MIỀN HUYỀN SỬ CỔ TÍCH XANH

 

Bút kư Nguyễn Nguyên An

 

    

 Mười năm trước ông Trần Giải Phó Chủ tịch huyện Quảng Điền đưa chúng tôi sang xă Quảng Ngạn. Tôi ở mười ngày “ba cùng” với bà con, đi đ̣ dọc trên phá Tam Giang thăm thú đầm chim, thuốc lá Phong Lai - Quảng Thái, ra làng “Bao La Ngoài” thôn Thuỷ Lập, Quảng Lợi xem đan lát thúng mủng. Mười năm sau tao ngộ, anh Giải lại đưa chúng tôi đi các xă rồi qua Quảng Ngạn.

     Mười năm trước, Trần Thông ở thôn Tân Mỹ, xă Quảng Ngạn ra băi mua mấy ngàn cá nóc lên  nhà làm sạch ngâm muối sống đến chiều mới kho ăn. Hồi đó người địa phương cho rằng, cá nóc sống lưng màu da xanh thẫm, hai bên có vạch vàng, dưới bụng trắng... là cá nóc gạo, chỉ cần vứt mắt, mật, da ăn dai như thịt gà. Con nào phần da bụng màu xám tro, xanh đậm hoặc đen rất độc, ăn chết! Tôi hỏi đùa:

     - Thông làm cá nóc kho cho ḿnh ăn với.

     Thông cười:

      - Từ khi người trong làng ăn cá nóc bị nôn thốc nôn tháo cả thôn không ai ăn  nữa, bỏ ăn cá nóc lâu rồi anh.

     Đập vào mắt tôi 18 máy vi tính kết nối internet của Thông tọạ lạc đầu thôn. Công nghệ thông tin đến tận biển, nơi cách phá trở đ̣, miệt mài cát trắng, vạm vỡ nắng gió để phục vụ các em chơi Games online, Chat... trong ngày hè nắng nóng. Thông tâm sự:

     - Một ngàn cũng đặ;ng, hai ngàn cũng xong. Em bán cho các cháu hai ngàn đồng bốn mươi phút.

     - Các em có ṭ ṃ những trang Web không lành mạnh?

     - Cả nhà em trực... Em thᅐờng dặn: “Chú nói trước, chú thấy chú xách tai đó!”.

     Đi về phía sóng vỗ tôi thấy xóm nhà kiên cố san sát bên nhau, nhiều nhà hai tầng, chùa và nhiều nhà thờ họ, lăng mộ vần vũ hoa văn trị giá từ 20.000 đến USD28.000. Tôi chạnh nghĩ “Nếu phố mộ Ăn Bằng - Phú Vang, Thừa Thiên Huế là PHỐ MỘ, ở đây cũng xứng tầm THỊ TỨ MỘ. Bà con ḿnh sính phụng thờ hiếu sự tiên tổ to lớn lộng lẫy phải chịu tốn kém, trong khi c̣n nhiều công tŕnh phúc lợi cần thiết dân sinh c̣n thiếu, nhưng cũng thấy họ phong phú cả tâm linh lẫn đời sống”. Ngoài băi biển nổi nhiều quán bán giải khát, cho thuê ghế, thuê chiếu và dăy ghe nan chạy tít tắp vừa qua một đêm vật vă sóng nước, giờ ngửa bụng lên trời đánh giấc chiêm bao giữa ban ngày. Một lăo ngư nói:

     - Ghe nan ભan bằng tre xong trét đầu rái rồi trét dầu hắc. Một chiếc khoảng hai mươi triệu, tính cả máy “Đê 15 hoặc Đê 20” và sắm hơn 10 tay lưới, một tay 1 triệu đồng, vị chi trên 40 triệu là có ghe làm ăn. Đánh cá, câu mực một đêm tuỳ con nước, khi vài trăm ngàn, trúng th́ được môt, hai triệu, tiềm tiệm sống qua ngày cậu ạ.

     Hiện nay xă Quảng Ngạn phát triển trang trại chăn nuôi kết hợp trồng cây, vận động nhân dân phát huy hết hiệu quả đánh bắt vùng biển và phát triển DV-TTCN bước đột phá sản xuất tăng thêm thu nhập bà con xă nhà. Xă được công nhận xă văn hóa vào giữa năm 2008. Về đây, tôi viết bài thơ tặng Thúy:

 

     MẮC CẠN

     Giá như mười năm trước

     Anh không đến nơi nầy

     T́nh không vương tay lưới

     Trong mắt nàng thơ ngây

 

     Em Digan rám nắng

     Nhen lửa trên đồi dương

     Mắt mướt màu biển mặn

     Nở một đoá vô thường

 

     Một bên xanh đầm phá

     Một bên thắm biển xanh

     Một bên em Quảng Ngạn

     Nổi băo dậy anh rồi

 

     Mười năm cũng vừa đủ

     Nhớ đến cháy trong ḷng

     Em xa cũng vừa nở

     Nụ t́nh không cho không

 

     Giá như mười năm cũ

     Không về Quảng Ngạn em

     Ḷng anh không mắc cạn

     Trong mắt ướt môi mềm...

 

     Chúng tôi đến thành cổ Hoá Châu ở xă Quảng Thành, xưa kia đây đă là Trung tâm Quân sự hành chính – Kinh tế, văn hoá. Năm 1284 liên minh của hai dận tộc Việt, Chăm đă làm thất bại quân xâm lược Nguyên Mông. Năm 1306, nhà Trần gă Công chúa Trần Huyền Trân cho quốc vương Chế Mân (Jaya Sinhavarman III), từ đó Hoá Châu thành tiền đồn quan trọng của Đại Việt. Năm 1362 Đỗ Tử B́nh vào tuyển quân lính và tu bổ thành Hoá Châu để trấn giữ biên giới phía Nam Đại Việt, sau này là hậu cứ vững chắc của nhà hậu Trần trong cuộc kháng chiến quân Minh. Đến viếng chùa Thành Trung giữa làng (thành trong), nền chùa nằm giữa đoạn thành nội đă được san bằng. Chùa xây dựng năm 1745. Vua Tự Đức trên đường tuần du phương Bắc, thấy vẻ uy nghi của chùa sắc phong “Kim Thành Tự”. Tiền Phật hậu linh, phía sau nhà chùa có thờ tượng thần VISNU vị thần bảo hộ của người Chăm. Trong điện c̣n thờ hai tượng Phật Thích Ca và tượng Phật Địa Tạng, hai tượng này niên đại hằng trăm năm mà dân làng c̣n lưu giữ được. Căn cứ các ḍng chữ Hán trên chuông đồng, cho biết chuông đúc vào năm 1902 (Thành Thái thứ 18). Đây là những hiện vật có giá trị niên đại về văn hoá truyền thống của làng Thành Trung, nơi gắn liền thành Hoá Châu. Thiền sư Thích Nhất Hạnh bước đầu tu đạo chùa này, chuyến về thăm chùa thầy ghi đôi ḍng lưu bút:

     “Chẳng biết rong chơi miền tịnh độ

     Làm người một kiếp cũng rong chơi”

     Năm 1997 bà con Thành Trung nạo vét lát cắt của Thành Hoá Châu, ngẫu nhiên t́m được một tảng đá dùng trang trí trước cổng thành có khắc ba chữ Hán: CHỦ KHẮC CÔNG ghi công thắng lớn của Đại Việt 

     Tôi đi trong mênh mang huyền sử Huyền Trân. Huyền Trân Công Chúa sinh vào năm 1289. Năm 1301 Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông du ngoạn sang vương quốc Chiêm Thành và được vua Chàm Jaya Sinhavarman III (Chế Mân) tiếp đăi nồng hậu. Thái Thượng Hoàng lưu lại đây 9 tháng, khi ngài rời Chiêm Thành về Đại Việt, ngài hứa sẽ gả con gái cho Chế Mân. Chế Mân gửi đồ sính lễ sang xin cưới Huyền Trân Công Chúa. Trong đồ sính lễ có kèm theo một thoả thuận là Đại Việt sẽ được dâng tặng vùng đất Châu Ô và Châu Lư (Châu Rí) - ba tỉnh Quảng B́nh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế ngày nay. Năm 1306 Huyền Trân lên kiệu hoa về nhà chồng. V́ quá mê mẩn trước một sắc nước hương trời Chế Mân lập tức tấn phong Công chúa Huyền Trân làm hoàng hậu. Tháng 5 năm 1307 Chế Mân chết, theo tục lệ Chiêm thành, vua chết hoàng hậu phải lên giàn hoả thiêu, hung tin đó về tới Thăng Long. Triều đ́nh hốt hoảng sai Trần Khắc Chung sang t́m cách cứu Công chúa. Trần Khắc Chung hoàn thành sứ mạng đưa Huyền Trân trở về.

     Ở Thừa Thiên Huế có bốn Bia Cánh Sen của người Chăm. Đă khai quật 02 bia. Quảng Thành lưu giữ một bia. Bia Cánh Sen ở làng Phù Lương thuộc địa phận xă, ven đường làng. Bia c̣n nguyên đế dày hơn ba mươi phân, rộng nửa thước vuông có chữ Chăm ghi lại công đức của người Chăm cả mặt trước sau. Bà con sùng kính xây một cái am nhỏ sau bia để thờ phụng, hương khói trong ngày sóc vọng. Trước khi tạm biệt Quảng Thành tôi đi tham quan làng trồng rau. Thành Trung có Phường rau truyền thống trồng rau từ hằng trăm năm trước. Có lẽ Quảng Thành là rốn lũ của tỉnh, hàng năm được phù sa tô bồi nên thổ nhưỡng tốt cho hoa màu. Hiện nay, làng cũng là nơi nổi tiếng rau sạch của thành phố và huyện nhà. Đấy là một vùng quê có nét văn hoá đặc thù của một địa phương. Tôi gặp anh Toan VHTT xă, anh chỉ cho tôi cách nấu cháo hột vịt và lẫu hột vịt. Xă là xứ vịt, thịt vịt có độ béo ngon nhất định. Có người cho tôi biết anh Toan “phát minh” hai món khoái khẩu ấy do một bữa nước ngập không đi được nên nẩy ra sáng kiến. Trong xă hầu hết các quán ăn đều có bán hai món cháo và lẫu hột vịt. Khi chia tay anh, tôi có đề nghị anh tặng bà con xa “bản quyền” để phổ biến món ngon rộng khắp. Anh cười rất tươi!

Chúng tôi về Quảng Phú. Quảng Phú một xă của huyện nằm dọc tuyến sông Bồ và tỉnh lộ 11A thuộc vùng thấp, địa bàn rộng không được tập trung. Nhưng là nơi có bề dày lịch sử trong quá tŕnh h́nh thành của đất nước và địa phương. Miếu Bà Tơ, truyền thuyết cho rằng có một phụ nữ nổi tiếng sông nước đă từng cứu sống Chúa Nguyễn trong lúc lâm nạn trên đường tẩu thoát, thuyền của Chúa bị đứt quai chèo, đang loay hoay giữa ḍng nước th́ gặp bà. Bà dùng dây tơ cột lại quai chèo. Sau này nhớ ơn bà, vua cho bà cai quản một đoạn sông Bồ kéo dài từ làng Bác Vọng ra tận phá Tam Giang. Sau khi bà mất dân làng lập miếu thờ ngay bến đ̣ Bác Vọng. Trước cổng chào trước miếu ghi hai câu đối:

     Mặt nước hưởng nhờ ơn vũ lộ

     Dây tơ cứu khổ trận phong ba

     Cách miếu Bà Tơ khoảng 100 mét là Miếu thờ anh hùng nghĩa sĩ Cần Vương Đặng Hữu Phổ. Ông sinh ngày 29 tháng 9 năm Giáp Dần tại làng Bác Vọng, 24 tuổi thi đỗ cử nhân khoa Mậu Dần (1878) được bổ chức Thị độc hoạ sĩ viện Hàn lâm. Ông Đặng Hữu Phổ trưởng nam của Pḥ mă Đặng Huy Cát và công chúa Tỉnh Hoa tức là nữ sĩ Huệ Phố con vua Minh Mạng. Cha con ông tham gia cuộc tấn công giặc Pháp, đêm 23 tháng 5 năm Ất Dậu (1985) của quân dân ta tại Huế, chỉ huy đội quân Đoàn Kiệt đánh vào nha huyện Quảng Điền. Trận đánh thất bại cha con ông bị giải về kinh. Ông Đặng Huy Cát bị Pháp xử án trảm giam hậu, ông Đặng Hữu Phổ bị xử tử ngày 20 tháng 7 năm Ất Dậu tại bến đ̣ Quai Vạc (bến đ̣ ba bến), ngay trên hương ông, năm ấy ông vừa tṛn 31 tuổi. Lúc thọ h́nh, ông ngang nhiên đỉnh đạt khiến tên đao phủ run tay phải chém ba lần đầu ông mới chịu rơi, hai người lính theo hầu ông đau ḷng nh́n cái chết bi hùng của chủ suư cũng hộc máu chết theo. Truớc khi lâm h́nh ông có làm bài Hán thi "Lâm h́nh thời tác":

     Thân nguyện an dân đuổi nghịch tà

     Kính quyền trung hiếu một đời ta

     Nay mang chính khí về trời đất

     Tinh phách thường theo vua với cha

    

     Sùng kính tử tiết của ông dân làng đă lập mộ - miếu thờ ngài Đặng Hữu Phổ và hai nguời lính hầu, hằng năm hương khói phụng thờ. Ngày 28 tháng 12 năm 2001 miếu thờ Đặng Hữu Phổ được công nhận di tích lịch sử văn hoá.

     Tôi vào viếng chùa Hạ Lạng, nơi đây lưu giữ  bảo quản một chuông đồng đúc vào thời kỳ Tây Sơn rồi đi theo lời ru đến làng Bao La:

     Thúng mùng Bao La đem ra đựng bột

     Chiếu B́nh Định tốt lắm ai ơi

     Tạm tiền mua lấy vài đôi

     Dành khi hiếu sự trải côi giường Lào...

    

     Nghe đâu thời phát đạt thúng, mủng những chàng trai lực điền vâm váp muốn làm rể làng Bao La phải biết đan thúng mủng, khi quăng mạnh thúng, thúng phải bung vành ra. Tôi ngạc nhiên cái tiêu chuẩn chọn rể ngược đời của người xưa có ǵ đó mâu thuẫn với câu ca, bởi thúng, mủng Bao La xưa nay nổi tiếng tốt, bền, mới làm nên lời ru chảy mải miết theo năm tháng, mới sánh với làng chiếu B́nh Định và giường người Lào đất nước triệu voi có nhiều gỗ quư. Suốt dải đất miền Trung ai cũng biết thúng, mủng làng Bao La đựng được bột mịn không chảy và thời xưa người ta c̣n trét dầu rái trong ngoài thúng dùng gánh nước! Nay bà con Bao La không chỉ đan nia, giần, sàng mà đan nhiều sản phẩm khác phục vụ gia dụng và khách du lịch văng lai. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, Hiệp Hội Làng nghề Việt Nam đă cấp BẰNG CHỨNG NHẬN cho LÀNG NGHỀ MÂY TRE ĐAN BAO LA xă Quảng Phú, huyện Quảng Điền, t́nh Thừa Thiên Huế DANH HIỆU LÀNG NGHỀ TIÊU BIỂU VIỆT NAM.

     Chúng tôi về thôn Niêm Pḥ viếng Nhà lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và sang bên kia sông làng Phù Lai thăm nhà của nhà thơ Tố Hữu. Đại tướng bước vào cuộc đấu tranh cách mạng và trở thành danh tướng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Qua cầu, đi thêm một đoạn ngắn đến nhà lưu niệm nhà thơ Tố Hữu. Một ngôi nhà nhỏ được con cháu của nhà thơ xây lại nhưng chính nơi đây nhà thơ sinh ra và lớn lên. Trong đoàn có người kể một giai thoại: “Tố Hữu thấy một thanh niên mạnh khoẻ, tốt bụng lại có tinh thần yêu nước cao, Tố Hữu có ư kết nạp thanh niên ấy. Không ngờ lúc đó Nguyễn Chí Thanh đă Bí thư tỉnh uỷ!” Tôi hỏi cụ ông cháu ruột nhà thơ Tố Hữu. Cụ cười vui:

     “Chí Thanh, Chí Thuận mới là hướng dương”

     Uỷ ban xă đă có phương án kế hoạch di dời nhiều hộ dân nhường khu đất rộng làm khu lưu niệm nhà thơ Tố Hữu.

     Với vị thế là vùng châu thổ của những ḍng sông lớn, ven theo phá Tam Giang đầy tiềm năng với những băi cát trắng mịn màng ưỡn ḿnh trên bờ biển Đông dài thơ mộng và căng tràn nhựa sống, Quảng Điền là vùng đất ẩn chứa trong ḿnh nhiều giá trị lịch sử văn hoá quí giá, nhiều giá trị nhân văn cao đẹp, là nơi ghi lại nhiều dấu ấn quan trọng của lịch sử mở nước; đồng thời đây c̣n được xem là sự giao thoa, kế thừa phát triển kỳ diệu nhất của hai nền văn hoá nổi tiếng là văn hóa Sa Huỳnh muộn, văn hóa của người Chăm và văn hóa Đại Việt được biểu thị trên nhiều khía cạnh văn hóa vật thể và phi vật thể c̣n lưu giữ lại sẽ là tiềm năng to lớn để phát triển du lịch.

     Với những tiềm năng trên, có thể nói rằng Quảng Điền hội đủ các điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch với sự đa dạng và phong phú về loại h́nh, sản phẩm du lịch. Hướng dẫn khách du lịch đến với MIỀN HUYỀN SỬ CỔ TÍCH XANH.

 

     (Huế, tháng 7 năm 2009)

     []