GIÂY PHÚT CUỐI CÙNG CỦA

CHIẾC TÀU SÉMILLANTE

 

Truyện Ngắn Pháp (Trích trong Lettre de Mon Moulin)

Tác giả: Alphonse Daudet

TTBG chuyển Việt ngữ.

 

 

            Alphonse Daudet sinh trưởng ở Nimes, nước Pháp, ngày 13 tháng 5/1840, nơi ông trải qua 8 năm đầu tiên của cuộc đời ông. Cả hai phía nội ngoại đều thuộc giới tiểu tư sản Pháp. Thuở ấu thời, đối nghịch trong í nghĩ Daudet về nỗi thích thú hàng đầu theo sự rực rỡ chan ḥa của mặt trời miền Provence chính là cái không khí u buồn v́ suy sụp kinh tế của gia đ́nh ông. Người cha, Vincent Daudet, một nhà sản xuất tơ lụa –luôn  luôn thất bại trong công việc. Năm 1849, từ miền bắc, ông di chuyển cả nhà đến Lyons (thuộc miền Nam).

                Không ưa môi trường mới này và sự học hành chỉ là thưng xuyên bị gián đoạn, thuở thiếu niên của Daudet trôi qua trong buồn bă. Tinh thần người cha càng thêm sa sút trước cuộc Cách mạng 1848 tiếp đó, để cuối cùng vào năm 1857, gia đ́nh hoàn toàn bị khánh kiệt và bắt đầu phân tán từ đây.

                Năm 1857, Alphonse –chưa từng là một học sinh giỏi- rời Lyons và tự đặt ḿnh một cách đáng thương trong vai tṛ trợ giáo tại Alais. Công việc quả t́nh không thể chịu nổi. Giống như Charles Dickens từng tuyên bố rằng trong suốt những thành đạt về sau vẫn bị những giấc mơ về thời kỳ học việc nghèo khổ thuở đầu đời trở về quấy phá; th́ Daudet cũng nói rằng trong nhiều tháng sau khi rời Alais, ông nhiều lần bị thức giấc với những í nghĩ kinh hăi rằng vẫn c̣n đang ở giữa đám học tṛ vô kỷ luật, cứng đầu.

                Ngày 1st tháng Mười Một năm 1857, Daudet bỏ rơi nghề trợ giáo, t́m đến Paris, trú ẩn tại nhà người anh tên Ernest, lớn hơn ông ba tuổi, đang cố gắng kiếm sống bằng nghề kí giả. Nh́n ra tài năng văn chương của em, Ernest khuyến khích em đi vào con đường này. Một tập thơ t́nh xoàng xĩnh, Les Amoureuses, (1858), xuất hiện khi Alphonse 18 tuổi, không tạo được nhiều chú í. Tác phẩm đề tặng cho một cô làm mẫu tên Marie Rieu, có quan hệ với ông. (T́nh cảm rắc rối của họ về sau lại là nguồn cảm hứng tạo nên tiểu thuyết Sapho (1884), kể chuyện một chàng Parisian trẻ tuổi gặp một cô điếm hạng sang lớn tuổi hơn, bị rơi ngă dưới sức mê hoặc của cô. Chàng hết sức cố gắng để tự giải thoát khỏi ảnh hưởng người t́nh vẫn hết ḷng phục vụ cho chàng. Cuối cùng nàng trở lại với một t́nh nhân cũ và chàng tiếp tục đi con đường riêng của ḿnh).

                Lần nữa, suốt qua ảnh hưởng của ông anh, Alphonse được hướng dẫn vào nghề kí giả, bắt đầu viết những bài thời sự bằng văn xuôi, mô tả những nét đặc trưng xă hội lúc bấy giờ. Điều này, năm 1859 giúp ông được thu nhận vào làm việc cho tờ báo tuần báo Figaro nhiều uy tín. Ngay trong các bài viết đầu tiên của Daudet cũng đă cho thấy rồi những ǵ mà các nhà phê b́nh thường gọi là "sự tưởng tượng nhẹ nhàng"; và những kẻ thường hay nhạo báng người khác chợt phát giác ra các kiểu thức nổi bật nhất trong văn chương ông: tính đa cảm, trí tưởng tượng phiêu diêu. Rồi dưới quyền chủ bút đầy sinh lực của Cartier de Villemessant, ông viết hai hay ba kịch bản, và bắt đầu được nh́n nhận như một nhà văn đầy tài năng hứa hẹn.

                Từ 1861 đến 1865, chàng tuổi trẻ Daudet thụ hưởng sự chắc chắn tiền bạc trong vai tṛ thư kí riêng của Hoàng thân de Morny, vị bộ trưởng đầy quyền uy của hoàng đế Napoléon III. Chức vụ (mà Daudet giữ cho đến khi Hoàng thân qua đời năm 1866), th́ cũng giống như trong các truyện thần tiên, được ban bởi sự t́nh cờ lưu í của Hoàng hậu Eugénie theo nét chữ viết tay rất đẹp của nhà văn.

                Trong những năm này, Daudet phóng ḿnh hoàn toàn vào văn chương, cho chào đời nhiều kịch bản một hồi (La Dernière idole, 1862; Les Absents, 1864; L'Oeillet blanc, 1865), và trợ lực cho ngành sân khấu dưới ảnh hưởng của Hoàng thân. Ông đă đặt chân hoàn toàn trên con đường may mắn. 

                Năm 1860, nhà văn gặp Frédéric Mistral (1830-1914), thi sĩ Pháp sinh trưởng tại Maillaine, một ngôi làng trong thung lũng sông Rhone, người đă đánh thức trong Daudet mối hâm mộ nồng nàn cho cuộc sống ở miền Nam.

                Mùa đông 1861-62 của Daudet trải qua ở Algéria.

                Sau khi Hoàng thân chết (năm 1865), Daudet quyết định tiếp tục mưu sinh bằng nghề cầm bút. Mệt mỏi bởi cuộc sống ồn ào ở Paris, nhà văn rút về Provence, quan sát đời sống của nông dân, gặp gỡ nhiều lớp người khác nhau trong tỉnh và lắng nghe các mẩu chuyện của họ. Những dữ kiện này được kể lại bằng thể văn thư từ trong tập truyện ngắn Lettres de Mon Moulin xuất hiện năm 1866 trên các báo ở Paris và đạt được sự khen ngợi nồng nhiệt của độc giả.

                Tuy nhiên, Le petit chose (1868), một cuốn bán tự truyện kể lại bằng giọng văn duyên dáng và cảm động những năm đầu đời của ông và được định giá như cuốn David Copperfield của Charles Dickens, th́ không gây được bất cứ náo động quần chúng nào.

                Năm 1867, Daudet thành hôn với Julia Allard; năm kế tiếp cho chào đời một đứa con trai. Bị gánh nặng gia đ́nh đè nặng, Daudet đăng vào quân đội nhưng trốn thoát được khỏi sự khủng bố của nhóm Công Xă Paris vào năm 1871. Kí ức khích động tạo ra từ sau cuộc chiến Franco-Prussian (1870-71) đă được ghi lại trên nhiều tác phẩm của ông, ví dụ như Tṛ chơi Bi-Da”, diễn tả những thực tế của cuộc chiến, cận kề bên một tṛ chơi Bi-da trong một ṭa lâu đài sang trọng.

                Đoàn quân đang chờ nhận lệnh nhưng vị Nguyên soái, đồng phục tề chỉnh, ngực đeo đầy huy chương, vẫn thích thú trong cuộc thắng thua các bàn bi da với nhóm sĩ quan chủ lực của ông. Tiếng náo động của trận đánh vang lên gần hơn, nhưng vị Nguyên soái vẫn không thấy ǵ cả, không nghe ǵ cả, ngay với tiếng ầm của những quả đạn trái phá rơi trên pháo đài. Ông thắng bàn cờ nhưng đoàn quân th́ đă lên đường. “Họ chờ lệnh. Nhưng họ cũng có thể chết mà không cần lệnh, chết trên nhiều khu vực, đàng sau những bụi cây, trên những hào rănh trước ṭa lâu đài lặng câm này. Ngay cả sau khi chết, những chùm đạn đại bác vẫn tiếp tục xé rách thân thể họ; từ những kẽ hở của vết thương chảy lặng lẽ một gịng                máu –gịng máu đại lượng của nước Pháp.” (Trích “Tṛ chơi Bi-da”)  

 

                Cũng thời gian này Daudet thường xuyên gặp gỡ Gustave Flaubert, Ivan Turgenev, Edmond de Goncourt, Zola – và cùng với họ bàn căi về văn chương.

                Năm 1869, tác phẩm khôi hài nổi tiếng tựa đề Aventures Prodigieuses de Tartarin de Tarascon được nh́n như một kiểu Don Quichotte của Pháp, được độc giả đọc nhiều nhất, đă quyết định cho tên tuổi Daudet một chỗ đứng xứng đáng trên văn đàn. Hai tập tiếp theo về nhân vật đáng yêu này, đồng thời với kịch bản ba hồi L'Arlésienne cũng được chào đời sau đó vào năm 1872.    

                Từ đây, nhà văn đạt được sự thành công cao nhất trong văn nghiệp. Trong 20 năm kế tiếp, các tác phẩm lần lượt được xuất bản (Froment jeune et Risler aîné, 1874; Jack, 1876; Le Nabab, 1877; Les Rois en exil, 1879; Numa Roumestan, 1881; L'évangéliste, 1883; Sapho, 1884; L'Immortel, 1887; La Lutte pour la vie, 1889; Le Soutien de famille, 1896); và viết nhiều kịch bản cho sân khấu, bao gồm cả L'Arlésienne (1872), dựa trên một câu chuyện kể trong Lettres de Mon Moulin. Có lẽ cuốn hoàn hảo nhất của thời kỳ này, là Jack, kể câu chuyện về một đứa con ngoại hôn được nuôi bên trong một chuồng cừu, bị bắt buộc lao động và cuối cùng bị tàn phá bởi sự tàn nhẫn ác độc của một xă hội công nghiệp.

                Qua Jack, người ta thấy rơ Daudet là một nhà văn không chỉ cảm nhận được sự cảm động và buồn sầu một cách tinh tế, mà c̣n cả vẻ đẹp của đạo đức phẩm hạnh nữa, Những cá chất thật của nhà văn cũng được nêu ra với nguyên h́nh dạng: Trong cái ḷ luyện cam go của đời sống, một luồng sáng đă tuôn ra ào ạt bằng một bàn tay kỳ diệu. Ông đă bắt đúng mạch của quần chúng Pháp trong sự diễn tả tiếng “cười ra nước mắt”, biểu thị một trong những lời phản kháng đầu tiên được vang lên trong nước Pháp, chống lại cái hiệu quả vô nhân đạo trên sự hành hạ trẻ con.

                Trong các tác phẩm của thời kỳ này, Daudet biểu thị rơ ràng phương diện bi quan yếm thế của ḿnh, điều trở nên nổi bật kể từ thập niên 1880. Giống như Emile Zola và những nhà văn phái Tự Nhiên khác, ông sắc bén tường thuật lại những tai họa, tội lỗi của thời đại, nhưng ngay cả với những dữ kiện bi thảm nhất cũng được ông diễn tả bằng một giọng văn đẹp đẽ trữ t́nh.

                Nhưng trên hết, phải nói rằng Daudet là “một nhà văn thuộc phái ấn tượng”, bởi v́ văn phong ông không giống như lối diễn tả của lề thói cũ kỹ, mà là chiếu sáng cái kết quả chờ đợi của cốt truyện bởi lối xếp chữ cạnh nhau một cách rất duyên dáng, tinh thục, y hệt những sắc tố trên một bức tranh. Ông tạo sinh khí cho những dữ kiện, chất liệu được rút từ trí nhớ. Thế giới ông vẽ ra có đầy những món quà của đời sống. Un charmeur như Emile Zola đă gọi ông.

                Cuộc sống hôn nhân của ông đặc biệt hạnh phúc. Có một sự ḥa hợp trí thức giữa hai vợ chồng, và chính Madame Daudet cũng là một nhà văn; bà được biết đến bởi tác phẩm Impressions de nature et d'art (1879), L'Enfance d'une Parisienne (1883), và vài bài nghiên cứu văn chương được viết dưới bút hiệu Karl Steen.

                Trong những năm cuối đời Daudet bị đau khổ bởi hậu quả của bệnh hoa liễu mà ông mắc phải trong thời tuổi trẻ khi phục vụ hoàng thân tại triều đ́nh Napoléon III, dẫn tới sự mất điều ḥa trong việc di động, tạo nên những cơn nóng giận không kiềm chế nổi và những giây lát đau đớn kịch liệt. “Tôi hành xử như một người nộm”, Dauded viết trong một tác phẩm xuất bản sau khi chết, tựa đLa Doulou, trong đó có giải thích rơ về những nỗi khổ của một kẻ bị bệnh giang mai.

                Ngày 16th/December 1897, tại Paris, trong khi đang dùng cơm tối với gia đ́nh, nhà văn đột nhiên ngă ra bất tỉnh. Bác sĩ Gilles de la Tourette và bác sĩ Potain (bạn cũ của Daudet) được gọi đến cấp tốc. Bằng phương pháp thông thường của thời ḱ ấy, họ làm hô hấp nhân tạo cho ông theo đường cổ họng trong một tiếng rưỡi đồng hồ. Sau đó tuyên bố rằng Daudet đă chết.

 

*

* *

 

            Kể từ cơn gió mạnh của đêm hôm kia đă đưa chúng tôi đến vùng bờ biển xứ Corse này, tôi xin kể bạn nghe một câu chuyện khủng khiếp về biển cả mà các dân chài ở đây thường nhắc lại với nhau trong những buổi tối. Một cách t́nh cờ, tôi cũng được biết nhiều chi tiết lạ lùng về câu chuyện này.

            Cách nay hai hoặc ba năm.

            Tôi vượt biển Sardaigne với bảy hay tám thủy thủ. Thật là một chuyến đi khó khăn cho một người mới bắt đầu đi biển như tôi. Suốt tháng Ba, chúng tôi chẳng có được một ngày thoải mái. Ngọn gió đông cứ bám theo sau và biển cả không ngừng cuồng nộ.

            Một đêm khi chạy trốn trước khi băo đến, tàu chúng tôi tới ẩn trú trong eo biển Bonifacio, giữa một đám đảo nhỏ. Quang cảnh nơi đây chẳng có ǵ hứa hẹn: Toàn các tảng đá lớn trơ trụi đầy chim, vài bụi nhủ hương, và, đó đây, trong bùn lầy, là những mảnh gỗ mục rữa. Nhưng, thú thật, để trải qua đêm bên những tảng đá quái gở này th́ cũng c̣n khá hơn trú lại trong căn pḥng trên boong với lớp sóng biển tràn vào thỏa thích, và chúng tôi rất lấy làm hài ḷng.    

            Vừa bước lên bờ, trong khi các thủy thủ nhóm lửa nấu súp, vị chỉ huy gọi tôi, chỉ cho tôi thấy một khoảng đất nhỏ có rào kín màu trắng khuất lẫn trong sương mù ở cuối đảo.

            “Ông có muốn đến nghĩa địa không?” Ông hỏi.

            “Nghĩa địa à, ông Lionetti? Chúng ta đang ở đâu vậy?”

            “Quần đảo Lvezzi, thưa ông. Đây là nơi an nghỉ của sáu trăm người trên chiếc tàu Sémillante, ngay ở nơi mà cái chiến hạm của họ đă bị ch́m, mười năm trước… Thật là tội nghiệp! Chẳng mấy người tới thăm viếng họ; ít nhất chúng ta cũng nên đến chào họ một tiếng v́ chúng ta đă đến đây…”  

            “Rất sẵn ḷng, thưa ông.”

           

 

            Nghĩa địa của tàu Sémillante trông buồn thảm làm sao!... Tôi vẫn c̣n thấy bức tường thấp và cánh cổng sắt của nó, han rỉ, khó mở; căn nhà nguyện lặng lẽ, và chừng vài trăm cây thánh giá màu đen lẩn khuất trong cỏ…  Không một ṿng hoa, không một ghi nhớ nào! Không điều ǵ cả… A! Những người chết bị quên lăng đáng thương, hẳn là họ phải lạnh lắm trong những ngôi mồ bất chợt!

            Chúng tôi quỳ ở đó chốc lát. Ông trưởng đoàn cầu nguyện to giọng. Những con hải âu to lớn, những kẻ duy nhất canh giữ nghĩa trang, lao ṿng đi trên đầu chúng tôi, ḥa nhập những tiếng kêu vang rền của chúng vào với tiếng rền rĩ của biển cả. 

            Cầu nguyện xong, chúng tôi buồn rầu quay về góc đảo nơi chiếc tàu của chúng tôi neo lại. Trong khi chúng tôi vắng mặt, các thủy thủ đă không để phí th́ giờ. Chúng tôi thấy một đống lửa sáng rực được đốt lên khuất sau một tảng đá, và một cái nồi đang bốc khói. Mọi người ngồi chung quanh, chân quay về phía đống lửa, rồi chẳng mấy chốc từng người có trên đầu gối họ, trong một cái tô bằng đất nung, hai khoanh bánh ḿ với đầy đủ gia vị. Bữa ăn lặng lẽ: chúng tôi đều bị ướt, đói và đang ngồi kề bên một nghĩa trang… Tuy nhiên, khi những cái tô đă trống, chúng tôi đốt ống điếu và bắt đầu gầy chuyện một chút. Tự nhiên là ai cũng nói về chiếc tàu Sémillante.

            “Cuối cùng, chuyện xảy ra thế nào?” Tôi hỏi vị trưởng đoàn lúc đó đang hai tay ôm đầu, nh́n vào ngọn lửa với ánh mắt nghĩ ngợi.

            “Chuyện xảy ra thế nào ư?” Lionetti tốt bụng đáp lời tôi trong một tiếng thở dài thườn thượt. Thưa ông, không ai trên đời có thể nói rơ được điều ấy. Tất cả những ǵ chúng tôi được biết là chiếc Sémillante chở một đoàn binh đến Crimée, khởi hành từ Toulon tối hôm trước trong một thời tiết xấu. Đêm đó c̣n tệ hơn nữa. Gió to, mưa lớn, biển cả thét gào như chưa từng thấy… Buổi sáng hôm sau, gió có dịu đi một chút, nhưng mặt đại dương th́ vẫn như cũ, thêm lớp sương mù quỷ quái đến nổi cách chỉ bốn bước cũng không thể nào phân biệt nổi một ngọn đèn…

            Lớp sương mù đó, thưa ông, c̣n ai không biết là hiểm ác… nhưng cũng không hề ǵ, mà tôi nghĩ rằng chiếc Sémillante đă mất bánh lái sáng hôm ấy; bởi v́, nếu không có sương mù hoặc nếu tàu không bị hư hỏng th́ viên thuyền trưởng sẽ không khi nào để cho tàu đụng vào vách đá. Tất cả chúng tôi đều biết ông ta là một truyền trưởng dày dạn. Ông đă chỉ huy hải trạm đảo Corse ba năm, và ông rành rẽ bờ biển như tôi là người không biết thứ ǵ khác nữa.

            “Vào lúc mấy giờ th́ tàu Sémillante bị lâm nạn?”

            “Chắc là lúc giữa trưa; vâng, thưa ông, lúc giữa trưa. Nhưng khốn thay, với thứ sương mù trên biển th́ giữa trưa cũng chẳng hơn ǵ đêm tối. Một nhân viên quan thuế ở bờ biển đă kể lại với tôi rằng hôm đó, khoảng mười một giờ rưỡi, khi đi ra ngoài nhà để buộc lại cánh cửa, nón anh đă bị gió cuốn bay và anh đă ḅ cả hai tay hai chân dọc bờ biển để đuổi theo chiếc nón, bất chấp điều có thể bị sóng cuốn trôi. Ông biết, nhân viên quan thuế không giàu có ǵ, và với họ, một chiếc mũ cũng đắt tiền lắm. Thế rồi, h́nh như có lúc anh ngẩng đầu lên và trông thấy sát bên ḿnh, trong sương mù, một chiếc tàu lớn không buồm đang chạy dưới gió về phía quần đảo Lavezzi. Nó chạy rất nhanh, nhanh đến nỗi anh ta chỉ kịp nh́n thấy nó, nhưng có đủ lí do để tin rằng đó là chiếc Sémillante, v́ nửa giờ sau, người chăn cừu ở đảo đă nghe tiếng va chạm trên đá. Thưa ông, đây chính là người chăn cừu tôi đă nói; ông ta sẽ tự kể lại sự việc. Chào Palombo! Tới sưởi ấm một chút đi, đừng sợ.”

            Một người đàn ông đội mũ trùm đầu mà tôi đă thấy lảng vảng gần đống lửa tự năy giờ --và tôi tưởng là một trong các thủy thủ v́ tôi không biết có một người chăn cừu trên đảo-- tới gần với vẻ sợ sệt.

            Đó là một ông già mắc bệnh phong hủi, gần như đần độn. Tôi không biết chứng hoại huyết nào đă làm môi ông sưng to lên và ḷng tḥng, trông rất gớm ghiếc. Phải khó nhọc lắm mới giải thích cho ông hiểu được chuyện ǵ. Thế rồi, lấy ngón tay nâng cái môi lên, ông già kể, quả là ngày đó, từ trong lều, ông đă nghe tiếng va chạm kinh khủng trên các mỏm đá. V́ đảo ngập nước, ông không ra ngoài được. Chỉ hôm sau khi mở cửa, ông mới thấy bờ biển đầy mảnh tàu bể và tàu th́ bị sóng đánh dạt lên. Ông kinh hoàng nhảy lên chiếc xuồng nhỏ để đi Bonifacio t́m người.

            Mệt v́ nói nhiều, người chăn cừu ngồi xuống và ông đoàn trưởng nói tiếp:

            “Thưa ông, chính ông già tội nghiệp này đă tới cho chúng tôi hay. Ông gần như điên lên v́ sợ, và trí năo của ông vẫn c̣n rối loạn v́ chuyện đó. Mà thật, chuyện quả đáng sợ. Ông hăy h́nh dung sáu trăm xác chết chồng chất lên nhau trên băi cát, lẫn lộn với mảnh tàu vỡ và mảnh buồm rách… Tội nghiệp chiếc Sémillante!... Biển cả đă nghiền nát nó, đến nỗi ông lăo chăn cừu Palombo khó nhọc lắm mới t́m được trong đống bể nát đủ số gỗ để làm thành một hàng rào quanh lều.

            C̣n con người th́ gần như biến dạng, găy đứt hết. Thấy họ vướng vào nhau từng chùm mà thương xót! Chúng tôi t́m thấy thuyền trưởng mặc lễ phục, Cha Tuyên úy quàng khăn lễ trên cổ; trong một góc, giữa hai tảng đá, một thủy thủ tập sự mở mắt trao tráo. Có thể tưởng là cậu c̣n sống, nhưng không. Không ai thoát chết cả.”

            Tới đây ông đoàn trưởng bỗng dừng lại.

            “Nardi, coi chừng lửa tắt!” ông bảo.

            Nardi ném lên đống than hồng hai, ba mảnh ván trét dầu hắc và chúng cháy bùng lên. Lionetti kể tiếp:

            “Có chi tiết đáng buồn nhất trong chuyện này là ba tuần lễ trước, một chiếc hải hạm cũng đi Crimée và đă đắm gần như cùng một chỗ như chiếc Sémillante. Chỉ có điều là lần đó chúng tôi đă cứu được thủy thủ đoàn và hai mươi người lính quân nhu đi theo tàu. Những người lính đáng thương này không có công việc ǵ trên tàu nên chúng tôi đưa họ tới Bonifacio và giữ họ lại hai ngày ở đó. Khi đă khô ráo và tỉnh táo lại, họ từ giă chúng tôi, trở lại Toulon và ít lâu sau người ta lại cho họ lên tàu đi Crimée.”

            “Ông có đoán được họ đi trên chiếc tàu nào không?”

            “Chiếc Sémillante. Chúng tôi gặp lại tất cả hai mươi người lính ấy trong số những người chết, ngay chỗ chúng ta đang ngồi bây giờ đây. Chính tôi nhặt xác của một viên đội đẹp trai để râu mép, một thanh niên tóc vàng người Paris mà tôi đă cho ăn ngủ nhờ ở nhà tôi, lúc nào cũng kể chuyện làm cho chúng tôi cười được. Thấy anh ta ở đó, tôi đau ḷng quá… A, Santa Madre!”

            Ông Lionetti quá xúc động, giủ tro trong ống điếu ra, cuộn tṛn ḿnh lại trong chiếc áo mưa và chúc tôi ngủ ngon. Các thủy thủ kia c̣n tṛ chuyện nho nhỏ với nhau một lúc nữa. Rồi các ống điếu lần lượt tắt. Người ta bắt đầu ngủ. Ông lăo chăn cừu bỏ đi. Và một ḿnh tôi mơ màng giữa các thủy thủ ngủ say.

*

* *

            Vẫn c̣n bần thần v́ câu chuyện buồn thảm vừa nghe, tôi cố dựng lại trong trí h́nh ảnh chiếc tàu và lúc cuối cùng của nó. Thật đáng thương, chỉ những con hải âu chứng kiến giây phút hấp hối đó. Có vài chi tiết làm tôi xúc động mạnh. Thuyền trưởng mặc lễ phục, Cha tuyên úy, hai mươi người lính quân nhu, tất cả đă giúp tôi phỏng đoán mọi diễn biến của thảm kịch. Tôi thấy chiếc chiến hạm rời cảng Toulon trong đêm tối, thẳng hướng đại dương. Biển động, gió dữ dội, nhưng thuyền trưởng là một nhà hàng hải tài ba nên trên tàu ai cũng an tâm.

            Buổi sáng, sương mù từ biển dâng lên. Người ta bắt đầu lo ngại. Tất cả thủy thủ lên boong. Thuyền trưởng không rời khỏi đài chỉ huy.

            Chỗ trú của hai mươi người lính quân nhu là trong hầm tối, không khí nóng bức. Có vài người mắc bệnh, nằm trên túi quân trang. Tàu tṛng trành kinh khủng, không ai đứng vững được. Từng nhóm ngồi bệt xuống sàn, tay bám vào ghế dựa, tṛ chuyện; họ phải hét lớn mới nghe nhau được. Có người đă bắt đầu sợ. Nghe này! Tàu thường bị đắm trong vùng biển này. Ở đây có các người lính quân nhu làm chứng, và những điều họ kể không làm người ta yên tâm. Nhất là viên đội, một dân Paris lúc nào cũng bỡn cợt, nói những câu đùa nghịch khiến đám bạn càng thêm hăi sợ:

            “Một vụ đắm tàu! Nhưng vui lắm, một vụ đắm tàu. Chúng ta chỉ phải tắm trong băng, rồi người ta sẽ đưa chúng ta về Bonifacio để ăn thịt chim sáo ở nhà ông trưởng nha quan thuế Lionetti.”

            Cả đám quân nhu cười ồ.

            Th́nh ĺnh, một tiếng răng rắc vang lên. Cái ǵ vậy! Có chuyện ǵ?

            “Bánh lái vừa găy” –một thủy thủ người ướt mem, vừa chạy qua hầm tàu vừa nói.

            “Thượng lộ b́nh an!” Viên đội khích động hét to, nhưng không ai cười được nữa.

            Trên boong hỗn loạn. Sương mù quá dầy, không ai thấy rơ mặt ai. Các thủy thủ chạy tới chạy lui, hốt hoảng, ṃ mẫm. Bánh lái không c̣n nữa! Không thể điều khiển tàu. Chiếc Sémillante trôi giạt, như bay. Đó là lúc mà người nhân viên quan thuế thấy nó chạy qua; mười một giờ rưỡi trưa. Ở mũi chiếc thuyền, người ta nghe tiếng gầm như đại bácc nổ. Đá ngầm! Đá ngầm! Thế là hết, không c̣n hy vọng ǵ. Con tàu đang đâm thẳng vào bờ. Thuyền trưởng xuống pḥng riêng. Một lúc sau, ông trở lại đài chỉ huy, mặc đại lễ phục. Ông muốn làm đẹp để chết.

            Trong hầm tàu, những người lính quân nhu lo âu, nh́n nhau, im lặng. Những người bệnh cố ngồi dậy. Viên đội không cười nữa. Lúc đó cửa mở ra và Cha tuyên úy xuất hiện ở ngưỡng cửa, tay cầm khăn lễ.

            “Quỳ xuống các con!”

            Mọi người vâng lời. Giọng ngân vang, linh mục bắt đầu bài kinh của người hấp hối.

            Bỗng mọi người nghe một chấn động ghê gớm, một tiếng kêu thét, một tiếng duy nhất, rền rĩ; những cánh tay đưa thẳng những bàn tay co quắp, những ánh mắt hoảng loạn trong đó h́nh ảnh Thần Chết thoáng qua như ánh chớp.

            Xin Chúa xót thương!

            Tôi đă mơ mộng như vậy suốt đêm, gọi hồn của chiếc tàu chết cách đó mười năm mà mảnh vụn bấy giờ c̣n vương văi quanh tôi. Trong eo biển đàng xa, băo đang gào thét; ngọn lửa rạp xuống dưới làn gió; và tôi nghe chiếc thuyền của chúng tôi đang nhảy nhót trong sóng nước dưới chân vách đá, dây neo kêu kẽo kẹt.

 

(Cali, Nov. 25/2008)

[]