Trần Thị Bông Giấy
NHẬT NGUYỆT BUỒN NHƯ NHAU (Tập I)
(Tự Truyện)

Bài 2

 

Rồi ra nhật cũng buồn như nguyệt
Trăng chết, hồn khô lá mặt trời
Lạc dấu mây xa –chùng phím cũ
Cõi thơ triều vọng tiếng mưa rơi
(Thơ Trần Nghi Hoàng)

 

 

 

PHẦN MỘT

 

I

 

Ôi! Nỗi hân hoan của cuộc gặp gỡ muộn màng
Trong một ngày thu có mưa và mưa đá
Hãy tha thứ cho em
--Nhưng hơn tất cả—
Anh tha thứ cho em
Vì em chậm đến bên anh!
(thơ Maiakovski)

 

Nha Trang, thứ năm 25/7/1974
            Tôi gặp anh lần đầu trong đêm khai trương vũ trường Nautique. Người đàn ông dáng cao gầy, đôi kính trắng nơi mắt, mép tóc rủ xòa trước trán, nói giọng Bắc ngọt ngào ấm áp, thu hút ngay cái nhìn và ý nghĩ tôi. Lúc đối diện nhau nơi phòng nhảy vẫn còn thưa thớt các người bồi bàn qua lại, anh nói nhanh;
            “Anh là Phùng Kim Ngọc, được anh chị Hoàng Cầm và các anh em nghệ sĩ nói cho biết rằng Thu Vân đàn hay lắm.”
            Tôi cúi đầu, lúng túng.
            “Có thể nào Thu Vân cho anh nghe một chút violon lúc này không?”
            Tôi nhìn anh, thoáng ý ngạc nhiên. Tôi chỉ mới gặp anh không đầy năm phút trước, khi anh bỏ quầy rượu ngoài bar, bước theo tôi vào dancing tối. Dẫu chưa biết anh là ai nhưng nhìn cách chào hỏi của các người làm việc trong Nautique, tôi đoán rằng anh phải là một tay “rất có hạng”.
            Lặng im mở đàn, so giây, tôi dạo lên đoạn giữa phần allegro, concerto Mi mineur (Mendelsohn). Dưới bóng đêm mờ ảo, tiếng violon vang dậy như những cuộn sóng dạt dào vũ bão. Những note harmonique buông thả dễ dàng nơi ngón út trái, cơ hồ tiếng thở dài của ngọn gió đầu thu. Đôi tay tôi ấm lại. Cả tâm hồn đắm chìm trong âm nhạc. Tôi như quên mất anh đang hiện hữu trước mặt. Quên luôn những bất ngờ xúc động mà người đàn ông lạ vô tình khơi dậy trong trái tim tôi.
            Tiếng đàn vừa dứt, anh kêu lên, thành thật:
            “Hay quá! Thu Vân đàn hay quá! Xin ca ngợi những note harmonique và giây vide vô cùng đặt biệt!”
            Tôi cúi đầu, mái tóc rủ xòa trên hai vai mỏng, nghe anh nói những lời nhẹ nhàng mà không mấy chú tâm đáp trả. Anh cố gợi chuyện:
            “Hình như Thu Vân buồn và không thích hợp với không khí vũ trường?”
            Tôi gật nhẹ đầu. Anh an ủi:
            “Rồi Thu Vân sẽ quen đi và thấy yêu nó lắm.”

            Trong cái tập thể bóng lộn áo quần của đêm khai trương Nautique, phong thái bất cần, ngạo mạn từ anh rõ ràng khác biệt. Nơi hậu trường, anh vẫn cái dáng khinh khoát, nghinh ngang với ly bière trên tay, thân thiện chào hỏi mọi người. Đến cạnh tôi, cầm cây archet, chà colophane vào trên ấy, anh nói nhỏ:
            “Làm đây một thời gian mà thấy không hạp, anh sẽ thu xếp cho Thu Vân qua NhaTrang dancing cùng với anh.”
            Trái tim tôi đập mạnh.
            Chị Hoàng Cầm đứng gần đó, quay lại nói:
            “Nhà ông, ông đốt được. Nhà con người ta là nhà thuê nhà mướn, tội nghiệp, ông giữ giùm cho!”
            Tôi không hiểu ngụ ý nào trong câu nói chị, nhưng thấy anh mỉm cười, chắp hai tay, giơ lên xá xá trước mặt chị. Và anh từ giã ra đi.
*
* *
            Đêm đầu tiên ở Nautique, tôi biết mình được ưa chuộng thật nhiều. Mỗi khi tiếng violon vừa dứt, từng tràng pháo tay rào rạt vang lên. Các ca nhạc sĩ cười với tôi, vẻ vừa e dè vừa thương hại. Tôi cười đáp trả mà nghe trong hồn có điều lạc lõng. Cái không gian náo động này không phải là của tôi, con người chỉ tìm ra an tâm trước thiên nhiên hoang dã hay trong một căn phòng tĩnh lặng đầy sách. Nhưng có lẽ tôi sẽ “quen” và sẽ “yêu được nó” ngày nào, như anh nói thôi.
            Một lát, chị Hoàng Cầm đến bên tôi bảo nhỏ:
            “Anh Ngọc vừa từ Nha Trang dancing điện thoại qua hỏi chị: Thu Vân đã đàn chưa? Nếu có đàn, cho anh ấy xin một bản.”
            Không dưng lặng người đi như vừa bị ai đấm một cú mạnh vào giữa ngực; khi ấy từ trên sân khấu đang vang lên lời giới thiệu bài Nghìn Trùng Xa Cách anh Hoàng Cầm sẽ hát, tôi nói nhanh với chị Hoàng Cầm:
            “Chị trả lời anh Ngọc giùm là em sẽ đàn Nghìn Trùng Xa Cách ngay bây giờ cho anh ấy đây.”
            Ôi! Sao lại là Nghìn Trùng Xa Cách của lần đầu tiên gặp gỡ? Tôi không biết được. Chỉ linh cảm rằng, rồi ra tất cả mọi thứ, từ không khí vũ trường náo nhiệt, cuộc sống công cộng ồn ào, cho đến cái tình cảm mong manh vừa chớm hiện trong trái tim đơn lẻ... cũng sẽ không rời thoát âm điệu tan tác của bản nhạc này.
            Gió từ xa khơi thổi vào làm đôi vai se lạnh. Ngồi ngoài sân hậu trường với chị Hoàng Cầm, tôi lắng nghe tiếng sóng và cả tiếng lòng mình đang dao động. Những lời kể của chị tựa như những nhát dao sắc mỏng, cứa từng đường nhẹ vào khối tâm tư đã bao năm đông giá. Người đàn ông rất dịu dàng điềm đạm, có vợ và bốn con. Người vợ lớn hơn 12 tuổi, nổi tiếng ghen tương, dữ dằn ghê gớm...
            Tôi nhìn xa xa vùng biển tối bên kia con đường Duy Tân, chạy dài từ Cầu Đá trở lên đến đầu Bưu Điện. Các cụm dương rì rào trò chuyện. Từng đợt sóng vỗ mạnh cái giai điệu ai oán muôn đời. Những vì sao nhấp nhô đùa giỡn. Cơn gió mùa hè không kém phần tỉ tê như ngọn gió đầu thu!
            Tiếng chị Hoàng Cầm vang vang bên tai tựa như một hồi chuông cảnh tỉnh. Tôi lặng im trong tâm trạng vừa muốn trốn chạy, lại cũng vừa thôi thúc đối diện với sự thật xé lòng.
            Ôi! Tôi đang thế nào đây, người con gái 25 tuổi nổi tiếng dửng dưng trước những mối tình của đàn ông trao tặng? Và rồi sẽ thế nào khi tự biết rằng khó cưỡng chống với một định mệnh đắng cay đang sắp lần nữa đổ ập lên cuộc đời tôi?

 

            Nha Trang, thứ hai 5/8/1974
            Dưới vòm trời đầy sao ở sân sau Nautique, lần thứ hai gặp anh –nửa tháng kể từ đêm thứ nhất—tôi không nén được nỗi reo vui âm thầm trong tim. Tiếng nhạc vọng ra từ sân khấu, hòa lẫn tiếng sóng, cuốn hút xa khơi theo tiếng gió. Trời mùa hè mây cao. Giọng anh ấm áp:
            “Dưới ánh đèn sân khấu, măc soirée trắng, trông em dịu dàng y hệt một con thiên nga.”
            Tôi mỉm cười. Anh tiếp:
            “Trò chuyện cùng em, anh thấy thật thoải mái như thể đang soi gương chính mình. Em đúng là hiện thân của anh hai mươi năm trước.”
            Rồi lại hỏi:
            “Làm việc với anh chị Hoàng Cầm, em có nghe dễ chịu?”
            Tôi lặng im.
            “Và có nghe thiếu thốn?”
            Tôi cúi đầu đáp nhỏ:
            “Nhiều lắm!”
            Không dưng, tiếng anh trầm hẳn:
            “Anh có thể đem cho em những thiếu thốn ấy?”
            Tôi giật mình, ngước nhìn anh. Trên khuôn mặt nửa như cười nửa như nghiêm trang kỳ lạ, tôi không đọc thấy điều gì ngoài một nỗi dịu dàng thương xót. Cơ hồ, một thoáng run rẩy lướt nhẹ qua tim.

 

            Nha Trang, thứ Tư 7/8/1974
            Đêm, trong Nautique, anh ngồi trên chiếc ghế cao cạnh quầy rượu, nghe tôi đàn những bản Boston dìu dặt. Nơi sân sau hậu trường, anh nhỏ tiếng khen:
            “Em có cái dáng đẹp quá khi kéo violon.”
            Các mẩu chuyện nhẹ nhàng chỉ khiến tâm tư tôi càng thêm xao động. Anh kể cho tôi nghe từng đoạn ngắt quãng về cuộc sống riêng 20 năm qua. Có một câu:
            “Anh tàn phá đời mình trong âm nhạc và công việc.”
            Tôi như khó thở khi nghe anh thốt lên điều ấy. Hóa ra anh cũng không hạnh phúc? Hay là tất cả những người mang cái nghiệp nghệ sĩ đều không thể nào tìm thấy hạnh phúc? (Trong óc thoáng hiện nỗi sung sướng khi nhận thức rằng, trên nhiều mặt của một cuộc sống và tâm hồn đầy đam mê, tôi may mắn hơn anh rất nhiều theo hai chữ “tự do”).
            Tôi e dè hỏi:
            “Có bao giờ anh buồn bã?”
            Anh cúi đầu:
            “Luôn luôn!”
            “Vậy anh không nghĩ đến một lối thoát?”
            Anh nhìn tôi, vẻ chịu đựng:
            ”Mười tám năm đã quá muộn để thử tìm một lối thoát. Anh đã cằn cỗi quá rồi.”
            Khối lòng tôi chợt như lặng ngắt. Tôi chưa hiểu rõ anh, nhưng biết rằng chúng tôi có chung một đam mê, một ý hướng hạnh phúc; cũng như sự đau đớn trong định mệnh có cùng hình thức phần nào trùng giống. (Từ ngày xa Đ., tôi chôn chặt mọi tình cảm và chưa hề một lần nghĩ đến điều ràng buộc. Tư tưởng tự tử chiếm cứ đầu óc như một níu kéo giải thoát sau những đêm dài thức trắng trong một định mệnh nổi trôi, dồn dập. 25 tuổi, tôi sống nồng nàn cuộc sống nhiêu khê, vô định). Giờ đây, trước người đàn ông lớn hơn 15 tuổi không còn tự do nữa, cớ sao lại chỉ mang ý nghĩ muốn chia cùng mọi nỗi khổ đau vướng vít? Cớ sao chỉ nghe dậy lên trong tim sự ham muốn bắt đầu?
            Đêm mùa hè, trời mây cao trong vắt. Giàn dạ lý nơi các bờ tường Nautique thoang thoảng hương thơm. Tôi không nghĩ đến những người đàn ông đeo đuổi, không luôn người đàn bà nổi tiếng ghen tuông, chỉ trong vòng 15 phút đã đốt trọn cả một sản nghiệp hai vợ chồng tạo nên trong 18 năm đằng đẵng. Trong tôi bừng bừng sức sống mạnh mẽ. Quãng đời cũ bỗng như nhẹ tênh hết mọi dấu ấn đau thương trước ý nghĩ “Anh đúng là người đàn ông để tôi dâng tặng một tình yêu.”

 

            Lúc 10 giờ đêm, anh từ giã. Nhìn đôi mắt đăm đăm của tôi, anh nói khẽ:
            “Ngày mai anh sẽ trở lại nghe em kéo violon. Em có muốn không?”
            Tôi gật đầu. Anh xiết bàn tay tôi.
            Gió biển mơn man trên đôi vai trần. Tôi nghe gây gây lạnh. Và tôi nói nhanh, câu nói nhẹ như một hơi thở:
            “Bây giờ thì không, nhưng em biết rằng rồi một ngày em sẽ yêu anh!”
            []

 II

 

Sao em ngước mặt chờ thiên cổ
Ta quên đời ngạo nghễ yêu em
Con ong mửa mật ra làm tổ
Ta thổi thơ tình xanh tóc đêm
(thơ Trần Nghi Hoàng)

 

Nha Trang, thứ năm 8/8/1974
            Nửa đêm, ngồi nơi bàn viết, nhìn ra con đường Quang Trung vắng vẻ mà nghĩ mông lung đến nhiều sự việc. Tôi vẫn yêu Nha Trang buổi khuya, những khuya thế này, khi hòa nhập cái lãng mạn của nó vào với cuộc sống sôi nổi hiện tại của tôi. Sức khỏe vốn mong manh, càng bị tàn phá nhiều hơn bằng các hơi thuốc lá đen và những cốc café đậm đặc. Bao năm qua tôi vẫn sống như thế. Một kiểu sống cô đơn, vội vã, mà rất nhiều lần, tôi tự cảm nghe buồn rầu không biết rồi sẽ dẫn đến đâu?

 

Nha Trang, thứ Sáu 9/8/1974
            3 giờ chiều. Anh đến khi tôi vừa thức sau giấc ngủ ngắn. Tôi yêu những lúc không chờ đợi thì lại nhìn thấy anh, như một người bất ngờ hiện ra từ cõi mộng xa xăm.
            Đưa tay về phía tôi, anh nói:
            “Ngồi lại gần anh, đừng để giữa chúng mình có khoảng cách nào hết.”
            Thốt nhiên, trong lòng sao chỉ nghe man mác một mối buồn?
            Hơi thở anh phà ấm trong vùng tóc ướt:
            “Tội nghiệp em! Vướng vào người đàn ông như anh, làm sao có thể đo lường nổi sự thiệt thòi trên nhiều mặt?”
            Tôi đáp khẽ:
            “Em chỉ mong được tự do yêu anh mà không mong sự đáp trả. Tốt hơn, anh đừng nên đáp trả.”
            Anh ghì tôi mạnh hơn:
            “Anh sẽ cố gắng nếu điều ấy bớt đi cho em phần nào đau đớn. Nhưng anh cũng biết không thể cưỡng với lòng nỗi thèm muốn được yêu em.”
            Buổi chiều thật êm. Nắng vàng đổ tràn rực rỡ. Vài cánh chim sâu ríu rít trên ngọn cây phượng trổ bông đỏ rực trước nhà. Căn biệt thự tôi đang cư ngụ là của gia đình, dành để nghỉ hè, quanh năm cửa đóng then gài im ỉm. Cái vẻ hoang lạnh của nó chỉ bớt đi khi tôi hừng chí, dừng bước giang hồ dăm tháng tại đây.
            Anh nhìn quanh quất căn phòng, vẻ ái ngại:
            “Anh vẫn ngờ ngợ khi nghe chị Hoàng Cầm kể rằng cuộc sống em phiêu bồng lắm. Bây giờ, nhìn cách bày biện của em, anh phải nhận nó giống y như của một người ‘sẵn sàng để ra đi!’”
            Tôi lập lại:
             “Sẵn sàng để ra đi! Anh dùng chữ rất hay! Lúc nào em cũng ‘sẵn sàng để ra đi’ nên hành trang không có gì quý báu, ngoại trừ vài ba cuốn sách gối đầu giường và cây violon thân thiết.”
            Cái vẻ ấm áp từ anh toát ra khiến tôi như cảm nghe hụt hẫng. Nâng khuôn mặt tôi bằng 10 ngón dài thanh nhã, anh ngậm ngùi nói:
            “Bình thường, khi trò chuyện cùng bất cứ ai, anh vẫn thấy bị đè nặng đến dường bức rức bởi nhiều chi phối đáng ngại. Nhưng với em, cảm tưởng này biến mất. Từ em, anh nhận ra điều lớn lao mà cả đời anh không có được: ‘Sự phiêu bạt cần thiết cho một nghệ sĩ trước khi đóng khung đam mê và tài năng trong các ràng buộc giới hạn của cuộc sống hôn nhân.’”
            Vuốt tóc tôi, anh cười bảo:
            “Lần đầu tiên nhận cái note ‘xin việc làm’ gửi cho anh qua tay người thư ký Nha Trang dancing, anh bị chinh phục ngay vì nét chữ quá đẹp của cô bé. Lần thứ hai lại mê mẩn khi cô bé dám hỏi thẳng ‘Anh có phải là tay đại ma đầu trong giới dancing như mọi người đồn đãi chăng?’”

 

            [Tôi lạ lùng nghe anh nhắc đến một kỷ niệm nhỏ. Đêm thứ nhì gặp nhau, sau câu hỏi ấy, anh đáp ngay: “Mọi người có quyền nói điều gì họ nghĩ, anh không phải là tay đại ma đầu. (Và cười lớn) mà nếu đúng vậy thì cũng sẽ không bao giờ ma đầu với cô bé đâu.”]

 

            Ánh mắt anh cuốn xoáy vào tôi:
            “Lúc ấy, trong óc anh, ý nghĩ ‘Em là người con gái kỳ lạ, thẳng thắn và thu hút’ cứ dội đi dội lại.”
            Rồi anh kết luận:
            “Anh tin định mệnh. Tin rằng đến một thời gian nào đó sẽ có một biến chuyển lớn mà dẫu có muốn cưỡng lại cũng không được. Biết đâu định mệnh anh lần này chẳng ngã vào tay em?”
            Tôi lặng im, tự biết mình đang bước dần những bước chông gai bên cạnh anh để đôi chân không tránh khỏi điều rướm máu. Và anh thì sẽ làm gì được cho tôi?
            “Ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại.”
            Rồi một ngày chia xa, tôi sẽ hát lại câu hát này, nhưng liệu khi ấy biết có còn đủ hơi sức để chống chỏi đau thương như trong những lần xa cũ hay chăng?

 

Nha Trang, thứ bảy 10/8/1974
            Buổi trưa tại nhà, chuyện trò cùng Minh, tay trống trong ban nhạc. Lần thứ nhất tôi được một người bạn “cảnh giác” cho hay về những nguy hiểm sẽ phải gặp trong mối tình với anh. Qua cách nói của Minh, tôi đo lường được tính ghen ghê gớm của người đàn bà vợ anh và luôn cả nỗi sợ hãi bà đã gây ra trên tất cả những ai anh quen biết. Có một câu Minh nói: “Anh Ngọc là người nghệ sĩ rất tài hoa, chỉ tiếc rằng anh ấy không còn tự do nữa.”
            Và một câu khác: “Em là cánh chim lạ trong giới vũ trường Nha Trang nên không biết cái thực trạng của anh Ngọc. Anh sợ cho em một ngày nào đến phải từ bỏ cung đàn luôn nếu đối đầu với sự dữ dằn khủng khiếp của bà Lan.”

            Buổi chiều trôi đi lặng lẽ trong tiếng violon mang mang dìu dặt. Lòng tôi ấm lại. Ít ra tôi còn tiếng đàn và cuộc sống cô đơn phiêu bạt. Ít ra trong âm nhạc, tôi vẫn không chia cách với anh. Mối tình này rồi ra sẽ va chạm rất nhiều khó khăn cản trở. Tôi biết rất rõ điều ấy, nhưng thật tâm vẫn muốn đối đầu chướng ngại. Bởi, chỉ như thế, tôi mới chia được cùng anh phần nào bất hạnh anh cưu mang trong cuộc sống. Chỉ như vậy, tôi mới tỏ bày được tấm tình lai láng tôi đang ấp ủ về anh.

 

Nha Trang, chủ nhật 11/8/1974
            11 giờ sáng, anh đến, vẻ hớn hở:
            “Anh bỏ cái hẹn với ông đại tá Minh vì nhớ cô bé quá. Đêm qua thế nào, kể cho anh nghe với?”
            Tôi phác sơ những lời cảnh giác của Minh và sự bỡn cợt của hai anh Cầm, Phong theo tánh ghen nổi tiếng của người đàn bà vợ anh. Vậy là nét buồn tỏa hằn trong mắt, anh kêu lên nho nhỏ:
            “Anh như một thằng hủi, ai cũng ghê tởm!”
            Tôi bật đáp:
            ”Nhưng không phải là em.”
            Bỗng dưng, tôi nghe rõ tiếng lòng mình như chao đảo; muốn thốt ra với anh bao lời chia xẻ, vậy mà rồi cũng chỉ lặng câm.
            Giọng nói anh cơ hồ ray rức:
            “Em có thấy rằng đang khổ?”
            Tôi ngước nhìn anh:
            “Tại sao?”
            Anh cúi đầu không đáp.
            Nỗi ngậm ngùi tỏa lan khắp căn phòng rộng. Tiếng thời gian lướt nhẹ thinh không. Vệt nắng từ cửa sổ chan hòa trên bàn viết, làm nên một khoảng sáng lung linh rực rỡ. Cầm lấy điếu thuốc anh vừa dụi vào cái gạt tàn, tôi bày tỏ:
            “Để ý, em thấy anh vẫn quen hút nửa điếu lại dụi tắt? Đó có phải là điều biểu lộ cho cá tính hay chán nản mà bỏ cuộc giữa chừng?”
            Nét ngạc nhiên lộ ra trong mắt anh. Tôi cười, tiếp:
            “Đêm đêm, em hay tìm cất những điếu thuốc hút dở của anh, giống như một thứ À la Recherche du Temps perdu (*) vậy.”
            Anh vụt ôm ghì tôi vào ngực:
            “Chẳng lẽ cuộc đời anh chỉ còn lại cho em những điếu thuốc hút dở thôi sao?”
            Tôi lắc đầu:
            ”Có nhiều việc mình không dám nhìn thẳng vào nó...”
            Và ngần ngừ:
            “... Như sự việc mơ ước có anh!”
            Anh xiết tay tôi, im lặng.
            Tôi nói nhỏ:
            “Một lúc nào khi nghe thiên hạ mỉa mai về cái thực trạng của anh, em thấy vô cùng tuyệt vọng. Em cũng biết suốt đời chẳng thể nào mình có được nhau, nên đã muốn mơ một hình hài thân thể tạo nên bằng máu thịt anh.”
            Nhìn tôi thật lâu, gọng anh chậm rãi, điệu cực kỳ xúc động:
            “Em phải tin điều này, em là người con gái tuyệt vời thứ nhất trong đời mà anh gặp. Tới giai đoạn tàn tạ này, anh không ngờ còn được như thế, cứ tưởng như một giấc mơ quá đẹp để khi mở mắt thấy vẫn còn nuối tiếc bàng hoàng. Nếu có điều gì thật nhất thì anh xin nói rằng, anh yêu em vô cùng, từ trước chưa hề có và mãi mãi về sau cũng không thể còn có nữa. Ngày nào tàn tạ trước cái chết, chắc chắn hình ảnh anh thèm muốn được nhìn thấy trong giây phút cuối vẫn duy nhất là em.”
           
            Buổi trưa tĩnh lặng
            Có lúc anh tỏ ra vui thú:
            “Em bé bỏng đáng yêu như một con mèo. Anh mê em thật rồi cô bé ạ.”
            Có lúc anh hỏi, vẻ băn khoăn ray rức:
            “Anh chỉ còn lại cho cô bé những điếu thuốc hút dở, cô bé có buồn không?”
            Tôi vùi mặt vào ngực anh, run rẩy vì cái hạnh phúc đang nắm trong tay sau bao năm dài lặn ngụp trong vũng cô đơn rộng lớn. Giờ phút này, tôi chối bỏ hình ảnh người vợ anh, chối bỏ những đau khổ một ngày không xa có thể đón nhận từ người đàn bà, để chỉ cố sức ôm trọn tất cả hiện tại. Bên tai vang vang tiếng vọng từ tâm rằng “Tôi không điên, không liều lĩnh, mà chính là đang sống một quãng đời mê say tuyệt diệu”, đồng lúc lại nhận thức, những tháng năm trước mặt, tôi sẽ mất anh vĩnh viễn và cả đời dài sau đó, không thể nào còn tìm thấy được lần thứ hai những gì của chuỗi thời gian hôm nay
            Ôm khuôn mặt tôi trong đôi tay dài nghệ sĩ, anh nói:
            “Em hiểu cho anh! Anh chỉ là thứ yếu mà có được em thế này là cả một hạnh phúc lớn. Vậy ý em thế nào, anh cũng xin nghe. Nếu muốn đừng bao giờ gặp em thì dù nát lòng, anh vẫn cố gắng.”
            Tôi nhíu mày:
            “Anh biết là em thèm muốn ngần nào được nhìn thấy anh? Một ngày rồi mình cũng sẽ mất nhau, nhưng em không muốn mất anh quá sớm. Nên, xin hãy giữ gìn cho em, nếu có đến Nautique, xin chỉ ngồi nghe em đàn.”
            Anh gật đầu, dáng vẻ chịu đựng.

 

Nha Trang thứ hai 12/8/1974
            Buổi tối, mặc soirée đen, xanh gầy như một chiếc lá. Tôi không nhìn thấy anh nhưng lại gặp và trò chuyện cùng người vợ anh. Tôi không biết mình có lúng túng chăng khi bà bất ngờ đến cạnh bên, khen Em đàn hay lắm”. Bà cũng kể rằng anh vẫn thường ca tụng tôi. Tôi nói cảm ơn mà xót xa nhớ lại anh với cuộc tình hiện tại. Và mỉm cười:
            “Em gầy quá.”
            Bà lắc đầu:
            “Không. Có ngồi nhìn và nghe em đàn mới thấy rõ cả một nỗi buồn toát ra từ em để mình phải buồn lây. Trong cái đời làm chủ dancing, chị đã từng hợp tác với nhiều ca nhạc sĩ nhưng chưa gặp ai đặc biệt như em. Anh Ngọc cứ khen mãi.”
            Người đàn bà có nét mặt sắc dữ, dáng vừa tầm, mập mạp. Đứng cạnh bà là một đứa bé chừng 10 tuổi, khuôn mặt giống anh nhiều nét. Bà quay nghiêng nhìn tôi, giọng nhỏ nhưng hơi thé:
            “Đây là con gái út của chị.”
            Đêm mùa hè oi ả mà không dưng tôi nghe thấm lạnh đến rùng mình.
*
* *
            Khi  người đàn bà đã bỏ đi, tôi xiết chặt đôi tay khiến như rã rời trên từng ngón.
            Dưới làn ánh sáng mờ ảo của những ngọn đèn sân khấu, kéo Boston bản Đừng Lừa Dối Nhau mà nghe an tâm trong sự che giấu được trước thiên hạ tiếng run rẩy của lòng mình.
            Ngày đến bao mặn mà
            Ngày bước đi hững hờ
            Vì trót yêu nên đành
            Người xa vẫn xa, người thương vẫn thương...
            Giờ phút này, tôi vẫn còn tiếng đàn và một trời cô đơn rộng lớn. Nỗi cô đơn như người bạn thiết, gần cận hơn cả một người tình bằng xương bằng thịt mà càng đau khổ, tôi càng thêm bấu víu trong sự tin tưởng rằng sẽ không bao giờ bị nó bỏ rơi.
            []

 

  III

 

Đời còn ai về sao ta hoài mãi ngóng
Từng chiều loanh quanh mấy bận nắng phai màu
Có những cơn mưa, mưa không đủ làm ướt tóc
Mưa bóng mây chỉ làm trái mộng xanh xao
(thơ Trần Nghi Hoàng)

 

Nha Trang, thứ Ba 13/8/1974
            Nha Trang đã bắt đầu vào mưa. Tôi yêu những lúc thật sớm đi bộ ra biển dưới cơn mưa nhẹ để đến ngồi nơi chiếc quán vắng trên bãi, gọi một cốc café nóng, nhìn xa xa chân trời mà nghe tâm tư lắng lại trước thiên nhiên rộng lớn. Tiếng sóng ầm vang gào thét. Áng mây buồn lơ lửng màu xanh. Khoảng thời gian của những cảm xúc đơn thuần nhất. Mọi vấn vương quấn quýt thường ngày đâm thành nhẹ tênh như hơi gió thoảng. Và cuộc tình tôi cũng trở nên bay bổng, mơ màng.
            Đêm qua trong quán ăn có luôn cả anh, tôi nghe chị Hoàng Cầm hỏi: “Yêu và không yêu, em thấy điều nào sung sướng hơn, dù là tình yêu ngang trái?”
            Tôi những muốn đáp rằng tôi chấp nhận điều trên dưới bất cứ hình thức nào đau đớn nhất, nhưng sao mở miệng chỉ là: “Sự cô đơn vẫn có cái tuyệt vời riêng của nó mà tình yêu không thể nào tìm được. Em chỉ mơ cho mình bình thản tâm hồn thôi.”
            Chị Hoàng Cầm không chịu, nhưng anh Hoàng Cầm đồng ý, còn anh thì mỉm cười, im lặng.
            Có lẽ tôi đáp cũng không sai với lòng mình, vẫn mong ước được yên trong nỗi cô đơn nếu như định mệnh đừng đưa anh lại cho tôi.

            Mưa và mưa.
            Trong căn phòng lạnh, tiếng violon vang lên đượm đầy nỗi nhớ. Một thoáng nào nghĩ lại Dalat... nhưng xóa vội ý tưởng đi. Một trang đời đã được lật qua, không vội vã và rất đúng lúc. Những ngày tháng cũ, tôi sống sôi nổi thành thật. Bây giờ đang là lúc bắt đầu cho những ngày tháng mới. Trong cuộc sống, tôi nhiều lần lầm lỡ, nhưng sự hối tiếc những gì đã hành xử là điều không bao giờ được phép hiện hữu lâu trong đầu. Với tôi, tương lai mới là quan trọng. Phóng mình để tìm một cái hướng chuộc mọi lỗi lầm là điều cần thiết để làm sau mỗi lần vấp ngã. Càng ngã đau bao nhiêu, tôi lại càng trổi dậy nhanh chóng bấy nhiêu.

 

Nha Trang, thứ Tư 14/8/1974
            Ban đêm. Ngồi trò chuyện cùng chị Hoàng Cầm nơi sân sau hậu trường, tôi tránh nhắc tên anh. Cho tới khi chị cố tình gợi đến, tôi đã đáp:
            “Chị hãy nói anh Ngọc đừng yêu em, nếu không em sẽ bỏ thành phố này mà đi.”
            Chị Hoàng Cầm kêu lên:
            “Tại sao vậy?”
            Tôi thành thật:
            “Ở lại, em biết mình không cưỡng được với cái tình yêu đang có khuynh hướng muốn tìm kiếm nơi anh ấy. Và rồi cũng sẽ không tránh được điều bi thảm cho cả anh ấy lẫn em.”
            Đối diện tôi, ánh mắt chị Hoàng Cầm thoáng nét ngạc nhiên. Tôi nhìn xuống:
            “Em vừa thương nỗi lo sợ hạnh phúc của chị Ngọc, lại cũng vừa tin tưởng anh Ngọc đúng là người mà Thượng Đế sinh ra để ráp lại với em thành một cái khuôn tình cảm hoàn hảo. Đó là đầu mối cho mọi dằn vặt trong em.”
            Chị Hoàng Cầm lắc đầu:
            “Em đừng bi quan. Cứ nghĩ rằng mình yêu cho cuôïc đời bớt đi phần nào bi thảm.”
            Tôi lặng im từ đó, không dám tiến sâu vào vấn đề, dù rất thèm được nghe về anh từ bất cứ ai.

 

Nha Trang, thứ Năm 15/8/1974
            Anh đến Nautique khi tôi đang tập dượt cùng ban nhạc. Cái dáng nghinh ngang ngạo nghễ chế ngự tức thì sự vui thú của mọi người. Tất cả đều như khựng lại, nhiều hơn hết là Văn, người nhạc sĩ đàn organ đang rất có cảm tình với tôi.
            Buổi tập dượt trở nên nặng nề lúng túng cho mãi đến 12 giờ trưa, anh đợi đưa tôi về. Văn từ chối sự đi chung với một chút gì chua chát.
            Trên chiếc Ford Capri màu đỏ, anh phân trần:
            “Mấy ngày rồi bạn bè lôi kéo khiến anh không có một chút thì giờ rảnh rỗi.”
            Tôi mỉm cười. Mặt anh lộ vẻ áy náy:
            “Em có buồn gì anh không?”
            Tôi lắc đầu. Anh kêu lên:
            “Anh không tin!”
            “Vậy thì em nói: ‘Em nghĩ rằng anh đã được và đã quên!’”
            Anh quay nghiêng, nắm bàn tay tôi xiết mạnh:
            “Đừng, anh van em đừng bao giờ nghĩ thế, tội anh! Hãy nhớ rằng anh là con người rất chung thủy.”
            Tôi ngạc nhiên khi nhận ra con đường không quen thuộc:
            “Anh quên đường về nhà em rồi sao?”
            Anh bật cười:
            “Làm sao có thể quên? Đường về nhà em mà không nhớ thì anh con nhớ gì nữa? Anh cấm không một ai ngoài anh được quyền nhớ.”
            Tôi thốt nghe rung động vì chữ “cấm” anh dùng.
            Anh tiếp:
            “Chỉ xin em hiểu, anh ở vào thế yếu, phải giữ gìn cho cả hai chúng ta. Em có quyền nghĩ bất cứ điều gì về anh, trừ ra điều vừa nói.”

 

            Trong căn nhà số 7 Quang Trung.
            Vuốt những sợi tóc lòa xòa trên trán tôi, anh kể:
            “Vợ chồng Tướng Kỳ mời anh đi Khánh Dương nhậu thịt rừng. Qua ngang đây, anh xin bà Kỳ cho anh ghé vào đón một người nữa. Bà ấy hỏi ai, anh đáp ‘một người của tôi’. Nhưng thấy cái giấy gắn nơi cửa, anh đoán rằng em đi ra biển. Bà Kỳ cũng nói: ‘Lần khác tôi sẽ cho ông và người của ông mượn căn nhà trên ấy, muốn ở lại mấy ngày thì ở.’ Đến Ninh Hòa biết đang bị pháo kích, phải quay về. Ghé em, cũng không có nhà. Nghĩ rằng em đang ở Nautique nên anh bay đến đấy ngay.”
            Vẻ vui thú, anh tiếp:
            “Ban sáng ngồi nhìn em đàn trên sân khấu, tóc cột bằng mouchoir, cái dáng em bé bỏng dễ thương y hệt một con mèo nhỏ; nhất là dưới ánh đèn, những sợi tóc ánh vàng lại càng giống. Anh chỉ muốn nhảy lên bế em đi mất. Chắc có đêm nào đến Nautique, không đừng được, anh sẽ làm điều này thật quá. Ông bà Cầm hẳn la hoảng lên cho mà xem!”
            Và anh cười lớn.
*
            Khi biết anh phải đi Dalat ít ngày, tôi e dè hỏi:
            “Trước khi khởi hành, có thể nào anh cho em được một hôm có anh trọn vẹn?”
            Anh gật đầu:
            “Đó cũng là mơ ước của anh, em sẽ đi chợ và anh làm bếp.”
            “Điều thứ hai: Những ngày Dalat, anh sẽ viết tiếp vào nhật ký em những gì anh sống và nghĩ?”
            Anh nhìn tôi, vẻ ngậm ngùi chợt lộ ra trên mặt:
            “Tại sao những cái đơn giản hết sức chỉ đến muộn màng trong định mệnh? Giá mà được trở về 7, 8 năm trước, anh có thể đánh đổi cả cuộc sống để có em.”
            Tôi lắc đầu, buồn bã:
            “Nhưng mà giá 7, 8 năm trước gặp anh, em cũng chỉ mơ ước bấy nhiêu. Sở dĩ xin anh điều sau vì đó chính là những gì em còn giữ được nếu một mai đã mất anh hẳn”
            Anh ôm ghì tôi:
            “Tội cho em! Anh không bao giờ nghĩ rằng ngày giờ này được gặp em tuyệt diệu như thế. Cứ tưởng như mình đang trong một giấc mơ huyền hoặc.”
            Bỗng dưng, điệu thảng thốt, anh bật lên câu hỏi:
            “Nhưng tại sao lúc nào trong óc em cũng chỉ hườm cái ý nghĩ mình mất nhau vĩnh viễn?”
            Câu nói đánh mạnh vào đầu tôi một sự kiện chính tôi cũng không ngờ.
            Có thể nào như thế? Quãng đời quá khứ không xa bao nhiêu với những dấu ấn tan vỡ đậm đà đã đánh mất đi của tôi niềm hân hoan trước một tương lai rộn rã? Có phải tôi đang đi quá nhanh trên con đường tình yêu bằng đôi hia bảy dặm? Có phải tôi đang quăng tuốt một hiện tại nồng nàn của năm 1974 sang mãi đến năm 2000, để rồi tự mình hoài niệm thời gian trong nỗi cảm xúc rưng rưng?
            Tôi cúi đầu, nghe từ anh một câu hỏi đượm đầy trách móc:
            “Em không tin rằng anh yêu em thật sao?”
            Tôi nhìn lảng ra ngoài cửa sổ:
            “Em tin lắm chứ, nhưng phải nói, em tin hơn một điều rằng ‘Em chỉ có anh thật sự ngày nào đã mất hẳn anh rồi.’”
            Cả hai cùng im lặng.
            Thật lâu.
            Tiếng anh van nài nho nhỏ:
            “Đừng bỏ anh! Hãy nói là dù trong bất cứ hoàn cảnh nào em cũng không bao giờ bỏ anh để một mình cất bước giang hồ rong ruỗi.”
            Trái tim tôi thắt lại.
            “Nói đi em!”, anh tiếp, điệu hoảng hốt.
            Nhìn sâu vào mắt anh, tôi giơ cao bàn tay phải:
            “Em hứa rằng sẽ không từ bỏ anh ngày nào anh còn cần đến tình yêu của em.”

            Buổi chiều nhuốm tràn hạnh phúc, thứ hạnh phúc vừa ngậm ngùi vừa nồng nàn mà chỉ những con người đã thấm nhuần cô đơn mới nhận thức được hết nỗi quý giá của nó.
            Ghì tôi trong tay, anh nói:
            “Nếu chúng mình có con thì đứa con sẽ là đứa rách nhất thế giới khi cha và mẹ nó đều là nghệ sĩ, xem vật chất danh lợi không ra gì em nhỉ?”
            Tôi tiếp:
            “Nhưng lại là đứa giàu nhất thế giới khi cả kho tàng tâm tư, nó đều được cha mẹ dành cho.”
            Anh gật đầu, vẻ mơ mộng:
            “Và anh sẽ bế nó luôn cho đến khi nó lớn. Đêm đêm em đi đánh đàn, anh ở nhà lo cho nó bú và dỗ nó ngủ.”
            Tôi lặng người, tâm tư dậy lên nỗi chơi vơi đến như gần bật khóc. Thật lâu, tôi nói chậm rãi từng tiếng:
            “Không, em sẽ đem nó đi và anh sẽ không biết nó ra sao. Nhưng bất cứ lần nào đặt tay trên phím trắng, anh đều nghĩ rằng con anh cũng đang dạo lên những bản đàn thánh thót.”
            Nỗi chịu đựng tỏa tràn khuôn mặt anh khiến tôi hối hận tức thì để kềm giữ kịp những lời tàn nhẫn.
            Buổi chiều lặng lẽ, anh mân mê ngón út bàn tay trái tôi, hôn lên nó và nói:
            “Đây là ngón tạo nên những notes harmoniques tuyệt diệu khiến anh rung cảm ngay từ đêm đầu gặp gỡ. Anh yêu nó nhất.”
            Và từ giã ra đi.

 

Nha Trang, thứ Bảy 17/8/1974
            Dưới bóng tối sàn nhẩy, khi đang ngồi đợi giờ làm việc thì thấy cái dáng nghinh ngang của anh từ ngoài bar bước vào, cả tâm tư tôi bùng lên xao xuyến. Một ngày mất nhau, liệu rằng nỗi đau đớn sẽ cao đến chừng nào khi mà sự xúc động hiện tại mạnh mẽ như kia?
            Quỳ nhổm trên gót, vòng tay ôm hai đầu gối tôi, anh dịu dàng bày tỏ:
            “Ban chiều anh ghé chị Cầm và được nghe chị nói một câu. Chỉ vì câu ấy mà anh muốn hủy hoại thân mình ngay tức khắc theo một cảm giác vừa sung sướng lại cũng vừa đau đớn. Rồi anh vào Không quân bốc một thằng bạn với một cái trực thăng, bay lên Khánh Dương, kéo vài thằng bạn khác về đây. Anh bảo tụi nó ‘Chúng mày phải đến Nautique uống rượu với tao đêm nay’.”
            Tôi cười mỉm:
            “Chị Cầm nói câu gì?”
            Nhìn tôi đăm đăm, anh đáp:
            “Chị nói giùm anh Ngọc đừng yêu em, nếu không, em sẽ bỏ thành phố này mà đi, bởi em biết cũng không cưỡng được với tình yêu anh ấy và như vậy sẽ rất bi thảm.”
            Tiếng sóng liên hồi gào thét. Âm điệu u hoài làm xao động trái tim tôi. Tôi nghĩ nhanh đến cái ngày “bỏ thành phố mà đi” ấy. Từng loạt hình ảnh xô đẩy nhau trong trí tưởng làm thành một mớ bòng bong mù rối. Không dưng tôi nghe lạnh. Một thoáng rùng mình chiếm cứ châu thân.
            Vẻ mặt anh trông vui thú hẳn:
            “Chị Cầm tiết lộ thêm cho anh một điều rằng ‘Thu Vân rất đào hoa. Cô bé được nhiều người thương, ngay cả tôi, ông liệu mà giữ!’ Anh đáp: Thương yêu là quyền của người ta, có được Thu Vân hay không là quyền của cô bé. Tôi cũng hãnh diện chứ sao.’”
            Vuốt nhẹ bàn tay trái tôi, giọng anh trầm xuống:
            “Cả một tuổi trẻ, một cuộc đời dài anh đã để trôi đi, đã phí hoang dữ dội; cho đến giờ phút này gặp em thì không còn gì nữa cho em ngoài những điếu thuốc hút dở. Điều này khiến anh thật tủi.”
            Tôi xiết tay anh, nói lên cái ý tưởng đang vang vang trong óc:
            “Giờ đây mới chính là lúc anh đem được cho em tuổi trẻ và những mối thậït sự đam mê.”

 

Nha Trang, Chủ nhật 18/8/1974
            Nằm duỗi dài trên băng ghế hậu trường, bắt gặp ánh mắt thương cảm của Phương Hoa, tôi mỉm cười:
            “Chị nhớ đến nàng Marguerite Gautier mong manh trong tác phẩm La Dame aux Camélias của Alexandre Dumas fils. Đang lúc khách khứa quay cuồng theo điệu valse ngoài phòng khách nhà nàng thì nàng ôm ngực chạy vào phòng riêng, ho rũ rượi. Chàng tuổi trẻ si tình Armand Duval chạy theo để kịp đỡ khi nàng vừa ngã xuống...”
            Tức thì câu đáp của Phương Hoa rơi giữa đám ca nhạc sĩ chung quanh như một gáo nước lạnh tạt vào mặt:
            “Ờ, người ta thì vậy, ngã ra xỉu có người đỡ. Còn chàng của chị mất hẳn tự do rồi. Em thật thương chị khi hình dung cái lúc chị nằm ngất một mình không ai kề cận.”
            Đây cũng là một “thực trạng”, cái thực trạng đời tôi, chua xót không kém gì thực trạng của anh.

 

Nha Trang, thứ Năm 22/8/1974
            Trong câu chuyện đêm nay, anh thú nhận:
            “Trước, anh bị tiếng lè phè, mọi sự đối với anh không quan trọng. Kể từ buổi đi vào đời em, anh thay đổi hẳn, lúc nào cũng lo sợ như sẽ mất, hay là sợ em bỏ thành phố này mà đi. Vì vậy, với bất cứ ai anh cũng đều như van xin họ để cho anh yên, đừng tìm cách phá. Từ anh Phong, anh chị Hoàng Cầm cho đến từng ca nhạc sĩ, em thấy, gặp ai anh cũng đều chắp tay lạy họ là vì thế.”
            Nỗi xót thương tràn ngập tâm hồn, tôi muốn nhắm nghiền đôi mắt để trốn chạy hình ảnh trước mặt. Trong cuộc tình này, nếu có sự bi thảm nào xảy ra, có lẽ chỉ anh là người phải gánh nhận nhiều hơn cả. Và tôi sẽ làm gì được để chia xẻ cho anh những nỗi khổ đau?
            Bên tai vang lên những lời một lần anh đã hỏi:
            “Em có thấy là đang khổ?”
            Tự thâm tâm, quả tình tôi khổ vì những gì anh đang chịu đựng, nhưng bề mặt chỉ là cái lắc đầu rất nhẹ:
            “Từ khi yêu anh, em thấy mình hăng say trên nhiều phương diện. Em luôn luôn tự hỏi, mình có đáp lại đúng hay không những gì nhận được từ anh?”
            Anh dịu dàng vuốt tóc tôi:
            “Câu hỏi này dành cho anh mới phải. Anh không biết làm thế nào để cảm tạ cho trọn tấm chân tình em đã đối cùng anh.”
            []
    

 

 

 


(*) A la Recherche du Temps Perdu (Đi Tìm Thời Gian Đã Mất), tựa đề một tác phẩm rất nổi tiếng của Marcel Proust, nhà văn Pháp (1871-1922).

 

 

 


Trang chính  >>