Trần Thị Bông Giấy
NHẬT NGUYỆT BUỒN NHƯ NHAU (Tập I)
(Tự Truyện)

Bài 1

 

 

 

Kính dâng Mẹ,
người đã từng nhiều đêm thao thức
theo những bước giang hồ
biền biệt của con.
(TTBG)

 

 

 

 

 

 

TỰA

 

            Lê Duy Linh là một người bạn không được tôi và Trần Nghi Hoàng xếp vào hàng thù tạc trong các buổi rượu đông đảo cuối tuần tại nhà tôi. Anh cũng không thích như thế. Sự giao thiệp giữa anh và chúng tôi rõ ràng “đạm nhược thủy”, nhưng không vì vậy mà mất đi tính cách thân mật của một tình bạn. Trong những buổi café, các hiểu biết của anh về văn chương, triết học và tôn giáo đã tạo nên trong chúng tôi lòng quý trọng. Phần anh cũng rất yêu thơ Trần Nghi Hoàng và nể vì kiến thức riêng chàng trên lãnh vực này.
            Là một chuyên viên nghiên cứu tâm lý hiện đang làm việc tại một cơ quan tâm thần, anh rất hay thích thú với những trường hợp nào anh cho là “bệnh!
            Một bữa, anh nói thẳng với tôi:
            “Chị là con bệnh tôi thấy lạ nhất trong các trường hợp tôi từng biết.”
            Tôi bật cười:
            “Điểm nào dẫn chứng?”
            Anh ngần ngại, sau tỏ thật:
            “Chị làm việc như một người chạy trốn một nội tâm đau khổ. Kiểu làm việc tự tử. Đặc biệt có lần chị kể tôi nghe về dự tính cái chết của chị bằng một phát súng bắn vào đầu với giọng nói lạnh lùng chắc nịch; chỉ những người mắc ‘bệnh’ mới có điệu nói như thế...”
            (Anh hay dùng chữ “bệnh” đơn giản, ý muốn đề cập đến những kẻ điên.)
            Anh tiếp:
            “Trong công việc, tôi được đặc quyền đi đến bất cứ ông bác sĩ tâm thần nào danh tiếng nhất trên toàn nước Mỹ mà chẳng phải trả một xu lệ phí. Tôi chỉ xin chị một điều, bao giờ cái ý tưởng bắn vào đầu xẹt qua óc, chị làm ơn bốc điện thoại gọi đến tôi, tôi sẽ nhường cho chị cái đặc quyền ấy.”
            Bữa đó, tôi cười, đáp lời anh:
            “Thứ nhất, đúng như anh nói, bao giờ muốn chết, tôi sẽ chọn cái chết ‘bắn vào đầu’ như thế, vừa nhanh vừa dễ. Thứ hai, cảm ơn lòng chiếu cố anh đã dành cho, nhưng tôi phải nói thật, bác sĩ tâm thần là giới người tôi xem thường nhất. Nếu phải tốn nhiều tiền chỉ để kể vớ va vớ vẩn cho ông ta nghe những chuyện riêng của mình thì tôi thích tâm sự với cái đầu gối của tôi hơn.”
            Tôi nói thêm:
            “Nhưng anh yên chí, tôi chưa cho phép mình chết trước khi hoàn tất 10 tập Tài Hoa Mệnh Bạc đâu. Và dĩ nhiên, ngay giây phút chuẩn bị bắn vào đầu, anh sẽ là người duy nhất được cái hân hạnh tôi cầm điện thoại báo cho hay rằng ‘tôi sẽ tự tử!’”
*
* *
            Một bữa khác, Lê Duy Linh lại nói:
            “Đọc các tác phẩm chị đã xuất bản, thấy dường như còn nhiều uẩn khúc nội tâm chưa phô diễn?”
            Tôi không ngạc nhiên với câu hỏi này. Cái tính “méo mó nghề nghiệp” của anh vẫn là đề tài diễu cợt cho tôi và Trần Nghi Hoàng trong các buổi trò chuyện. Anh đề nghị:
            “Sao chị không thử viết hết những gì còn đọng trong ký ức? Một quyển tự truyện chẳng hạn? Vốn sống chị quá đầy, tha hồ có chất liệu mà viết.”
            Tôi hỏi:
            “Để làm gì?”
            “Để đầu óc được thanh thản”
            ”Đầu óc thanh thản sẽ được gì nữa?”
            “Để chị sống thoải mái. Nhất là sau đó chị có thể viết ra những tác phẩm khác hay ho. Ví dụ bộ Tài Hoa Mệnh Bạc rất cần thiết cho độc giả.”
            Lần ấy, Trần Nghi Hoàng cũng bày tỏ:
            “Lâm Ngữ Đường có nói: ‘Một nhà văn mà nếu chưa từng một lần viết tác phẩm chủ đề là cái Tôi thì chưa thực đáng gọi là nhà văn.’ Bố cũng đồng ý với anh Linh, vốn sống của em quá đầy. Em nên viết ra, nếu không gọi rằng phơi tỏ với độc giả thì cũng là một cách để em tự giải thoát khỏi những ám ảnh quá khứ. Từ đó, em sống thanh thản hơn cho hiện tại và tương lai.”
*
* *
            Viết một quyển tự truyện, đối với tôi là điều khó làm hơn cả. Thường con người ai cũng chỉ muốn phơi bày cái tôi của mình bằng những khía cạnh đẹp mà cố tình bỏ lơ bao phần xấu xa sâu kín. Tôi cũng vậy, cũng có khuynh hướng quên đi những cái xấu, không phải dối trá, mà là để phóng mình dễ dàng hơn đến mọi cái đẹp tương lai. Nhưng đó là chuyện “tự mình đối thoại với mình”; bây giờ, “tự mình phơi bày với người bằng chữ nghĩa văn tự”, làm sao tôi có thể không đặt điều thành thật lên hàng đầu diễn tả? Lại nữa, tôi chỉ là một con người như tất cả mọi người, viết ra một quyển tự truyện, e rằng không có nhiều dữ kiện đặc sắc để chia xẻ cùng độc giả chăng?
            Vì những lẽ đó mà tôi vẫn không lưu tâm nhiều đến lời đề nghị của Trần Nghi Hoàng và Lê Duy Linh.
            Cho đến một bữa, một câu chuyện xảy ra (tôi sẽ viết trong phần Vào Tập dưới đây) đã khiến tôi có một quyết định. Bảy năm làm vợ Trần Nghi Hoàng, chàng vẫn biết –một cách mơ hồ-- tôi cưu mang trong hồn một quá khứ tình cảm đầy đau khổ. Những kỷ niệm cũ càng của thời tuổi trẻ dẫu rất ít khi đề cập, vẫn được tôi dành cho một góc nào trong tiềm thức sâu xa. Một loại hồi môn quái lạ mà bà mẹ Định Mệnh ban cho, tôi đã mang theo mình kể từ ngày đầu tiên đi vào đời Trần Nghi Hoàng bằng cuộc sống hôn nhân thật sự.
            Tôi bắt đầu nghĩ sâu hơn về lời đề nghị của Trần Nghi Hoàng và Lê Duy Linh. Cuộc đời quá khứ của hơn 30 năm, trước khi làm vợ Trần Nghi Hoàng, gần như bị vùi chôn dưới bờ quên lãng, nay được dựng dậy từng chi tiết nhỏ. Câu chuyện đời của một người đàn bà bình thường bỗng dưng rõ nét trên nhiều khía cạnh tang thương.
            Bây giờ, muốn bắt tay vào quyển tự truyện, tôi sẽ phải gặp một điểm khó. Khác với mọi người đàn bà, tôi không có được “một cuộc đời dài liên tục”. Cuộc đời tôi chỉ là những mảng đời ghép lại, rất lớp lang thứ tự, mảng nào cũng có khuôn mặt định mệnh dự phần sâu đậm, sôi động mãnh liệt và nhuốm đầy nước mắt. Trong mọi giai đoạn, quãng đời với Trần Nghi Hoàng được gọi là lâu dài nhất, vậy mà vẫn không tránh được “khuôn mặt định mệnh”. Giờ đây nếu viết cả ra, e có điều nhàm chán. Vì vậy, tôi chọn hai giai đoạn tiêu biểu để viết; giai đoạn I, quãng định mệnh ngắn ngủi với Phùng Kim Ngọc, từ cuối tháng 7/1974 đến cuối tháng 4/1975. Giai đoạn II: cuộc hôn nhân với Trần Nghi Hoàng kể từ tháng 7/1986 đến nay.
            Giai đoạn I tương đối dễ viết vì nó đã trở thành quá khứ. Giai đoạn II, một thứ quá-khứ-tiếp-nối-hiện tại rõ ràng có nhiều khúc mắc nhiêu khê. Tuy nhiên viết giai đoạn II, tôi không thể không cần vào giai đoạn I để tiếp ứng. Ngược lại, viết giai đoạn I mà không tiếp tục với giai đoạn II, cũng chưa thể gọi là hoàn toàn.
Đêm 20/7/1995, tôi khởi sự viết quyển tự truyện Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau.
*
* *
            Dạo trước, hằng ngày tôi ngồi vào bàn viết từ 7 giờ sáng cho đến tận đêm, trừ những giờ phải dạy dương cầm hay làm chuyện nội trợ. Kể từ lúc đứa con trai lớn nhận một công việc mỗi hôm phải ra khỏi nhà lúc 4 giờ sáng, tôi khó thể nằm yên trong chăn khi hình dung sựï lạnh lẽo nó phải cưu mang. Vậy là, cứ đúng 3 giờ khuya, tôi bỗng tỉnh dậy và không cách chi gầy lại giấc ngủ. Nhưng cũng nhờ thế mà tôi khám phá ra ra sự thích thú tột cùng khi ngồi đơn độc trước cái bàn viết rộng lúc 3 giờ khuya.
            Từ cửa sổ lầu hai nhìn xuống, góc đường Số Hai & William im lìm vắng lặng. (Dạo về sau, cảnh sát bố ráp kỹ quá nên các cô gái giang hồ không còn đất dụng võ, bèn dời sang một địa cứ mới. Thỉnh thoảng cũng thấy xuất hiện lẻ tẻ một, hai cô đứng tựa bức tường căn nhà đối diện bên kia đường, dáng kiên nhẫn, chịu đựng). Nhìn vào bên trong, cái không gian ấm áp tôi đã quen nhìn từ 7 năm qua. Cứ vậy, quãng đời 20 năm xưa sống dậy từ từ trên từng trang giấy. Hạnh phúc, đau khổ, ray rức, dày vò... đủ mọi tình cảm hiện hình lên như những bóng ma. Câu chuyện cũ càng trở về từ bờ biển dâu quá khứ, lôi cuốn tôi nhập hồn với từng kỷ niệm trong vai trò đứa con gái du mục 25 tuổi nổi trôi không ngừng từ thành phố này qua thành phố khác. Ngòi bút đưa tới đâu, hình ảnh “cái Tôi phiêu bồng” càng rõ nét tới đó. Hai mươi năm xưa, tôi sống ngay trong lòng những nỗi nhọc nhằn đau đớn nhưng vẫn không cho là khổ. Hai mươi năm sau, chỉ hình dung lại những diễn biến đã trải qua, tôi đủ thấy ghê người.
            Tôi viết và viết thật nhanh. Tập note ghi chép vắn tắt các dữ kiện theo từng ngày tháng cũ, giờ đây được khai triển chi tiết hơn bằng ký ức dựng dậy. Thời gian này, tôi xanh xao phờ phạc hẳn vì thiếu ngủ. Có đôi lúc kiệt sức đến phải bỏ viết hằng nửa ngày trời.
            Ngày 27/9/1995, hai tháng một tuần kể từ đêm khởi sự, tập I về Phùng Kim Ngọc hoàn tất với con số 438 trang.
*
* *
            Thời gian trước và đang khi viết tập I, trong cuộc sống riêng, tôi phải trải qua nhiều nội tâm dao động. Tác phẩm Một Truyện Dài Không Có Tên tập I được độc giả đón nhận chân thành bao nhiêu thì cá nhân tôi càng bị giới văn nghệ sĩ hải ngoại và riêng tại San Jose cô lập bấy nhiêu. Các buổi rượu cuối tuần tại nhà tôi gần như ngưng hẳn. Mọi văn hữu chuyền tai nhau câu căn dặn: “Phải lánh xa TTBG nếu không muốn có ngày dây họa vào thân!”
            Trong tâm tình giữa tôi và Trần Nghi Hoàng cũng xảy ra nhiều đột biến đau khổ. Chung quanh, tôi thường nghe bạn bè Trần Nghi Hoàng ca tụng cái tình chàng đối cho tôi đậm đà sâu xa quá. Một lần, tháng 8/1995, nhân “cảm” được những dày vò khắc khoải trong cuộc sống hai người, Lê Duy Linh đã bảo riêng tôi: “Tôi phải nói thật, nếu tôi là Trần Nghi Hoàng, tôi sẽ không dễ dàng để cho chị viết tác phẩm về một người tình cũ một cách miệt mài như thế. Và nếu tôi là chị, tôi sẽ rất mang ơn Trần Nghi Hoàng.” (Thực tình, tôi kinh ngạc khi nghe Lê Duy Linh –người bạn từng có những tư tưởng “cách mạng” về đạo Thiên Chúa, một tôn giáo có những giáo điều cứng ngắc—lại thốt ra điều tầm thường ấy. Có lẽ tôi đặt anh ”cao” hơn chỗ đứng thật sự của anh chăng?)
            Một lần khác, dạo tháng 6/1995, Trần Quảng Nam, vẻ rất mất bình tĩnh, đã nói trước đông đảo nhiều người trong một cuộc rượu tại nhà tôi: “Trong đời tình ái, chị toàn gặp những tên đàn ông khốn nạn nên ngày nay giọng văn chị viết mới cay cú đến vậy. Bây giờ gặp Trần Nghi Hoàng, Trần Nghi Hoàng xứng đáng là một đấng Thượng Đế của chị, chị nên cúi đầu bái phục!” (Khi ấy, tôi trả lời: “Đúng như Nam nói, Trần Nghi Hoàng xứng đáng cho tôi bái phục. Và cũng có thể đúng như Nam nói, trong đời tình ái, tôi chỉ toàn gặp những người đàn ông khốn nạn. Nhưng có một điều đúng hơn cả tôi cần cho Nam rõ: ‘Dẫu là người đàn ông khốn nạn nhất đời tôi thì tư cách và tài năng của người ấy cũng còn cao hơn Nam đến 10 bậc, nhất nữa, họ không bao giờ hành xử câu nói ‘Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao’ như Nam đã làm với các người đàn bà đi qua đời Nam đâu.”)
            Riêng cá nhân tôi cũng không một lần phủ nhận cái tình Trần Nghi Hoàng cho tôi quả thật là vượt mức bình thường của một tình chồng vợ. Nhưng, kể ra các mẩu chuyện trên, tôi chỉ muốn nói lên cái thế cô đơn cùng tận của tâm hồn mình trong cuộc đời và trên cả những giòng văn chương tôi viết. Bên ngoài, ai cũng đều nhìn thấy những gì “tôi có được” mà không nhận ra nổi những gì “tôi thực sự cần đến” trong cuộc đời và cả trong cuộc hôn nhân hiện tại. Có lẽ tôi đòi hỏi quá nhiều ở Trần Nghi Hoàng chăng? Không phải chàng không muốn lấp đầy nỗi cô đơn cho tôi, mà phải nói là lỗi tự tôi, tôi đã đặt lên cho chàng một vai trò quá khó, làm sao chàng thực hiện hoàn hảo?
*
* *
            Nhật Nguyệt Buồn Như Nhau là tác phẩm tự truyện chia làm hai tập, tập I viết về Phùng Kim Ngọc, tập II về Trần Nghi Hoàng. Tâm sự của tôi cũng chẳng khác gì bao nhiêu so với tâm sự muôn người phụ nữ. Nhưng điều đó không quan trọng. Ở đây, tôi muốn mượn lời của cụ Hà Thượng Nhân trong bài tựa quyển Bên Trời Lận Đận của cụ để nói lên nỗi lòng mình:
            “Điều quan trọng là liệu những oan trái mà tôi sắp kể ra đây có thể làm cho người đọc bồi hồi xúc động hay chăng? Từ đó, liệu con đường đi tìm Chân Lý, đi tìm Sự Thật, đi tìm Lẽ Phải có bớt chông gai được chút nào không?”
            Hai tháng miệt mài với tập I về Phùng Kim Ngọc, tôi bỗng nhận chân ra một Sự Thật: “Lịch sử vẫn luôn luôn tái diễn. Cái lịch sử đời tôi là việc đi tìm một tuổi thơ và một tình cha thiếu thốn trong một định mệnh có nhiều biến cố tang thương.”
            Trần Nghi Hoàng là con người nhiều kiêu hãnh nên luôn luôn tỏ ra tổn thương nếu thảng hoặc tôi có vô tình nói lên sự trùng hợp nào giữa vai trò chàng và vai trò người đàn ông năm cũ. Nhưng với nội tâm riêng, câu chuyện “một tình cha đại lượng tôi vẫn mong tìm kiếm nơi người đàn ông yêu tôi” cứ trở đi trở lại, càng nhiều hơn thời gian hai tháng sống lại những trang đời ngày xưa.
            Nhiều lúc tôi tự hỏi, Trần Nghi Hoàng có thật tâm muốn đáp ứng cho tôi cái điều cốt tủy tôi vẫn đi tìm tuyệt vọng suốt đời như thế chăng? Tôi khó lòng khẳng quyết. Dẫu vậy, có một điều, cho đến lúc này, tôi vẫn còn không thể tự mình chối cãi: “Tất cả mọi người đàn ông đi qua đời tôi, luôn cả Trần Nghi Hoàng, bến-đỗ-cuối-cùng-của-con-tàu-Định-Mệnh-tôi, đều chưa một ai thực sự lấp đầy được nỗi bơ vơ ngày càng có khuynh hướng dầy đặc trong tâm hồn này.”
            Hơn 40 năm, tôi luôn luôn nhận biết, trong tôi có hai người bạn trung thành bám đeo như hình với bóng: Nỗi Cô Đơn và Tư Tưởng Tự Tử. Và hơn 40 năm qua, dĩ nhiên kẻ được tôi yêu quý hơn vẫn là Người Bạn Cô Đơn.
            Nhưng tôi cũng biết, ngày nào không thể đi chung đường với Người Bạn Cô Đơn kia nữa, tự khắc tôi sẽ tìm đến Người Bạn Thứ Hai còn lại. Đó chính là một kiểu “bệnh” như Lê Duy Linh nhận xét. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là nhận xét của riêng anh, một con người –như tất cả mọi con người—sống cuộc đời lặn êm bình thản để không bao giờ hiểu được cái điều sâu sắc như một vết dao cứa lên trái tim nhiều lỗ thủng: “Hơn cả gia đình, chồng con, bạn bè, thân quyến; hơn cả danh vọng, bạc tiền, khổ đau, hạnh phúc, Cái Chết bấy giờ chính là Người Bạn Sau Cùng giúp tôi tìm ra Con Đường Giải Thoát mà thôi.”

San Jose, California, 25/10/1995
Trần Thị Bông Giấy
[]

 

 

 

 

 

KẾT LỜI TỰA

Đây là tác phẩm hoàn toàn thật,
rút ra từ một phần đời riêng của tác giả,
không chút gì hư cấu, từ địa danh
đến tên tuổi các nhân vật và chi tiết từng sự kiện.
Hầu hết nhân vật đều đang còn sống,
hoặc ở Việt Nam, hoặc đã ra ngoại quốc.
Từ lòng trân trọng yêu mến đối với quá khứ và kỷ niệm,
tác giả đã không muốn làm cái việc thông thường
vẫn thấy ghi nơi đầu trang nhất nhiều tác phẩm:
“Mọi tên tuổi nhân vật đều do óc tưởng tượng.
Nếu có sự trùng hợp chỉ là ngoài ý muốn tác giả.”
Vậy, dám mong “những người xưa” có tên nêu trong tác phẩm,
nếu có điều chi phiền trách,
xin thông cảm và niệm tình tha thứ.
Sự Thật muôn đời vẫn là đầu mối dẫn đến
cái Thiện và cái Đẹp của Cuộc Đời.

Trân trọng,
Trần Thị Bông Giấy
[]

 

 

 

 

TẬP MỘT:
PHÙNG KIM NGỌC
(NHẬT KÝ)

 

 

VÀO TẬP

            11 giờ khuya.
            Tôi đang ngồi làm việc nơi bàn viết, bỗng chuông điện thoại reo vang. Nhìn đồng hồ thấy ngạc nhiên, 11 giờ khuya, cái giờ không mấy thích hợp để nhận một cú điện thoại. Đầu giây kia, giọng đàn bà nói tiếng Bắc, điệu dữ dằn phẫn nộ:
            “Chị là Trần Thị Bông Giấy?”
            “Vâng, tôi đây!”
            “Sách chị viết như vậy mà không thấy nhục nhã sao?”
            “Xin lỗi, chị là ai?”, tôi ngạc nhiên.
            Người đàn bà không đáp câu hỏi, hét lớn trong điện thoại:
            “Chị không tự thẹn với lương tâm sao khi mang chuyện gia đình tôi ra bêu riếu như thế? Tôi cho chị hay, tôi sẽ không để yên chuyện chị đã làm đâu.”
            “Nhưng, chị là ai?”, tôi kiên nhẫn.
            Tiếng hét càng lớn:
            “Tôi là con bà Lan. Tôi đang ở đây này, ở đây này.”
            (Câu sau được gằn từng chữ.)
            Giọng nói của người đàn bà cơ hồ quen lắm... Tôi soát nhanh trong óc số phụ nữ ít ỏi vẫn giao thiệp từø trước, nhưng chịu, không nhớ người đàn bà tên Lan là ai.
            Giọng nói đầu giây kia càng thêm hung dữ:
            “Tôi là con bà Lan, vợ ông Phùng Kim Ngọc, người mà năm xưa chị đã giở trò quyến rũ để gia đình mẹ tôi tan nát. Nay chị còn dám đem bêu riếu chuyện riêng người ta là nghĩa lý gì?”
            Bỗng dưng tôi gác máy, trái tim đập mạnh, đôi bàn tay lạnh toát. Cảm giác này hiện đến nhanh như một cái chớp mắt. Đồng lúc trong óc dội lên câu hỏi “Tôi, TTBG mà còn biết run rẩy trước một cú điện thoại xa lạ sao?” y hệt như vừa nhận một cái tát dữ dội. Nhưng, quả tình là tôi run rẩy. Sự run rẩy không phải phát sinh từ niềm sợ hãi, mà chính từ một ám ảnh không tên, nằm im lâu lắm trong bóng tối tiềm thức, nay đột nhiên lù lù ló mặt ra.
            Nửa tiếng đồng hồ sau, chuông điện thoại lại reo. (Thật tâm, tôi mừng rỡ.) Đầu giây kia, miệng lưỡi hung dữ vẫn tiếp tục:
            “Sao chị dám cúp ngang điện thoại của tôi? Chị tồi quá! Đã dám viết sự thật mà không dám đối diện với sự thật à? Tôi đang là một sự thật của chị đây, tôi buộc chị phải đối diện. Chị đã dám viết sự thật về mẹ tôi trên sách thì chị phải đối diện với sự thật về tôi hôm nay, ngay chính lúc này.”
            Tôi bình tĩnh:
            “Xin lỗi, chị tên gì?”
            “Minh!”
            “Chị là con bà Lan, nhưng con riêng hay con chung với ông Ngọc?”
            “Con riêng.”
            (Tôi ngẫm nhanh chuyện cũ. Năm xưa, một lần Phùng Kim Ngọc cho tôi biết, bà Lan có hai người con gái riêng đã lớn.)
            Giọng nói đầu giây kia vẫn xối xả:
            “Ông Ngọc nhỏ hơn mẹ tôi 12 tuổi. Từ bốn mươi năm qua, cuộc sống hai người vẫn chỉ là địa ngục. Tôi cũng biết chị trẻ hơn ông ấy rất nhiều. Những chuyện này tôi biết từ hai mươi năm trước chứ không phải đợi đến bây giờ mới biết. Nhưng chẳng phải vì vậy mà chị có quyền đem chuyện mất hạnh phúc của mẹ tôi ra phơi bày thành chữ nghĩa. Tôi sẽ viết thư về Việt Nam chửi cho ông Ngọc một trận và sẽ tìm đến để xem mặt chị ra sao mà có thể lưu lại trong đời mẹ tôi một mối khổ đau lớn như vậy. Chị hãy chờ mà biết. Chị có ba đầu sáu tay cũng không thoát được tôi đâu.”
            Tôi im lặng trước tràng xỉ vả của người đàn bà lạ. Bà tiếp:
            “Chồng tôi và bạn bè anh ấy rất mê văn chương chị. Tác phẩm nào của chị ra đời, họ đều mua đọc. Anh ấy cản không cho tôi gọi đến chị, nhưng có chết, tôi vẫn gọi để nói rằng chị tồi lắm, tồi lắm, chị biết không?”
            Qua cách nói không đầu không kết của người đàn bà, tôi nhận ngay ra được một tâm tính thành thật đang bị chiếm hữu bởi nỗi rối loạn tột độ. Tôi đâm có hảo cảm với bà. Đầu giây kia, tiếng nói vẫn cứ gần như hét:
            “Tôi cho chị hay, mẹ tôi bỏ rơi hai chị em tôi từ khi tôi mới chào đời được một tháng, còn chị tôi một tuổi. Trong giấy tờ tôi, không có tên mẹ. Dẫu vậy, ngày nay tôi sẽ không để yên cho bất cứ ai xúc phạm đến bà. Chị nghe rõ chưa?”
            Đột nhiên, một tình cảm xót thương bất ngờ làm nóng ran đầu óc, tôi e dè hỏi:
            “Chị Minh đã bình tĩnh chưa?”
            Người đàn bà hét lớn:
            “Bình tĩnh thế nào chứ?”
            “Nghĩa là chị để yên cho tôi nói.”
            “Chị cứ nói đi!”
            Tôi nhỏ nhẹ:
            “Khi chị kể cho tôi nghe rằng, bà Lan bỏ rơi hai chị em chị từ tấm bé mà cho mãi đến ngày nay, 40 năm qua rồi, chẳng những chị không oán hận, lại còn gọi đến để mắng chửi tôi, bênh vực danh dự người mẹ qua một bài viết về sự thật của tôi, thì tôi xin nói ngay rằng tôi rất kính trọng tấm lòng hiếu để của chị. Chị cứ việc mắng chửi nếu chị nghĩ bài viết ấy đã làm đau lòng chị...”
            Bên kia cắt ngang lời tôi bằng giọng nghẹn ngào cầm nén:
            “Tôi không chửi chị, tôi đang khóc đây nè!”
            Và tiếng khóc nức nở òa ra trong điện thoại
            ... ...
            Tôi trầm giọng:
            “Chị cứ khóc cho vơi những đau khổ đi, bởi tôi biết từ lúc mới được sinh ra, chị đã phải đau khổ vì thiếu bàn tay thương yêu của người mẹ. Nhưng khi bình tĩnh, tôi mong chị đọc lại bài viết về chuyến trở vềDalat tháng 1/1993 của tôi trong quyển tâm bút(*) , chị sẽ hiểu chút ít về tôi hơn.”

           
            12:30 khuya.
            Tiếng điện thoại lại reo. Đầu giây kia, Minh nói nhỏ:
            “Chị Thu Vân đấy hở? Em là Lệ Minh. Em không thể ngủ được. Nãy giờ cứ nằm khóc. Em vừa đọc xong bài tâm bút của chị. Sao mà tình cảm chị lai láng đến vậy? Em biết chị cũng không ngủ được nên gọi đến chị đây.”
            Giữa đêm, những lời tâm sự tuôn ào như nước lũ, Minh kể cho tôi nghe không sót một chi tiết nào về chuỗi đắng cay bi thảm trải dài trong định mệnh từ khi tấm bé của nàng. Câu chuyện nát lòng làm trái tim tôi chùng xuống. Và tôi tự hỏi: “Trong hai người, tôi và Lệ Minh, chưa biết rằng ai khổ hơn ai?”
            Một câu Minh nói:
            “Hai mươi năm xưa, em được mẹ em cho hay rất rõ về chị. Bà biết em dữ không kém gì bà nên nhiều lần gọi em lên Dalat phụ với bà đánh ghen, nhưng em từ chối. Em nói: ‘Mẹ có cuộc đời mẹ, con có cuộc đời con. Hạnh phúc mẹ, mẹ phải giữ, không việc gì con dính vào.’”
            Và một câu khác:
            “Bốn mươi năm làm chồng mẹ em, em phải nhận rằng chú Ngọc là người đàn ông rất dịu dàng đằm thắm. Chưa bao giờ em nghe chú lớn tiếng cùng ai. Em biết chú đau khổ trong cuộc hôn nhân với mẹ em; cả về tuổi tác lẫn tâm hồn đều chênh lệch. Nhưng đêm nay đọc sách chị, em mới thấy rằng sự đau khổ của chú quả là ghê gớm. Lẽ ra chú không nên vướng vào mẹ em, hay lẽ ra, chú phải cứng rắn hơn trong việc giữ chân chị lại Dalat hai mươi năm cũ. Ngày nay chú đã gần 60, mẹ em lại là bà già quá 70 tuổi. Vậy mà hai người vẫn hai nơi cách biệt, đày đọa nhau trong đau khổ. Tự mỗi người vẫn không thể nào tìm thấy được cho mình một ngày hạnh phúc bình yên.”
            Tôi ngậm ngùi:
            “Cám ơn Minh đã nói những lời như thế. Cho đến mãi về sau, mỗi lần nghĩ lại quãng định mệnh quay cuồng năm cũ ở Dalat, mình chỉ nghe dậy vang trong hồn một tình cảm bùi ngùi, thương xót cho cả ba người trong cuộc, nhiều hơn là cho chị Lan và anh Ngọc. Một chặng đường dẫy đầy chông gai mà cả ba đều không thể tránh. Đêm nay, trên xứ Mỹ xa xôi, quá khứ đau thương không ngờ lại được dựng lên qua cú điện thoại Minh gọi đến. Âu đó cũng là một cái duyên kỳ lạ, cái duyên tiếp nối giữa mình với vợ chồng chị Lan hai mươi năm trước và giữa mình với Minh hai mươi năm sau.”

 

            4 giờ sáng.
            Trong đời, có những giấc mơ, khi tỉnh dậy, người ta chỉ nghe bàng hoàng tiếc nuối. Giấc mơ về Phùng Kim Ngọc vừa mới trải qua cũng là như vậy. Bốn giờ sáng một đêm mùa hè Califor- nia, mở mắt đối diện với khoảng không gian mù tối, tôi tưởng như vẫn nhìn thấy con người năm xưa, dáng cao lớn, điệu cười ấm áp, sừng sững trước mặt... Vậy là buồn, là nghe tâm tư oằn xuống trong nỗi man mác u hoài.
            Một lần trò chuyện với Cẩm Hằng, nhân bài tâm bút nói về chuyến trở về Dalat tháng 1/1993 bất ngờ gặp lại Phùng Kim Ngọc, tôi nghe Cẩm Hằng phê bình: “Thu Vân đang ngoại tình tư tưởng.” Tôi không đáp lời, nhưng cũng không cho rằng Cẩm Hằng đúng. Lần khác, trò chuyện cùng Lê Duy Linh, đề tài: “Sĩ số đàn bà Việt Nam ngoại tình (thân xác) nhiều không thua gì đàn bà Mỹ, tất cả chỉ nẩy sinh từ hoàn cảnh nhàm chán của đời sống Mỹ”, tôi khẳng định với anh: “Tôi không tin trên đời có sự ngoại tình vì hoàn cảnh, mà chỉ có ý muốn hay không của sự ngoại tình.” Ý niệm nầy trở đi trở lại nhiều lần trong óc như một nếp chắn.
            Trong đời sống dẫy đầy chông gai hiện tại với Trần Nghi Hoàng, dẫu thế nào, cũng không thể phủ nhận tấm lòng hiểu biết sâu xa chàng đã đối cho tôi. Vì thế, tôi luôn luôn có thái độ xếp yên trong ngăn tủ ký ức bất cứ thứ gì gọi là quá khứ. Thảng hoặc vì lý do nào, quá khứ có vô tình được gợi lên thì cũng chỉ giống như một bức tranh đời –thuộc riêng tôi-- bây giờ được đặt cùng trong mớ tài sản, tôi và Trần Nghi Hoàng cùng sở hữu chung.
            Hai mươi năm tròn kể từ ngày đi ra khỏi Dalat, thỉnh thoảng tôi vẫn tự kiểm với lòng những gì đã trôi qua trong định mệnh. Buồn nhiều hơn vui. Nụ cười hiếm hoi so với muôn ngàn nghĩ suy trong đầu óc. Mỗi lần kiểm là mỗi lần thấy tâm hồn dường như “cứng” hơn một chút! Hai mươi năm, thời gian làm mờ phai mọi thứ, tất cả đều biến thành kỷ niệm, những kỷ niệm ngủ im trong tiềm thức. Một trang đời đã được xếp lại từ lâu lắm và chưa từng được giở đến. Trang đời của hai mươi năm cũ, hay của lần trở về Dalat tháng 1/1993?
            Đêm nay, sau cuộc trò chuyện với Minh, tiếp liền giấc ngủ đầy mộng mị, tôi tự hỏi, giấc mơ về Phùng Kim Ngọc kéo theo nỗi buồn man mác, có thể nào là “một cuộc ngoại tình tư tưởng” như Cẩm Hằng từng đề cập? Tôi không thể trả lời cho chính xác ý nghĩa. Có điều tôi biết, tôi đang làm hành động quật mồ quá khứ, như chàng sinh viên Armand Duval quật mồ người con gái chàng yêu trong La Dame aux Camélias(*) . Sự quật mồ không phải như Lê Duy Linh hay Trần Nghi Hoàng nói, mà chính bởi tự ý tôi muốn thế. Tôi phải giở lại những trang đời đã nhuốm màu dâu biển, những trang đời chiếm hữu vị trí vững vàng trong cả một giòng đời đầy bão tố của tôi. Tôi muốn đáp đền những ân tình của Trần Nghi Hoàng, hòa nhập quá-khứ-tôi vào chung trong hiện-tại-chàng. Tôi cũng muốn trả lại cho người đàn ông năm cũ mọi cái gì của anh, tôi vô tình đem theo trong cuộc đời mình từ hai mươi năm trước. “Những cái gì đó” đã làm dày vò không chỉ một mình anh, mà luôn cả Trần Nghi Hoàng và tôi cũng từng nhiều phen bị cuốn hút đảo điên.

California, thứ năm 20/7/1995
Trần Thị Bông Giấy.
[]
 

 

 



(*) Bài tâm bút “Tiếng Ðàn Phong Vận… Chân Trời Cũ”, Một Truyện Dài Không Có Tên tập I của TTBG, trang 407, Văn Uyển xuất bản tháng 8/1994.

(*) La Dame aux Camelias, tác phẩm nổi tiếng được viết vào năm 1848 của Alexandre Dumas fils, nhà văn Pháp (1824-1895).

 

 

Bài 2  >>

Trang chính  >>