ai cung cấp rượu cho bà? Giờ đây, đôi tay bà nhẹ tênh khi chỉ còn phất phơ một cây gậy trúc. Và giọng rao “Rượu đế đây, rượu đế Hốc Môn đây!” ngày nào, bây giờ đổi thành câu van lơn “Ông đi qua, bà đi lại, cho tôi xin chén cơm đỡ lòng!” nghe buồn như khóc.

            []

 

 

            Verviers (Belgique). Tôi đáp xe lửa từ Liège đi Verviers để tìm lại hơi hướm kỷ niệm xưa. Bốn năm trước, sau khi rời Việt Nam, Verviers là thành phố đầu tiên tôi cư ngụ. Thời gian một tháng ấy vẫn còn đau buồn quá trong trí nhớ. Một giấc mơ dữ mà khi tỉnh dậy, tôi vẫn mãi thấy lòng buồn bã bâng khuâng.

            Tôi không quên được cái lúc ngồi trên phi trường Amster -dam, thủ đô nước Hòa Lan, để chờ chuyến bay qua Bỉ. Mới 8 giờ rưỡi sáng mà tưởng như buổi chiều sắp tắt. Lần đầu tiên, tôi mới có một chút ý niệm về thời gian và không gian ở Âu Châu. Tâm trí lúc bấy giờ chỉ là quay cuồng nhớ thương ánh nắng chan hòa của vùng quê hương biền biệt. Ôi! Quê hương giờ đây nghìn trùng xa cách, đã vĩnh viễn mất đi trong mắt nhìn.

            Và rồi tôi đến Verviers. Thành phố buồn tênh ấy đã chứng kiến không biết bao lần tôi mất ngủ, bao đêm trở giấc, tôi bật dậy vội vàng. Những giòng tâm sự tuôn tràn ra trên giấy. Những giòng đau khổ về một vùng trời phương Đông xa xôi bên kia trái đất, nơi tôi đã chào đời, đã sống và lớn lên với muôn ngàn kỷ niệm...

            Bốn năm sau trở về chốn cũ, đứng trên dốc cao nhìn xuống ngôi nhà tôi đã giấu nỗi u hoài của mình thời gian thứ nhất, lòng sao thật ngậm ngùi ray rức. Cái gì rồi cũng bị xóa mờ theo năm tháng. Vậy mà nỗi đau của bốn năm trước, thời gian sao chẳng giúp nguôi ngoai? Nỗi đau vẫn còn ắp đầy trong tâm thức. Và tôi vẫn nhớ, vẫn thương, vẫn khóc thầm theo vùng nắng ấm chan hòa của quê hương trong mọi giấc mơ... Mãi mãi...

 

 

 

            Cuối tháng 12/1978, hát Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

            Tiền Giang là tỉnh thứ hai của vùng đồng bằng sông Cửu Long, bắc giáp tỉnh Long An thuộc khu vực sông Vàm Cỏ; tây giáp tỉnh Đồng Tháp; đông tiếp giáp với cửa Soài Rạp và biển Nam Hải; cả mặt nam là sông Tiền, bên kia bờ là tỉnh Bến Tre. Kể từ sau 1975, tỉnh Tiền Giang gồm hai tỉnh Gò Công và Mỹ Tho cũ gom chung lại.

            Từ Tân Thạch, đoàn trở ngược qua phà Rạch Miễu để dừng bến tại Cái Bè, một trong sáu huyện của tỉnh Tiền Giang. Sân khấu lộ thiên được dựng tại sân banh.

            Trong đoàn hát, nhiệm vụ của tổ Tân Nhạc là hòa tấu các bài bản tân nhạc nửa tiếng đồng hồ trước khi mở màn và ở các lúc đổi màn. Ngoài ra là đệm nhạc tuồng. Phần đệm nhạc này không nhất thiết cả bảy người cùng có mặt. Tùy theo đoạn tuồng hay sự biểu lộ tình cảm của nhân vật mà một hay hai nhạc khí tấu lên một câu ngắn để phụ họa cho hợp tình hợp cảnh lúc đó. Vì thế, so với tổ Cổ Nhạc phải ngồi suốt từ đầu đến cuối để đệm theo các điệu ca của diễn viên, tổ Tân Nhạc tương đối nhàn hơn.

            Đêm hát Cái Bè, khán giả ngồi chồm hổm phía sau giàn Tân, Cổ Nhạc nhìn lên sân khấu. Trời tháng Giêng dương lịch đã nhuốm lạnh, báo hiệu sự sắp trở về của mùa Tết Nguyên Đán. Trong màn I của vở Phụng Nghi Đình, cô đào Út Bạch Lan sắm vai Vương Doãn, viên quan tư đồ nhà Hán, năm 191 sau công nguyên, mượn tay một thị nữ tên Điêu Thuyền, dùng kế mỹ nhân tiêu diệt tên loạn thần Đổng Trác. Có một lúc cô đã gào lên hai chữ “Điêu Thuyền” thật lớn. Tiếng gào nghe sao bi thiết, diễn tả nên không biết bao nhiêu nỗi ưu tư của một vị trung thần trước thế cuộc đảo điên thời ấy... Lập tức, cả tâm hồn tôi rúng động. Chỉ trong một giây, tôi “cảm” được cái đẹp lạ lùng của nghệ thuật Cải Lương.

            Không phải bây giờ, mà đã từ 13 năm trước, tôi và giới Cải Lương đã từng có cơ duyên tao ngộ. Là bạn thân cùng lớp trong trường Quốc Gia Âm Nhạc Sàigòn với cô con gái thứ nhì của soạn giả Năm Châu và nữ nghệ sĩ Kim Cúc, tôi được cô bạn nhờ chơi nhạc đệm trong vở hát Sân Khấu Về Khuya của ông Năm Châu thời gian ra mắt đầu tiên. Đây là một vở tuồng xã hội nên phần nhạc đệm được trích ra từ các đoản khúc cổ điển Tây Phương có âm điệu buồn áo não. Tuy nhiên, ý niệm về loại nhạc đệm trong một tuồng Cải Lương từ dạo ấy đã có trong tôi.

            13 năm xưa, với tôi, Cải Lương là một thế giới vô cùng xa lạ. Dẫu rằng trong suốt ba tháng trình diễn vở Sân Khấu Về Khuya tại các rạp Sàigòn, tôi vẫn  đến chơi nhạc mỗi tối, vẫn có dịp chuyện trò cùng các đào kép trong đoàn Thanh Minh, vẫn được cô đào Thanh Nga tên tuổi lừng danh gọi là “cưng” như đã gọi cô bạn, vẫn được soạn giả Năm Châu và anh kép Thành Được nổi tiếng đưa về mỗi khuya sau khi tan hát; nhưng thật sự vẫn có một cái hố không tên nằm chắn trrong óc để tôi nghĩ rằng không bao giờ tôi và họ có thể đến gần nhau được.

            13 năm sau, tôi lại có dịp gặp các khuôn mặt xưa, thêm những khuôn mặt mới, trong cùng một môi trường sống. Nếp nghĩ của tôi đã sai bởi vì ngày nay trong tôi thật đã có một thay đổi lớn. Tôi ưa thích các vở hát Cải Lương, thân cận gần gũi hơn với các con người Cải Lương. Tôi say mê cái đời giang hồ đây đó. Trên hết, tiếng gào bi thiết của nữ nghệ sĩ Út Bạch Lan trong đêm hát Cái Bè vẫn suốt đời còn vang dội trong ký ức tôi.

            []

 

 

            Bruxelles (Belgique).

            Đọc trong tác phẩm Jean Christophe của Romain Rolland (*) những vần thơ hay quá:

            ... Vì có những lúc anh yêu em

            Em cảm ơn anh

            Và em ước mong rằng ở nơi khác

            Anh sẽ được sung sướng hơn...

            (... Fur die zeit wondu g’liebt mi hast

            Da dank’i dir schon

            Undi wunschi dass dir’s anderwo

            Bener mag geh’n...)

 

 

            Tháng 1/1979, hát Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

            Cai Lậy là một vùng tương đối trù phú thuộc tỉnh Tiền Giang, một ngã ba nằm trên Quốc lộ 4, rẽ phải vào Mộc Hóa (Long An), rẽ trái sẽ vào Ba Dừa (Cai Lậy). Khi gần đến chợ có một tòa thánh thất Cao Đài kiến trúc rất đẹp, cũng nằm trên Quốc lộ 4.

            Đoàn dựng rạp tại chợ Phú Kiết thuộc huyện Cai Lậy. Nơi đây, hơn một trăm năm trước, vào ngày rằm tháng 4 năm Ất Hợi (1875), ông Thủ Khoa Huân, vị anh hùng lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp nổi lên ở vùng Cai Lậy, đã bị giặc hành quyết.

            .. .. ..

            Tháng đầu năm mới, tôi thường bắt gặp nhiều hơn những mối buồn sâu xa trong hồn mình. Mỗi chiều trước giờ hát, ngồi trong một quán café nhỏ bên cạnh rạp với người bạn chơi trom- pette, nhìn những chiếc lá vàng bay là đà trong gió, mối buồn này càng lan rộng ra thêm. Ngọn gió tháng Chạp gần Tết nơi một huyện lỵ xa xôi như có mãnh lực bóp xiết trái tim trong biết bao niềm nghĩ ngợi. Tôi nghĩ đến những người bạn đã chết, những người bạn đã vượt biên ra đi và những người bạn đang còn trong các trại tù Cộng Sản..., rồi lại nghĩ đến mình, một note nhạc điếc, ù lì, câm lặng!

            Đôi lúc tự nhủ “Phải làm một cái gì!”, nhưng rồi chẳng biết làm gì. Cứ mỗi chuyến lưu diễn trở về lại hay là mất thêm một người bạn nữa. Chân trời xa xăm nào đã cuốn lôi bước chân họ? Hay ngọn sóng nào trên biển Nam Hải vẫn còn ngàn đời ru giấc ngủ bạn tôi? Không thể biết được. Chỉ biết rằng tôi đã nghe thật buồn, trái tim như bị đục thêm một lỗ nhỏ khi nhận tin một người bạn rời xa vùng quê hương yêu dấu.

            Có khi tự hỏi “Tôi có muốn ra đi hay không?” thì câu trả lời vẽ hình ngay nỗi cô đơn trên xứ người làm tôi sợ hãi. Hình ảnh một người đàn bà Việt Nam mỏng manh mặc áo dạ, quấn khăn choàng, bước đi trong làn tuyết dày đặc một mùa đông nào đó nơi vùng Bắc Âu, Tây Âu làm tôi ái ngại. Vậy mà tại sao tôi lại buồn khi biết được bạn bè đã bỏ ra đi gần hết?

            Ngẫm cho cùng, suy nghĩ cho rốt ráo, tôi hiểu được nỗi mâu thuẫn của mình. Quê hương biểu tượng là bà mẹ già đau khổ, và những người Cộng Sản giống như người anh em độc ác của tôi. Sự độc ác đẩy tôi đến chỗ kháng cự và muốn xa lánh. Nhưng giọt nước mắt của mẹ già cũng khiến tôi chùng lòng không ít. Mối mâu thuẫn cứ vậy mà vò xé trái tim triền miên trong những đêm mất ngủ. Và rồi tình cảm nào sẽ thắng? Đó là điều tôi chưa thể biết được trong hiện tại lúc này.

            []

 

 

            Bruxelles. Thư  viết cho Hạnh.

            Hạnh thương nhớ,

            Lâu lắm rồi em mới viết về cho Hạnh, xin Hạnh đừng buồn. Bấy lâu, tâm hồn em ủ rủ quá, tưởng chừng không còn hơi sức để trỗi dậy. Vì thế, thư từ cho bạn bè Việt Nam, em cũng không viết nữa. Con người em không bạc, và trong tim, bản chất phụ phàng không có vị trí. Em vẫn nhớ đến Hạnh, đến tất cả những liên quan cũ trong hơn ba mươi năm sống. Và, những nỗi nhớ này, em chôn giấu xuống tận đáy tim riêng.

            Giai đoạn bốn năm qua, em thất bại trên nhiều mặt của đời sống. Tuy nhiên em vẫn không cho phép mình gục ngã. Em quan niệm, cuộc sống giống như cái bánh xe khổng lồ quay mãi không ngừng, và con người là những sinh vật bị cuốn theo dòng quay ấy. Nếu dừng lại chỉ một giây thôi, con người tức thì sẽ bị nghiền nát. Vì thế, em phải trỗi dậy bằng tất cả hơi sức. Và, trong sự trỗi dậy ấy, em vẫn dành một góc tâm hồn cho kỷ niệm cũ càng ba mươi năm. Em khổ, một phần là do em đã trân trọng kỷ niệm nhiều quá. Nhưng em bằng lòng điều ấy, bởi, đó là tất cả những gì trong cuộc sống, em chưa mất.

            Hạnh ạ, trong lá thư vừa rồi, em rất thích tư tưởng “an phận” của Hạnh. Suốt đời, em không làm được điều “an phận” nên rất ngưỡng mộ sự an phận của bất cứ ai. Suốt đời, em chỉ là kẻ lội ngược dòng sông, hễ cứ trồi lên lại bị đẩy cho tụt xuống. Giờ đây, có lúc nào nhìn một người để cho con nước cuốn xuôi, cũng là một điều thích thú. Nhất nữa người ấy có liên hệ với mình, mình đỡ bận tâm hơn về họ.

            Hạnh thương nhớ,

            Em rất buồn khi biết được nỗi tan vỡ trong đời sống Hạnh mà không chia xẻ cụ thể được. Dẫu vậy, em vẫn an lòng bởi biết rằng trong trái tim bạn mình đã cưu mang cả một nghị lực mạnh mẽ. Hạnh là một nghệ sĩ thì sự đau khổ càng điểm tô thêm cho nghệ thuật, chứ không là hủy diệt. Vả lại, việc gì cũng phải có lúc kết thúc của nó. Khác chăng, trong nỗi cuối cùng ấy, con người có còn giữ được ấn tượng, kỷ niệm đẹp về nhau hay không mà thôi. Em nghĩ vậy, Hạnh ạ.

            Cho em hôn bé Thương Thương.

            Thân ái.

 

 

            Tháng 1/1979. Từ Cai Lậy, đoàn di chuyển qua Long Định về hướng ngã ba Trung Lương, thuộc tỉnh Tiền Giang.

            Long Định là một huyện lỵ khô khan. Phố xá chỉ là hai dãy nhà nằm hai bên đường Quốc lộ 4. Đoàn dựng rạp trên một bãi ruộng hoang nằm sát đường quốc lộ. Nơi đây xa nhà dân nên việc ăn ở của nhân viên đoàn qui tụ lại trong cùng một vị trí rộng. Mọi người chia nhau theo từng nhóm từng tổ, dựng chỗ ngủ ngay trên mặt đất quanh sân khấu.

            Đêm đang độ mùa trăng. Sau giờ hát lúc nửa khuya, bãi ruộng hoang sáng lên một màu ngà huyền hoặc. Cái sàn gỗ dùng làm sân khấu đứng trơ vơ với những tấm màn nhung lộng gió bay phất phới, chính là bộ mặt thật của đời nghệ sĩ. Đó đây vang rền tiếng ễnh ương, ếch nhái. Từng nhóm người quay quanh các chiếu rượu riêng biệt. Những cái mùng giăng ra mỗi nơi một chiếc, tạo nên một không khí ấm áp lạ lùng.

            Cái xã hội nhỏ này, càng ngày tôi càng nghe thân thiết; trong đó, đa số con người sống bình dị với không một ước mơ nào khác ngoài sự cầu mong cho đêm hát có thật nhiều khán giả. “Mộng bình thường” chỉ là như vậy, cạnh bên vài thú tiêu khiển khiêm nhường, đơn sơ. Gần như tôi chưa hề nghe ai trong đoàn nói lên ý muốn bỏ quê hương ra đi. Không phải vì sự tốn kém làm cho họ không dám nghĩ đến, mà đúng hơn là họ không màng tới điều ấy. Với những diễn viên lớn, tôi ít chuyện trò giao thiệp. Nhưng còn tất cả các anh em công nhân, tôi đều tiếp xúc. Vẫn nghe họ thở than về giá sinh hoạt đắt đỏ, về chuyện vợ yếu con đau. Và họ có buồn, có tỏ ra ưu tư, nhưng chỉ một đêm hát đầy nghẹt khán giả là những nỗi ưu tư này biến tan gần hết!

            []

           

 

            Anvers (Belgique). Một câu của Goethe(*) đọc được trong một tác phẩm của Thomas Mann(**): “Không có lối nào dẫn vào đời sống một cách chắc chắn cho bằng đi qua nghệ thuật. Và cũng không có lối nào thoát khỏi đời sống một cách chắc chắn hơn bằng đi qua nghệ thuật.”

 

 

            Tháng 1/1979, hát Vĩnh Kim, còn gọi là Chợ Giữa, thuộc huyện Long Định, tỉnh Tiền Giang.

            Năm ngày ở Vĩnh Kim thật là êm ái. Gần hai phần ba nhân viên đoàn trú lại trong một ngôi trại, ngày xưa thuộc quân đội Việt Nam Cộng Hòa, ngày nay thuộc bộ đội Cộng Sản. Mỗi người lấy hai cái băng ghế dài đâu lại cạnh nhau thành một chỗ ngủ. Đêm đêm tan hát, những cái băng xếp hàng song song này lại biến thành

“nơi họp chợ” ồn ào, có khi kéo dài tới sáng. Sau lưng trại có con lạch chảy ngang, chúng tôi thường đến đó tắm rửa, giặt giũ. Con đường đất len giữa các bụi tre, dẫn ra nơi dựng rạp, êm đềm, mát rượi, như các con đường trong truyện thần tiên.

            Buổi sáng trong năm ngày lưu lại đây, tôi thường đến ngồi bên bờ sông thật sớm. Có một thứ xúc cảm lạ kỳ lan khắp châu thân. Một nỗi êm đềm bò lên trên từng sớ thịt. Chung quanh tôi, tiếng tre rì rào các mẩu chuyện ngàn đời không dứt. Dưới làn nước trong vắt, từng đàn cá đủ màu, nô giỡn lăn lăn.

            Rồi lại buổi chiều ngồi trước rạp uống ly cà-phê, nhìn những người dân quê hiền hòa qua lại, bên tai vang lên một bài ca Vọng Cổ từ chiếc máy phóng thanh gắn trên cột điện, tôi đã không ngờ chiến tranh có lần đi đến tận đây. Nơi đây êm đềm, nên thơ quá! Vậy mà nơi đây cũng đã có một xã nhỏ tên gọi Thuộc Nhiêu, chiến tranh đã giết đi gần hết những người đàn ông, trai tráng trong xã. Còn lại chỉ là trẻ thơ và phụ nữ, năm tháng mỏi mòn chiếc bóng cô đơn.

            Năm ngày ở Vĩnh Kim là vậy. Trái tim thì dạt dào cảm xúc nhưng đôi mắt lại không đủ rộng để thu cho hết biết bao cảnh sắc dịu dàng của Vĩnh Kim.

            []

 

 



(*)  Romain Rolland, nhà văn Pháp (1866-1944). Jean Christophe là một truyện dài 10 tập, được viết từ năm 1904 đến 1912.

(*)  Johann Wolfgang Von Goethe, đại văn hào Đức (1749-1832).

(**) Thomas Mann, nhà văn Đức (1875-1955)