Ấn bản

Lời tựa

01 - 02

03 - 04

05 - 06

07 - 08

09 - 10

11 - 12

13 - 14

15 - 16

17 - 18

19 - 20

>>>

  

 

Mai mốt em về, em về đâu?

Con sông nước chảy trắng chân cầu

Mái tóc già nua người bạn cũ

Giây đàn muôn thuở buộc lòng nhau

(thơ Hoàng Trúc Ly)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Nếu còn đi hoài, biết đi về đâu?

 

 

 

 

I

 

            Paris. Trời gió thật nhiều. Những cơn gió thốc xoáy dữ dội đập mạnh lên các tấm kính cửa sổ, làm các cành cây nhỏ quanh nhà ngả nghiêng rũ lá. Mùa thu đã đến rồi. Chiếc áo len mỏng không đủ làm ấm đôi vai. Trong căn bếp lạnh có mùi củi khét đang cháy trên lò, tôi bỗng nghe như có điều gì đang thức dậy? Một điều gì thật thân ái như mùi thơm của khói, mà cũng đã nghìn trùng im lắng trong ký ức xa xôi...

 

 

            Cuối tháng 9/1978. Đoàn lưu diễn ra Trung. Trạm ghé đầu tiên là Mũi Né, một xã nhỏ nằm sát biển, thuộc huyện Hàm Thuận, thị xã Phan Thiết, tỉnh Thuận Hải.

            Ngay từ buổi trưa thứ nhất cùng vài người bạn dừng chân bên một quán lá đầu làng, tôi đã nghe như bị cuốn hút mạnh mẽ vì cảnh sắc buồn bã của Mũi Né, kéo dài trong suốt năm ngày tại đây. Bầu trời lúc nào cũng ủ ê màu xám. Các cồn cát thoai thoải bên đồi có màu đất đỏ. Những cụm mây giăng thật thấp tưởng chừng như vói bắt được. Khí trời ngây ngây lành lạnh, và trong không gian dậy lên nồng nàn mùi biển ấm.

            Năm ngày ngắn ngủi lưu lại đây đã đủ kết thành kỷ niệm để đời. Trong căn nhà gỗ nghèo nàn của một người đàn bà có chồng đi biển xa, nằm lẻ loi một góc trên bờ cát, tôi và Hạnh được chỉ định làm nơi tạm trú. Khuya đi hát về nằm nghe biển réo. Sáng thức dậy sớm cũng trong tiếng réo của biển. Những chiều tối đi bộ từ nhà trọ đến nơi đoàn dựng rạp cũng lại chỉ nghe tiếng biển thét gào điên đảo. Bản bi ca bất tận kết từ muôn thuở sao đã thật có khả năng bóp thắt trái tim trong nỗi rung động dạt dào!

            Tôi yêu biển ngất ngây dù rằng tôi sinh ra trong Huế, lớn lên trong Sàigòn và trải một phần cuộc đời trên những con dốc mù sương Dalat. Cũng không hiểu tại sao lại yêu ghê gớm cái âm thanh đảo điên cuồng nộ đó mà tôi cho rằng không bất cứ bản nhạc nào có thể diễn tả cho hết được mức độ bi thương và hùng tráng của nó; cũng như không khúc ca nào phô bày trọn vẹn tính cách trữ tình hơn tiếng hôn của sóng lên bờ cát mịn mỗi khi trời lặng, biển êm.

            Đêm ở Mũi Né buồn như nước mắt. Những tiếng vỗ nghẹn ngào từ xa khơi vọng về liên tục. Tâm hồn và giấc ngủ cô đơn của tôi được ru bởi điệu hát muôn đời ray rức, giống như tiếng than vãn không ngừng của những linh hồn thác oan còn mãi vật vờ trên sóng biển đen.

            []

 

           

            Paris. Gió rít từng cơn, lùa qua khe cửa làm căn phòng bỗng dưng lạnh hẳn. Mùa thu Paris không dịu dàng như mùa thu của quê hương (dù rằng trong quê hương xa vời ấy đã không thực sự có mùa thu.) Ở đây, mùa thu chỉ đẹp trong mắt nhìn với những chiếc lá vàng rơi đầy hè phố, những cái áo khoác rực rỡ đủ màu của khách bộ hành... Nhưng ở đây không có nỗi rung động dịu dàng bất chợt trong trái tim khi bầu trời đột nhiên đổi xám, báo hiệu mùa thu đã về.

 

 

            Tháng 9/1978, lưu diễn Phan Rí Cửa, huyện Bắc Bình, tỉnh Thuận Hải.

            Tôi và Hạnh cũng lại ở chung trong trạm hát Phan Rí Cửa, một căn nhà lá mỏng manh giống như một cái chòi, nằm chênh vênh trên đầu dốc từ bãi biển dẫn vào bến chợ. Buổi sáng thức dậy nhìn qua cửa sổ thấy những con người đang neo thuyền kéo lưới vào sâu trong bờ cát. Nhìn từ xa, bóng dáng các ngư chài trông chẳng khác nào những chấm đen biết di động trên tấm nền màu xanh trời biển mênh mông.

            Bến chợ rộn ràng vào buổi sớm. Các người đàn bà nước da rám nắng ngồi trước những thúng cá còn tươi rói, khuôn mặt bơ phờ mệt mỏi. Họ ngước nhìn lên với một chút hớn hở khi thấy những người trong đoàn hát đi qua, rồi lại cúi xuống dửng dưng nhìn các con cá nhỏ quẫy đuôi trong thúng.

            Trời tháng Chín mây mù giăng thấp. Vài người lôi xe già ngồi chờ khách, tán gẫu với nhau nơi chiếc quán lá đầu chợ. Mùi cà-phê thơm lừng trộn lẫn với mùi tanh tanh của cá và của biển cả, được mang về từ các người chài lưới; màu da rám nắng của các người đàn bà và tiếng chuyện trò lớn giọng của những người phu xe, tất cả đã làm nên một sắc thái đặc biệt nồng ấm cho các buổi sáng tại đây.

            Chân trời xa xôi của vùng cảng Marseille miền Nam nước Pháp trong bộ tiểu thuyết ba tập của Marcel Pagnol(1) khiến tôi vô cùng ưa thích thuở còn đi học tưởng như tìm thấy rõ ràng hôm nay trong chiếc quán lá của huyện lỵ buồn tênh xa lạ. Một thời ước mơ tuổi nhỏ sống dậy làm cho lòng mang mang rung cảm để dịu đi biết bao chán chường của cơm áo mưu sinh.  

            Tôi ngồi lẩn vào giữa các người lôi xe già trên chiếc băng ghế dài không có chỗ tựa lưng, lắng nghe những mẩu chuyện của họ và đợi chờ ly cà-phê nóng. Đối với họ, tôi là một kẻ lạ. Nhưng còn tôi, vòm trời này, chiếc quán này và cả những con người trước mặt, cơ hồ như tôi đã gặp từ một thuở nào trong tiền kiếp xa xôi...

            Buổi sáng tháng Chín ở Phan Rí Cửa trời buồn như khóc. Lòng tôi cũng buồn khi bước đi một mình trên bãi cát trắng phau. Biển cả lôi cuốn bước chân chàng tình nhân trong tiểu thuyết khiến chàng một đời lỡ làng hối tiếc(2). Một lúc nào, biển cả cũng khuấy động không ngừng trong tôi những hối tiếc vu vơ. Hối tiếc vu vơ hay là niềm hạnh phúc bất ngờ tìm thấy được? Có lẽ cả hai điều đều chính là một trong tâm hồn tôi bốn ngày dừng bến tại đây.

            []

 

 

            Paris. Một lần Daniel hỏi tôi: “Nếu bây giờ cho cô một điều ước thôi, cô sẽ ước gì?” Tôi đã không ngần ngại đáp: “Trở lại những ngày sống trước kia ở Việt Nam!” Anh ngạc nhiên: “Sao lại ‘trước kia’ mà không là ‘bây giờ’ khi cô vẫn có quyền xin trở về quê hương cũ?”

            Tôi không đáp câu hỏi này, bởi biết rằng anh không bao giờ hiểu được nỗi mất mát lớn lao ngần nào trong trái tim tôi kể từ ngày bỏ xứ ra đi.

            Phải, tôi có thể xin “trở về”, nhưng là sự trở về của một con người “khác” với con người trước kia; của một đứa con từ bỏ gia đình cha mẹ nghèo để đi tìm riêng tư phú quý. Giờ đây nếu có trở lại thì giá trị tình cảm ban sơ đã không còn nguyên vẹn; và trong tâm hồn tôi mãi vẫn không lấp đầy được khoảng trống đắng cay.

 

 

            Tháng 10/1978, hát Tuy Hòa.

            Từ Phan Thiết, đoàn xuôi thẳng trên quốc lộ I ra Tuy Hòa, thị xã nằm trên cửa sông Đà Rằng đổ từ Tây Nguyên xuống. Trước 1975, Tuy Hòa là tỉnh lỵ chính của tỉnh Phú Yên, nay thuộc tỉnh Phú Khánh.

            Đất Phú Khánh xưa thuộc Bộ Việt Thường. Rồi lại thuộc Chiêm Thành. Năm 1470, vua Lê Thánh Tông mở rộng biên cương đến núi Đá Bia(1). Năm 1811, Chúa Nguyễn Hoàng mở rộng thêm, lập ra phủ Phú Yên gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuyên Hóa. Đến năm 1653, Chúa Nguyễn Phúc Tần lại mở tiếp đến sông Phan Lang, lập ra Thái Ninh phủ, sau đổi làm phủ Diên Khánh (tức Khánh Hòa bây giờ), đặt tỉnh Thái Khang. Năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt Phú Yên dinh và Bình Khang dinh. Năm 1802, Gia Long lên ngôi, đặt là Phú Yên trấn và Bình Hòa trấn. Đến đời Minh Mạng thứ 13 (1833) đặt thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa.

            Sau 1975, hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa sát nhập làm một, thành tỉnh Phú Khánh, bắc giáp tỉnh Nghĩa Bình; tây-bắc giáp tỉnh Gia Lai & Kontum; tây-nam giáp tỉnh Lâm Đồng; phía nam giáp tỉnh Thuận Hải; phía đông nhìn ra Thái Bình Dương.

            .. .. ..

            Những buổi chiều trong suốt một tuần lễ ở Tuy Hòa, chúng tôi, một bọn năm người trong tổ Tân Nhạc, trước khi đến rạp thường kéo nhau ra ga xe lửa, chiếm cứ một cái bàn nơi một quán rượu ven đường.

            Do từ đâu mà lại lao vào cuộc sống cải lương, tôi cũng không nhớ rõ. Một tình cờ nào trong thời gian đầu của cuộc đổi đời thì phải? Tôi chán những buổi chiều lê thê trên các vỉa hè Gia Long, Nguyễn Trung Trực, ngồi uống ly cà-phê đen mà tâm tư không một chút định hướng. Chán cuộc sống lêu bêu không hy vọng tương lai, giống như những ly rượu đắng tôi và bạn bè vẫn vội vã uống mỗi đêm nơi cái quán lộ thiên bên dốc cầu Trương Minh Giảng. Sàigòn đã không còn thoải mái với những bộ đồng phục màu xám của quân đội Cộng Sản; không còn thú vị với những luật lệ bắt đầu bó buộc người dân vào trong guồng máy chặt chẽ... Cơ hội ghép một phần đời mình vào cuộc sống cải lương có lẽ cũng phát sinh từ đó.

            Ít ra, cải lương là một xã hội còn ít nhiều tự do trong một xã hội lớn đầy những công khai cấm đoán. Ít ra, trong môi trường này, chúng tôi còn có thể giữ cái “nhãn hiệu nghệ sĩ” đang được ưu đãi hàng đầu bởi chế độ. Và ít ra, ý muốn lãng du vẫn thực hiện được qua các chuyến lưu diễn dài trên khắp quê hương.

            .. .. ..

            Những buổi chiều trên sân ga Tuy Hòa, chúng tôi ngồi uống rượu, uống luôn cả không gian và thời gian khi ấy. Tháng Mười, thị xã bắt đầu trở lạnh với những cơn gió sắt se. Miền Trrung và Miền Nam không có mùa thu như ở Miền Bắc. Tuy nhiên, trong ý nghĩ tôi, thời gian tháng Mười vẫn mãi mãi được gọi là “giữa mùa thu!”

            Mùa thu ở Tuy Hòa trong một tuần lễ ghé lại biểu hiệu thật sự là mùa biệt ly. Tiếng còi tàu thét lên buồn bã. Sân ga lúc nào cũng tấp nập kẻ đến người đi. Quán xá bên đường rộn ràng chủ, khách. Sự sống động của thị xã, theo tôi, thể hiện rõ rệt nhất chỉ là ở nơi đây.

            Mùa thu cũng trải dài trên các con đường đá sỏi khô khan, trên nóc ngôi nhà thờ gần ga xe lửa và trong nỗi hoang vu của những con lộ vắng người. Có cái gì thật chết mà cũng là thật sống trong vùng đất này? Trên sân ga, những người hành khách qua lại vội vã. Cuối chân trời, các cụm mây biến hiện không ngừng bức vẽ mùa thu. Mây thu thì lúc nào cũng hằn rõ dáng điệu mệt mỏi của mình: thật thấp, thật lãng đãng. Và con người lại chẳng phút giây nào ngơi nhịp chạy với thời gian.

            Những buổi chiều trên sân ga Tuy Hòa, tôi ngồi cùng đám bạn, nhìn hoàng hôn trôi dần qua đáy cốc. Những sợi rượu uống vào không làm ấm tâm tư, lại chỉ càng gợi lên mối buồn mất mát. Những chiếc ly rót mãi, chẳng thấy say, mà tôi lại nghe say say với tiếng còi tàu giục giã, với nỗi ảm đạm, buồn rầu của ngôi nhà thờ được nhìn từ xa, và với những tiếng chân lên xuống nhặm lẹ để bắt cho kịp chuyến tàu vừa trờ tới. Bức tranh quê hương với từng nét chấm phá đơn sơ cũng được vội vàng chộp lấy ghi vào ký ức. Một thứ gia sản lạ lùng, bất cứ ai cũng có thể chiếm hữu để làm của riêng tư.

            []

 

 

            Paris. Claudia và Daniel điện thoại rủ tôi đi uống café lúc 11 giờ sáng. Quả thật Paris giống Dalat ở một điểm nào đó như vài người quen từng nhận xét. Cũng cái không khí tà tà với những con người nhàn rỗi la cà các quán từ giờ này sang giờ khác. Cũng một sự rỗng không đầu óc khi ngồi nhìn thiên hạ qua lại ngoài cửa kính –mà tưởng đến những hôm thả bộ ra khu Hòa Bình và để trôi một buổi sáng đầy hơi sương trong nhà hàng Mékong.

            Có lẽ một thoáng buồn nào đó hiện lên tôi khiến cả Claudia lẫn Daniel cùng ngạc nhiên (những người bạn Âu Châu này lúc nào cũng cứ vẫn ngạc nhiên về tôi!). Tôi nghe Daniel nói: “Cô vui buồn không định khiến tôi không sao đo lường được. Phút trước cô vui ngần nào thì phút sau lại rũ buồn ngần ấy.”

            Anh tiếp trong một cái cười mỉm: “Giống như những cái thang máy có dây kéo trong các khách sạn cũ kỹ ở Paris.” (Anh làm cử chỉ tượng trưng cho sự lên xuống của chiếc thang máy.)

            Tôi bật cười dòn: “Anh hãy ví tôi như ngọn sóng thủy triều mới đúng. Cái thang máy là do bàn tay con người sử dụng; từ nút bấm của các ngón tay mà lên, xuống. Còn ngọn sóng thủy triều, con người không chỉ huy được.”

            Tôi tiếp: “Sóng thủy triều có khi dồn dập giận dữ, nhưng cũng có lúc dịu dàng êm ả. Và những khi êm ả ấy, không điều gì sánh cho hết được vẻ đẹp của biển cả, trừ ra nghệ thuật đích thật.”

 

 

            Tháng 10/1978. Lưu diễn Sông Cầu.

            Sông Cầu nước chảy lơ thơ

            Đôi ta thương nhớ bao giờ cho nguôi?

            Đoàn chuyển bến ra Sông Cầu, một thị trấn đẹp vùng duyên hải Miền Trung với phong cảnh hữu tình lai láng, trên bãi trồng đầy dừa, chung quanh các đồi xanh um cây cối. Là tỉnh lỵ cũ của tỉnh Phú Yên, Sông Cầu cũng là đầu đề cho bao mối tình, bao tâm sự của trai gái yêu nhau.

            Đoàn dựng rạp tại một vùng sát bờ biển, trên con đường Quốc Lộ I. Kỷ niệm độc đáo nơi đây là cứ mỗi đêm tan hát, lúc 12 giờ khuya, một số lớn người trong đoàn quy tụ lại trong bến xe đò của thị xã để ăn khuya. Mối duyên cải lương gắn bó bấy lâu vẫn chưa đủ thời gian cho tôi tìm hiểu về cái thế giới sống về đêm ấy. Những nhân vật đẹp đẽ trên sân khấu buổi tối trái ngược hẳn với các khuôn mặt bạc nhược không trang điểm ban ngày. Cuộc sống xô bồ chung đụng theo những chuyến lưu diễn dài, trong đó, con người chôn giấu mọi tình cảm sâu kín dưới lớp phấn son loè loẹt... tất cả, đối với tôi vẫn còn xa lạ, nhưng cũng thật vô cùng quyến rũ.

            Nửa đêm về sáng, bến xe của thị xã Sông Cầu lại như càng tăng thêm phần nhộn nhịp. Các hàng quán sáng trưng ánh đèn. Từng đàn “chim vạc ăn đêm” ngồi trước các gánh quà rong, chờ đợi. Tiếng xe đò nổ máy giục khách và tiếng người vội vã ơi ới gọi nhau.

            Nơi chiếc bàn của một quán rượu lề đường, tôi ngồi với cả nhóm Tân Nhạc, nghe say mê một ông lão mù vừa gõ nhịp vừa hát điệu Bài Chòi. Cái giọng trọ trẹ của người dân miền Tuy Hòa trong những câu ca đều đều buồn thảm vang lên giữa khuya đã thật là một điều mới lạ kỳ bí cho tôi. Tôi nghe trong hồn như nở ra một đóa hoa; nghe yêu bất chợt vùng đất nghèo khổ của Miền Trung khô cằn mà có lẽ chẵng bao giờ tôi còn dịp ghé lại.

            Trong cái đời lưu diễn xa xôi, tôi đã nhiều lần đi qua các bến đò, bến chợ. Nhưng thật, chưa có nơi nào linh hoạt sống động như bến xe của thị xã Sông Cầu vào lúc nửa đêm. Hình như nơi đây không có ranh giới của thời gian? Hay hình như bến xe này là biểu tượng đặc biệt của một thế giới ma quỷ nào khác, trong đó, cái quán tôi đang ngồi đã có từ thời Tây Sơn xưa lắc, mỗi vị khách là một tráng sĩ chống gươm,  nghiêng vò rượu; và ông lão mù biến dạng thành một lão trượng đang ngâm thơ Đường trong tiếng phách gõ đều đều nhàn nhã? Rồi lại tiếng gọi hủ tíu ơi ới, tiếng chân chạy sầm sập, tiếng rao hàng từ quán Âm Dương kế bên vọng lại... Để đến lúc trời gần sáng, các giọng gà xào xạc gáy vang thì cái quán này thu nhỏ lại và biến mất hẳn trước khi bình minh đến...

            []

 

 

 



(1) Marcel Pagnol, nhà văn và cũng là điện ảnh gia người Pháp (1895-1974), tác giả của bộ tiểu thuyết ba tập Marius (1929), Fanny (1931) và César (1937).

(2) Chàng tình nhân Marius, nhân vật chính trong tiểu thuyết Marius (của Marcel Pagnol).

(1) Núi Đá Bia: Còn gọi là Bi Sơn, hòn núi mọc lên tại xã Hòa Xuân, Tuy Hòa, Phú Yên. Trên núi có một tấm bia đá to, dựng nên từ thời vua Lê Thánh Tông, ghi chép công cuộc bình định Chiêm Thành.

 

 

 

Bài 01