Trần Thị Bông Giấy (biên soạn)
MARCEL PROUST, VÀ
“A LA RECHERCHE DU TEMPS PERDU”

(Bài 2)


           III.
           A la Recherche du Temps perdu là một tác phẩm đáng giá do bởi cái phẩm chất tự truyện mạnh mẽ và bởi những điều được tŕnh bày đă rất giống với chính những sự kiện xảy ra trong cuộc đời tác giả. Do đó không ngạc nhiên với điều rằng nhiều nhà phê b́nh khi khai thác tác phẩm đồ sộ này đă luôn luôn đặt ra câu hỏi có phải chàng Marcel trong tác phẩm với Marcel Proust là cùng một con người (?) trong khi ở đoạn kết của A la Recherche du Temps perdu, Proust lại cho “nhân vật Marcel chỉ mới bắt đầu với một cuốn sách” mà ông đă kết thúc?
           Thực sự, đó là một câu hỏi mà ngay cả Proust cũng đă khai triển rất tỉ mỉ. Khi luận về Balzac, tiểu thuyết gia tả chân vĩ đại của thế kỷ 19, Proust viết: “Tác phẩm là sự cấu tạo từ một bản ngă khác, khác hơn cái bản ngă chúng ta phô bày theo thói quen trong cuộc sống và trong những chứng tật riêng. Nếu muốn làm thế, chúng ta chỉ có thể thực hiện bởi cách kiếm t́m để sáng tạo lại cái bản ngă đó từ phần nội tâm sâu thẳm nhất của chính con người ḿnh.” Sự khám phá về cái “bản ngă giấu kín” đó là công việc cả đời mà Proust tự đặt để cho ông.
           Ngoài ra, giữa Marcel-người-kể-chuyện và tác giả đă có nhiều sự khác biệt. Marcel là một anh chàng bị chứng rối loạn t́nh dục (heterosexual), c̣n Proust lại là đồng t́nh luyến ái (homosexuel) –dù rằng những tính chất đặc biệt này được che đậy bằng văn chương. (Thực sự, giống như Proust, nhân vật Nam tước de Charlus mới là người mang chứng đồng t́nh luyến ái và thường t́m đến các nhà thổ đàn ông.) Hơn nữa, Marcel không có gịng máu Do Thái như Proust đă có. (Gịng máu này lại được thay thế vào chỗ của Monsieur Swann.)
           Từ đó, có thể nh́n A la Recherche du Temps perdu bằng cái nh́n của George Painter khi viết về tiểu sử Proust, rằng đó là một tác phẩm đứng độc lập riêng rẽ giữa những cuốn tiểu thuyết lớn bởi v́ nó “không phải chỉ là một tác phẩm tưởng tượng, mà c̣n là một bản tự truyện đầy tính sáng tạo.”
           Điều rơ ràng là Proust đă biến đổi tất cả mọi sự kiện mà vẫn không hư cấu ǵ ngoài cái chủ tâm cho thấy rằng cuốn sách được viết ra chỉ giống như moat “câu chuyện biểu tượng của đời” ông, qua đó, chúng ta thấy hầu hết các nhân vật, biến cố được tŕnh bày đă rất gần cận và đáng tin với cá chất phức tạp và những ǵ xảy ra trong lúc sinh thời của Proust. Chúng ta cũng biết, ngay cả lúc Proust đă chấp hành cuộc sống ẩn dật giai đoạn cuối đời th́ nhà văn vẫn đi ra ngoài, bó ḿnh trong hai lần áo ấm, để t́m kiếm các chi tiết xă hội, gom góp chất liệu từ những người hầu bàn ở nhà hàng Ritz, hoặc viếng thăm một nữ công tước để xin bà cho xem mọi cái nón đă lỗi thời của bà. Khi nhà văn thêm vài đoạn vào tác phẩm, như ông không ngừng làm thế, th́ điều đó giống như việc chúng ta thường đặt thêm vài con tem mới trong cuốn sổ lưu niệm tem. Proust t́m kiếm thế giới của ông, một thế giới mà ông biết rất rơ, bằng một cường độ và tính chính xác họa hiếm trên những dữ kiện thực tế. Nhưng A la Recherche du Temps perdu cũng là một sự nổi loạn chối từ tinh thần thực tế. Công việc cả đời này của Proust không những chỉ hồi phục lại, mà c̣n tái tạo lại, xây dựng lại những điều đă mất. Những nhận thức sắc bén về nghệ thuật, sự chuyển đổi đường lối sáng tác quả thật là những phẩm chất và mục đích chính yếu của tác phẩm.
           Trong vài cách thức, Proust đă chứng tỏ cho thấy rơ ràng một quan niệm lăng mạn về nghệ thuật. Nhà văn thường hồi tưởng lại trong sự tĩnh lặng những ǵ đă trôi qua, sống trọn vẹn với những hồi tưởng đó và nắm bắt tất cả những ǵ lóe lên từ trí nhớ. Thật vậy, mọi tiến tŕnh của tác phẩm là phơi bày sự chuyển đổi từ nhân vật hoặc bối cảnh thực tại vào trong đầu óc sáng tạo của một tiểu thuyết gia. Nhiều hơn những nhà văn khác, Proust đă bẽ găy cái di sản kế thừa để lại từ phái Hiện Thực (Réalisme) với tính trong sáng và chắc chắn trong ngôn ngữ của nó, để khai phá một khía cạnh sâu thẳm khác mà ông cho là “thật” hơn trong những lănh vực của nội tâm. Quả nhiên, có thể gần như xác quyết rằng trong những năm cuối đời, không những ông tự rút ḿnh ra khỏi một đời sống thường nhật thôi mà c̣n ra khỏi chính cái tự tiểu sử của ḿnh để trở thành thực thụ là một nghệ sĩ, một nhà văn.

*
* *
           Proust chào đời trong một gia đ́nh giàu có ở Paris vào đúng ngay thời buổi kinh hoàng của nước Pháp. Đó là năm 1871 khi xảy ra cuộc chiến Franco-Prussian (*) và Paris th́ đang bị quân đội Đức bao vây và oanh tạc dữ dội, đồng thời với sự xuất hiện của Công Xă Paris. Nền Đệ Tam Cộng Ḥa lúc ấy chưa được thành lập. Người cha, Louis Proust, xuất thân từ vùng Illiers-Combray, bên gịng sông Loire, là một bác sĩ phẫu thuật nổi tiếng xuất sắc, đă đạt được huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp. Mẹ Proust, Jeanne Weil, là con gái của một gia đ́nh Do Thái trí thức giàu có. Chính người mẹ với t́nh thương và sự ân cần vô hạn đă chi phối trọn cuộc đời nhà văn, tạo nên một sự lệ t́nh cảm thuộc trong Marcel Proust. Sự nương tựa này sâu đậm đến nỗi có một lần khi hai mẹ con chia tay nhau ở Venice th́ sau đó, cái h́nh ảnh của thành phố đầy tính nghệ thuật ấy đă bị vỡ tan trong tâm hồn nhà văn. (Cho măi đến khi xảy ra cái chết của mẹ vào năm 1905, Proust ít khi rời xa mẹ.)
           Proust được sinh ra tại nhà một người họ hàng ở Auteuil, gần Paris, khi người mẹ tới đó tạm trú trong những ngày Paris xảy ra biến cố.
           [Về sau Proust nhận ra sự suy nhược thần kinh và khuynh hướng đồng tính luyến ái trong chính ḿnh đă thực sự bắt nguồn từ những biến cố chung quanh nơi chào đời của ông và từ sự nương tựa t́nh cảm lớn lao vào mẹ; những điều này sẽ càng thêm đậm sắc từ chính ngay cái chết của người mẹ. Sự liên hệ mẹ con được viết lại và phân tích sâu xa trong tác phẩm; nổi tiếng hơn hết là cái bối cảnh trong đó cậu bé Marcel cố gắng thức khuya để chờ đợi cái hôn của mẹ trước khi ngủ, một bối cảnh t́nh cảm nổi bật nhất trong thế giới văn chương tiền bán thế kỷ 20. Nhà văn đă tŕnh bày trong phần cuối tác phẩm: ‘Buổi tối mà mẹ tôi bỏ quên tôi, cùng với cái chết từ từ của bà ngoại, đă đánh dấu trong tôi sự suy sụp vĩnh viễn của sức khỏe và những ước muốn.”]
           Chứng ho suyển đă đến với Proust khi ông mới lên 9 và kéo dài tới hết cuộc đời. Ngoài ra lớp phấn hoa mạnh mẽ của những hàng cây táo gai đă ngăn cản không cho nhà văn trở lại Combray vào những mùa nghỉ hè, làm thành một hiệu quả bi thảm trong tâm hồn Proust. V́ thế, trong A la Recherche du Temps perdu, vùng Illiers-Combray c̣n được đánh giá như một nơi chốn mất mát của tuổi thơ và là nguồn cội sắp xếp cho Proust một “sự đi t́m bắt lại” Thời Gian đă mất.
           Suy nhược thần kinh, sức khỏe yếu ớt, những điều đă gây xáo trộn không ít trong suốt cả đời Proust, nhưng đồng thời cũng tạo nên cho nhà văn một sự liên hệ chủ yếu với nghệ thuật. Theo Freud th́ bệnh trạng và nghệ thuật thường có một tương quan mật thiết. Proust chưa từng đọc Freud, bởi v́ bản dịch Pháp ngữ của tác phẩm Freud khi ấy chưa có, nhưng bao giờ Proust cũng thuộc vào môi trường của các bác sĩ và các nhà khoa học --những người biết rơ về ông-- và vào các giới văn chương lúc ấy đang rất say mê khoa tâm lư học hiện đại. (Nhà tiểu thuyết tâm lư Paul Bourget được xét đoán là nhân vật “nhà văn Bergotte” trong tác phẩm). Michel Butor cũng từng nói rằng Proust và Freud cùng theo đuổi trên một con đường nhưng song song hai ngă; người này hỗ trợ người kia trên những quan điểm hữu lư riêng biệt. Thiết tưởng, điều ấy đă có nhiều phần đúng. Proust diễn tả tác phẩm ḿnh như một người lặn ch́m trong vô thức, và một phần chủ đề trong A la Recherche du Temps perdu cũng là sự t́m kiếm về cái nguồn gốc của bệnh trạng tâm lư khởi đầu từ tuổi thơ, dần dà theo thời gian sẽ dẫn đến “sự thăng hoa” của nghệ thuật.
           Từ bé, Proust đă tỏ ra rất yêu thích văn chương nghệ thuật. Những quyển sách và những buổi hội chiếu đèn cho trẻ em đă đưa dắt ông tới “một thử nghiệm nhiều hơn sự quan sát trong ư thích b́nh thường”. Sự thâm nhập trong giới thượng lưu là một phần làm phát triển bản chất ham mê nghệ thuật đó. Lớn lên tại Paris, ông theo học ở trường trung học Condorcet và thích thú hưởng ứng trào lưu “Decadent” (Suy đồi) lúc ấy đang nổi dậy ở Paris. Đó cũng là bước đầu cho một khuynh hướng đồng t́nh luyến ái và cái thói quen trưởng giả màu mè (điều t́m thấy rơ rệt từ những xấp thư được Proust viết ra trong thời kỳ này). Người cha khuyến khích Proust theo đuổi một nghề nghiệp thuộc ngành ngoại giao, nhưng ông lại thích đóng vai tṛ của một kẻ ăn chơi và trở thành một tay tài tử trong giới văn chương thời ấy.
           Tại Paris, thường xuyên mặc hai chiếc áo dạ cùng lúc để giữ cho đầy hơi ấm, Proust là một khuôn mặt quen thuộc tại những quán café đại lộ thời thượng và trong các khách thính thượng lưu. Trẻ tuổi, tính t́nh cầu kỳ hợm hĩnh, nhưng nhờ lối nói chuyện dí dỏm lôi cuốn, ông lại rất được ḷng các bà chủ các buổi dạ tiệc. Với soạn nhạc gia Debussy, người được nhà văn ái mộ, th́ Proust giống như “một mụ già đài các hay thở hổn hển!” nhưng lại nổi tiếng là một tay chơi bảnh bao và suy đồi trong thập niên cuối cùng của thế kỷ 19. Và cho dẫu rất nhậy cảm, lại luôn có khuynh hướng tạo ra những rắc rối phiền nhiễu, ông cũng vẫn kết bạn được với nhiều người trí thức hiểu biết, cùng với họ tham dự những buổi thuyết tŕnh tại đại học Sorbonne, -đặc biệt những buổi của Henri Bergson, một người họ hàng của Proust. (**)
           Thập niên 1890, phái Văn Chương Tự Nhiên (Naturalisme) đă từng được củng cố bởi Emile Zola, bấy giờ bắt đầu tàn lụi ở Paris để nhường chỗ cho một trào lưu mới về chủ nghĩa thẩm mỹ và tư tưởng suy đồi, trong đó, cái tâm lư về ư thức, cái “ấn tượng” về nghệ thuật, được nổi bật. Năm 1884 J.K. Huysmans xuất bản cuốn tiểu thuyết suy đồi của ông, A rebours (Đối Nghịch Thiên Nhiên), nói về một nhân vật quư phái đă tự rút lui vào trong cái tháp ngà nghệ thuật và những cảm xúc riêng, trong sự nổi loạn chống lại thế giới hiện đại. Nhân vật nói trên được kể rằng đă rập khuôn theo h́nh ảnh Nam tước Robert de Montesquieu.(***) Đó cũng là cái ṿng mà bấy giờ Proust đang đặt chân vào. Chính vị Nam tước nổi tiếng với cái cá tính băn khoăn rất độc đáo đă (vô t́nh) được vẽ h́nh lại qua các nhân vật de Esseinter của Huysman và Nam tước de Charlus trong A la Recherche du Temps perdu.
           Năm 1896, Proust cho xuất bản tác phẩm thứ nhất, les Plaisiers et les Jours (Niềm Vui và Nỗi Tiếc Nuối), một tuyển tập thi ca, truyện ngắn và những bức phác họa theo đường lối Ấn Tượng. Lúc bấy giờ, ông đă bắt tay rồi với cuốn tiểu thuyết đầu tiên, Jean Santeuil, nhưng sau đó nó bị gạt bỏ, (năm 1953, lại được gom góp từ những trang bản thảo và cho xuất bản.) Jean Santeuil là một cuốn sách vừa đủ thú vị không chỉ đơn giản trên một câu chuyện kể thôi lại c̣n cho ra một thể thức căn bản và khởi nguồn của nghệ thuật; chứa đựng rất nhiều chất liệu. Hiển nhiên nó cũng là nguồn suối phong phú cho cái dự án “t́m lại thời gian đă mất” mà Proust sẽ đeo đuổi trong A la Recherche du Temps perdu về sau.
           Những bước kế tiếp th́ chậm chạp, tŕ hoăn. Nhà văn bắt tay với bản dịch một tác phẩm của Ruskin, phần lớn nhờ vào sự giúp sức của người mẹ trong việc sao chép giùm gịng văn chương bằng tiếng Ư của bản văn sang Pháp ngữ. Bà cũng đưa ông đến thành phố Venice, nơi chào đời của Ruskin; cỗ vũ nhà văn trên đủ mọi cách, đem cậu con độc thân đến những vùng suối nước nóng khi bệnh, trợ lực vai tṛ tài tử của ông trong cuộc sống xă hội phức tạp ở thủ đô Paris.
           Vào năm 1903, người cha qua đời. Hai năm sau, 1905, lại đến lượt cái chết của người mẹ xảy ra từ một cơn bệnh cảm mà bà vướng phải khi đem cậu con mảnh dẽ 35 tuổi đến dưỡng bệnh ở Evian. Cái chết của bà mang tính chất quyết định, tạo ra sự khủng hoảng và một khoảng trống sâu đậm trong suốt phần đời c̣n lại của nhà văn.
           Sau một thời kỳ sống trong viện điều dưỡng, ông dọn đến căn nhà của gia đ́nh trên đại lộ Haussmann; nơi đây ông trang bị một căn pḥng nổi tiếng với những hàng nút chai ngăn chận tiếng động, và bắt đầu cuộc sống ẩn dật.
           Trong nhiều năm Proust tiếp tục các cuộc du lịch tới nhiều thành phố, đặc biệt là Cabourg trong vùng Normandie, cạnh biển Manche. Ông duy tŕ sự thú vị sâu xa cho nghệ thuật (như sự thú vị theo những bước vũ ballet của người nghệ sĩ Nga tên Diaghilev, đến Paris tŕnh diễn như một cơn băo dữ dội vào năm 1910) và là thành viên của sân khấu nghệ thuật trong đó gồm luôn Ravel, Apollinaire, André Gide và Cocteau. Ông hưởng ứng những trào lưu hội họa mới, thân cận với những họa sĩ của phái Cubist, hiểu biết sâu xa theo sự mê hoặc những quan điểm của phái Trừu Tượng. Đồng thời ông cũng thành công trên những mối quan hệ đồng t́nh luyến ái, nổi bật nhất là với Alfred Agostinelli, người trở thành thư kư riêng của ông và trong tác phẩm được điển h́nh là nhân vật “Albertine”. Ngoài ra, Proust cũng khởi sự với nghề làm báo trên một tác phẩm phê b́nh thú vị, tựa đề Contre Sainte-Beuve (Phản Đối Sainte-Beuve). (Bản văn này được in ra vào năm 1954 sau khi Proust đă chết). Đó là một cuộc thách đố của Proust đối với những nhà phê b́nh đă không muốn nh́n nhận cái quá tŕnh sáng tạo, hoặc không thể hiểu được cái “ngă giấu kín” của giới nhà văn. Bài viết đặc biệt nhắm thẳng vào nhà phê b́nh Sainte-Beuve trên quan điểm giải thích của ông này theo tiểu sử Balzac.
           Cái bản ngă riêng của Proust càng được giấu kín hơn khi ông bắt đầu rút lui khỏi giới thượng lưu để tự đắm ch́m trong nỗi cô đơn, sự bệnh hoạn và trong thế giới của nghệ thuật. Ông tự nâng niu ve vuốt ḿnh, liên tục để cho căn pḥng xông khói thơm chống lại những cái mùi khó chịu. Vào ban đêm, ông thường bách bộ trên đường phố và thỉnh thoảng mới tham dự những buổi hội đông người. (Bấy giờ mới thật là lúc ông làm hành động “recherche” để t́m chất liệu cho tác phẩm). Cái tiến tŕnh này xem ra chẳng phải lạ lùng nếu như chúng ta nhớ lại nhiều nhà văn phái suy đồi cũng từng ca tụng sự khủng hoảng tâm lư, sự yếu đuối tâm hồn như một điều cần thiết để tự rút vào bên trong tháp ngà riêng, tạo cho ḿnh một thế giới phù hợp hầu có thể sáng tạo nên những cái mới trong nghệ thuật. Riêng trường hợp Proust c̣n có thêm sự bệnh hoạn, nên cái ư muốn rút ḿnh vào cuộc sống cô đơn càng thêm mạnh mẽ. Đó không hẳn chỉ là một sự tách rời khỏi xă hội --điều đă đánh dấu rất rơ cái nhịp điệu của giới văn chương Âu Châu thời ấy-- mà c̣n là một tháo gỡ sự sáng tạo riêng khỏi những phù phiếm của xă hội, mà sự bệnh hoạn chỉ là một biện minh cho hành động từ bỏ của Proust. Anh trai của Proust cũng là một bác sĩ tài giỏi, nên nhà văn có đầy đủ điều kiện thuận tiện trong sự chữa trị. Tuy nhiên ông vẫn thường xuyên từ chối sự chạy chữa, và sự chối từ này là một chứng cớ cho cái chết khá trẻ (51 tuổi) của ông. Quan trọng và chủ yếu hơn hết trong hành động ẩn dật chính đă nói lên cái ước muốn rút vào trong thế giới nghệ thuật để hoàn thành tác phẩm đă từng nhiều năm Proust đeo đuổi. Quả thật điều nói trên đă tạo được cho nhà văn và toàn thể cuộc đời một tác phẩm lớn, A la Recherche du Temps perdu.
           A la Recherche du Temps perdu từng được viết ra trong thập niên 1890 khi Prơust đang dấn ḿnh vào Jean Santeuil, nhưng cái chết của người mẹ trở thành khởi điểm cho một bước tiến mới trên tác phẩm.
           Tháng 7/1909 ông bắt đầu viết nó lại một cách có hệ thống, và năm 1912, bộ ba tập hoàn tất (đúng như cái dàn bài mà chúng ta đang có hiện nay). Quyển thứ nhất xuất hiện năm 1913, nhưng thế chiến I đă làm gián đoạn phần xuất bản hai quyển sau, cho phép Proust trở lui với những kéo dài trên tác phẩm. Bấy giờ nó lại chuyển sang là một “việc làm cả đời”. Những mảnh đoạn mới, những ư tưởng mới, những chủ đề mới rút từ chiến tranh không ngừng được bổ túc, đồng thời cũng làm suy đồi thêm cái sức khỏe vốn mong manh của Proust. Tuy nhiên, vẫn không điều ǵ có thể cản trở Proust trong sự làm việc; và suốt qua văn chương, ông phơi trải được hoàn hảo những cái ǵ mà ông đă bị đánh mất ngoài cuộc đời.
           Năm 1919, hệ thống xuất bản được hồi phục lại. Proust chiếm được giải Goncourt cho tập thứ hai. Bấy giờ bỗng dưng ông trở thành là một nhà văn nổi bật của thập niên 1920 trong số rất nhiều nhà văn của thời hậu chiến. Mảnh khảnh, bệnh hoạn, ông hưởng thụ danh vọng, đồng thời tỏ ra rất thích thú theo những trào lưu nghệ thuật mới đang tuôn chảy trong thời hậu chiến –như Picasso và phái Cubis, những con người được Proust nồng nhiệt tuyên dương trong tác phẩm. Tuy nhiên, A la Recherche du Temps perdu mới chính là ư nghĩa cao điểm chiếm hữu trí óc nhà văn, một công việc quan trọng hơn hết. Nhà văn cảm nhận được gần như trọn vẹn tới cái kết thúc của nó bởi v́ ông đă phô bày (qua giọng điệu Marcel) những điềm báo cho biết Sự Chết sắp đến, và ngay cả nói về chính ḿnh như thể một người đă chết. Dầu vậy, những ư tưởng hỗn hợp được thêm vào vẫn cứ tuôn chảy trên trang giấy như một gịng thác. Sự làm việc vẫn tiến hành một cách không nao núng cho măi tới điểm cuối cuộc sống. Từ sự chủ tâm ơ hờ với sức khỏe suy yếu để xả thân trọn vẹn cho tác phẩm, bộ A la recherche du Temps perdu đồ sộ gồm 7 phần, kết thành 13 tập, cuối cùng được kết thúc trong t́nh trạng như vừa nói ở trên.
           Vào ngày chết, 18/11/1922, lúc 3 giờ sáng, Proust gọi người hầu bảo viết thêm vào tác phẩm –một cách thích hợp vừa đủ- cái cảnh chết của nhân vật nhà văn Bergotte.

           IV.
           Proust đă làm hoàn hảo tác phẩm A la Recherche du Temps perdu như một trong những công tŕnh văn chương vĩ đại nhất của phái Hiện Đại. Trong lịch sử văn chương thế giới, cũng đă từng có những tác phẩm ngoại lệ được tác giả đặt trọn đời ḿnh vào để thực hiện. Nhưng chỉ vài trong số đó mới gây nên được một sự ám ảnh hoàn toàn đối với tác giả của nó. Sự t́m kiếm khởi đi từ vùng Combray của tuổi thơ kéo dài đến cuộc sống trong xă hội thượng lưu của thập niên 1920 là một nỗi ám ảnh lớn trong tâm hồn một tác giả ngoại lệ. Từ bởi một phẩm chất lạ lùng, một quan sát sống động, một xem xét phân tích rất đặc biệt, một sự ṭ ṃ không ngừng về tâm lư và lịch sử học; và cũng bởi cái cường độ ước muốn sâu xa về tính dục và t́nh cảm, Proust đă chuyển đổi A la Recherche du Temps perdu từ một loại hồi tưởng của kư ức sang một tác phẩm đầy tính nghệ thuật bậc thầy. Trọng tâm của tác phẩm có lẽ đă được đặt ở phần cuối, Thời Gian T́m Lại (Temps Retrouvé) khi điều “t́m lại” này bắt đầu đưa tới. Chiến tranh đă dứt và Marcel được đưa vào viện điều dưỡng. Một thời gian sau, anh ta trở lại Paris trong trạng thái tuyệt vọng theo sự thất bại của một trí tưởng tượng không đạt được đến đích sáng tạo của nó. Cái thế giới anh ta hiểu rơ th́ dường như đă trôi xa từ lâu lắm, một thời đại đă chia ĺa vĩnh viễn. Dù vậy, anh ta được mời tham dự một buổi tŕnh diễn âm nhạc tại ngôi nhà mới của Công tước de Guermantes trên Avenue du Bois. Trên đường đến đó, anh ta gặp lại nhiều người quen cũ, đặc biệt là cuộc gặp gỡ chớp nhoáng với chính ngay vị Nam tước de Charlus, người đang tiều tụy đau khổ v́ bệnh mất ngôn ngữ (aphasia), một kiểu sai khớp quai hàm khiến không nói được. Thế rồi, “cánh cửa duy nhất có thể vào” đột nhiên mở ra trước mặt anh ta với sự hài ḥa kỳ lạ:
           “Đầu óc quay ṿng với những ư tưởng ảm đạm, tôi bước vào cái sân của lănh địa Guermantes trong trạng thái lơ đăng nên đă không nh́n thấy một chiếc xe đang tiến về phía tôi; tiếng người tài xế la to và tôi chỉ c̣n đủ th́ giờ để nhảy lùi về phía sau, nhưng lại bị hụt chân v́ một viên đá lót đường lồi lơm. Thế rồi, đúng ngay cái lúc lấy lại được thăng bằng để đặt bước trên một viên đá thấp hơn những viên khác, tức th́ tất cả mọi chán nản trong tôi đều biến mất để nhường chỗ cho một niềm hạnh phúc chan ḥa theo những kỷ niệm của mọi thời kỳ trước đó vừa mới thoáng hiện trong óc tôi: “Những ngọn cây từng nh́n thấy trên đường đi Balbec, quang cảnh của hai cái gác chuông nhà thờ ở tỉnh Martin, mùi thơm của miếng bánh ngọt nhúng trong cốc nước trà, và tất cả những cảm giác khác ở trên tôi đă nói.”

           Quá khứ trở lại với Marcel như muốn nói rằng:
           “Hăy nắm bắt tôi trong khi tôi lướt đi nếu bạn có thể, và cố gắng tháo gỡ điều bí ẩn của hạnh phúc mà tôi đă đưa ra cho bạn.”
           Đoạn tiếp theo giây lát trên con đường lát đá là câu chuyện của sự tái sinh một cách rất nghệ thuật trong Marcel với một cảm nhận hoan hỉ về sự thấu hiểu mục đích t́m lại những ǵ đă mất. Anh ta bắt đầu sống lại tất cả. Sự đụng chạm của chiếc muỗng trong cốc nước trà đă mang trở lại tiếng chuông reo tại cái cổng vườn ở Combray, cảm giác mịn màng tạo ra từ chiếc khăn giấy mà Marcel từng lau mặt, đem anh ta trở lại Balbec. Trong khi phân tích các cảm tưởng này, anh ta bỗng chợt nhận ra sự đa dạng tổng hợp của mọi sự việc, và cảm nhận những giây phút quyết định của cuộc đời th́ cũng giống như những thứ khác nhau được bỏ chung trong một cái lọ đậy kín nút rồi đặt vào vị trí “ở những độ cao đạo đức khác nhau và tạo cho chúng ta cái cảm giác của một không khí lạ thường thay đổi.” Bất cứ tác phẩm nào (mà bấy giờ Marcel biết rằng ḿnh cũng có thể viết được) cũng phải cần thiết được thực hiện từ những chất liệu khác nhau. Những chất liệu này sẽ có một cái ǵ đó tạo nên được một thứ hạnh phúc. V́ thế, giây lát chủ yếu chính là đă bao gồm cả quá khứ lẫn hiện tại và được t́m thấy “từ một môi trường riêng giống như một ngơ thoát, có nghĩa là: Ở Bên Ngoài Thời Gian.”
           Đoạn kể sau đó là sự hợp nhất của những kinh nghiệm khác nhau mà tác giả đă khảo sát tỉ mỉ bên dưới cái nh́n của thứ “vô thời gian” ấy. “Cuốn sách nội tâm của một biểu tượng không có tên” trong Marcel bắt đầu được trau chuốt. Cuốn sách, Marcel nhận biết, không thể là một tác phẩm giống như mọi tác phẩm khác, mà chính độc giả phải là người khám phá nó.
           Để nhắm vào một sự thật vẫn c̣n đang xâm nhập vào giới tiểu thuyết hiện đại, người-kể-chuyện-Marcel đă viết: “Trong kết luận này, do bởi ư tưởng huyễn hoặc của cái gọi là nghệ thuật hiện thực, tôi tin chắc rằng nếu trong đời chúng ta không đạt được thói quen ghi ra những ǵ chúng ta cảm thấy sau khi đă có được nó, th́ chính cái nghệ thuật hiện thực đó phải không được diễn tả một cách giả dối.”
           Trong một đoạn văn dài đầy tính nghiên cứu và trích dẫn văn chương -điều rất bất thường với mọi tác phẩm, Marcel đứng trong thư viện nhà Guermantes, bày tỏ bằng một thái độ xúc động, hiểu biết nhưng cũng rất chỉ trích phê phán, về cái chủ đề nghệ thuật và cái tâm điểm h́nh thành của tác phẩm mà chúng ta đang đọc. Bối cảnh này được tiếp theo bởi một cơn thịnh nộ của các thính giả chung quanh. Rơ ràng là Marcel đă phơi bày không đúng cơ hội và vị trí những cảm nghĩ của ḿnh.
           Bấy giờ anh ta bèn nối kết với các quan khách tại buổi tiệc –để tự cảm thấy như ḿnh đang ở trong một buổi hội hóa trang mà mỗi con người anh ta quen biết đều có đóng một vai tṛ giả hiệu, mặt bôi phấn trắng, tóc nhồi đầy bột, trong “cuốn sách đời” anh ta đang cảm nhận. Thời gian đă tàn phá tất cả, không chỉ cá nhân, mà c̣n là xă hội và toàn thế giới. Một thành phố như Paris từng đă có thể bị xé nát bởi những khuynh hướng chính trị sôi nổi vào thời điểm xảy ra Vụ Án Dreyfus -bạn hữu tranh căi nhau, người thân ĺa bỏ nhau-; vậy mà cái gịng lạnh lùng của thời gian vẫn mang đi tất cả, phe thắng cũng như phía bại. Bây giờ, gặp lại nhau khi ai nấy đều đang đứng trên ngưỡng cửa của phần cuối đời ḿnh, những đam mê sôi nổi ngày xưa đă gần như nguội lạnh hết. Nếu thảng hoặc con người quay trở lại những nơi chốn mà họ đă từng yêu mến th́ quả thật là điều vô ích bởi v́ họ sẽ không bao giờ c̣n bắt gặp lại lần nữa trong chính họ những t́nh cảm xưa cũ; và cũng bởi v́ mọi điều như vậy bấy giờ không c̣n được đặt để trong không gian, mà là trong Thời Gian.
           Dưới mắt Marcel, buổi hội bỗng biến thành một cuộc tŕnh diễn múa rối lớn lao của thời đại, một sự mỉa mai trên T́nh Yêu và giới quư tộc. Tuổi tác đă lừa dối tất cả bọn họ, luôn cả với Marcel: “Tôi đă khám phá ra được hành động tàn phá này của Thời Gian ngay chính vào lúc tôi nhận thức ra cái hoài băo muốn làm cho những ǵ nằm bên ngoài Thời Gian được trở thành rơ rệt và chuyển đổi nó vào trong một tác phẩm nghệ thuật.”
           Trong cái đặc biệt và kỳ cục mà Proust đă sáng tạo cho bối cảnh này, trên những bước Khiêu Vũ Của Thần Chết đang dần đến với nhà văn, toàn thể xă hội thượng lưu và thế giới dục tính đă được xem xét kỹ càng dưới mắt người kể chuyện. Khi cuối cùng Proust cho quay về với cuốn sách của Marcel th́ đó không chỉ là nỗi ước muốn kiếm t́m một thời gian vô tận thôi, mà c̣n là tràn ngập những lời báo trước về Sự Chết của chính Proust. Với cái nh́n hai nghĩa này, nhà văn đă cho nhân vật Marcel trở lại với tiếng chuông cửa ngôi vườn ở Combray –vào đúng giây lát mà anh ta nói “Tôi thoát ra”. Bấy giờ anh ta biết rằng kư ức vẫn bám chặt lấy ḿnh, và anh ta có thể t́m lại nó lần nữa. Cái ṿng tṛn của cuốn sách trở nên hoàn hảo, nhưng bên trong cái ṿng ấy đă có nẩy sinh sự khám phá thiên hướng của một nghệ sĩ và một thể thức nguyên thủy cho “một cuốn sách nội tâm của một biểu tượng vô danh”. Những biểu tượng và những kư hiệu bí mật được t́m thấy trong vô thức, giống như sự vấp chân bởi những tảng đá trong làn nước của một người thợ lặn. Cuốn sách (của “Marcel”) bấy giờ không phải là một hồi kư hay một bản tự truyện, cũng không là một vật vô h́nh, mà là một tác phẩm đă được cấu tạo và lớn dậy từ trong sự mài giũa của nội tâm.
           Một cuốn sách cá nhân không phải là một điều đơn giản, như Marcel giải thích: “Công việc của tôi là diễn dịch cảm giác của ḿnh bằng cách lôi ra từ bên trong cái bóng tối nội tâm những ǵ tôi chỉ cảm nhận, để biến đổi nó sang vị trí tương đương của lănh vực trí tuệ. Xem ra với tôi, đó là phương pháp duy nhất, và phải chăng từ đó sẽ thoát thai ra được một tác phẩm nghệ thuật?”

           V.
           A la Recherche du Temps perdu, với tất cả trạng thái buồn rầu trong bối cảnh cuối cùng tại buổi tối ở nhà Guerman- tes, là một trong những tác phẩm phô bày rơ tính xác thực của nhịp điệu văn chương hiện đại. Nó được kết thúc trên cái nh́n sâu xa của Proust về Sự Chết, nhưng cũng trên cảm nghĩ về một sự làm mới tinh thần và một niềm tin theo uy lực của nghệ thuật. Thật vậy, Proust đặt hoàn toàn tin tưởng vào cái ánh sáng kỳ diệu của nghệ thuật, lộng lẫy như biển cả và êm đềm như đêm tối, điều đă nói lên từ những bức tranh treo trên các bức tường căn pḥng ngủ thân thiết và mở ra cuộc sống bên ngoài, vượt quá căn pḥng khách sạn, rạp hát, hoặc cái khách thính tại lâu đài gia đ́nh Guermantes. Với khoảng nh́n rộng này, Proust bị ảnh hưởng bởi phái Lăng Mạn và phái Ấn Tượng hơn nhiều nhà văn hiện đại khác. Sự tôn kính sâu xa mà ông dành cho giới thượng lưu tao nhă qua bức chân dung xă hội được ông vẽ nên một cách khôi hài nhưng thật rất sâu sắc, đă là một cái ǵ đó mà những nhà văn khác giải đáp cho chính họ nỗi hoài nghi về ông.
           Tính chất hiện đại của Proust đến từ sự rút lui lớn lao khỏi giới trí thức, khỏi tính ưa thích nhục dục, và khỏi những lư luận về nghệ thuật. Ông là một trong những người sáng tạo vĩ đại nhất dù rằng xem như ông chẳng sáng tạo chút nào cả ngoài việc nằm đó và hồi tưởng lại quá khứ.
           Quả thật với nền tiểu thuyết Pháp, sau thời kỳ của phái Hiện Thực (Realisme), Proust đă làm xong được một cuộc cách mạng toàn diện và cần thiết bằng tất cả những ǵ của riêng ông, giống như ông từng nói: “Những ǵ chúng ta không có để giải đoán hoặc làm sáng tỏ bởi sự cố gắng riêng, những ǵ vốn đă là sáng sủa trước khi chúng ta nh́n vào nó, th́ không phải là của chúng ta.”
           Để cho được công bằng, chúng ta phải nhận rằng sau khi A la Recherche du Temps perdu xuất hiện, ngôi vị sáng tỏ của nền tiểu thuyết hiện đại đă được phân chia giữa Proust and Joyce. Hai nhà văn gặp nhau chỉ một lần, tháng 5/1921, khi văn sĩ Anh, Stephen Hudson mời họ tham dự một buổi tiệc tổ chức cho các nhân vật tăm tiếng gồm nhà soạn nhạc Stravinsky, nghệ sĩ vũ ballet Diaghilev, Picasso, Proust và Joyce. Đó là một trong những cơ hội vinh dự hiếm hoi để những người được mời khó thể từ chối mà không tiếc nuối. Người ta nghĩ rằng Proust sẽ không đến, nào ngờ ông đă có mặt. Joyce đến trễ hơn, ăn mặc cẩu thả, và chỉ t́m tới để chào Proust khi họ chia tay nhau. Trong câu chuyện giữa hai nhà văn lớn của thời đại, Proust phàn nàn về chứng đau dạ dày của ḿnh và Joyce phàn nàn về đôi mắt kém của ông. “Tôi tiếc rằng đă không biết tác phẩm của Monsieur Joyce,” Proust đă nói. “Tôi chưa từng đọc tác phẩm của Monsieur Proust,” Joyce cũng nói. Giây lát hăn hữu của lịch sử văn chương thế giới đă trôi đi, giống như những giây lát như thế thường xảy ra trong sự dang dở như thế. Vào lúc mà tác phẩm Ulysses của Joyce xuất hiện năm kế tiếp, Proust đang trong t́nh trạng chống cự dữ dội với Cái Chết đang đến rất gần.
           Hai nhà văn lớn của hai thế hệ tiếp nối không bao giờ hoàn toàn gặp nhau, nhưng mỗi người vẫn tiếp tục trở thành bất tử trên con đường đầy uy lực dấu vết riêng mà họ đă tự tạo ra.



(Bài viết dành tưởng niệm đặc biệt TRÂN SA
và quăng thời gian đă mất...)

Cali, Mar. 12/2004
[]




(*) C̣n gọi là cuộc chiến Franco-Allemande (1870-1871).
(**) Henri Bergson (1859-1941), triết gia Pháp, nổi tiếng về sự sáng tạo trực giác, “kư ức vô t́nh” và thuyết siêu h́nh của thời gian.
(***) Nam tước Charles de Secondat Montesquieu, nhà văn Pháp (1689-1755).
Bài 1 | Trở về