Trần Thị Bông Giấy (biên soạn)
MARCEL PROUST, VÀ
“A LA RECHERCHE DU TEMPS PERDU”

(Bài 1)


I.
Từ tỉnh lỵ Combray hiền lành nhỏ bé, nằm trong thung lũng sông Loire miền tây nam nước Pháp, có hai con đường bắt đầu trên hai hướng hoàn toàn khác nhau. Trên một con đường, khách bộ hành sẽ phải xuyên qua cánh đồng và những hàng táo gai nặng trĩu, được rào giậu cẩn thận, đổ về hướng Me -seglise; rồi lại phải băng qua công viên Tansonville có căn nhà của Monsieur Charles Swann, một người trưởng giả giàu có, thành công với nghề buôn trái phiếu, đang sống với vợ và cô con gái tên Gilberte. V́ thế, con đường bách bộ này được gọi là con đường Meseglise hay con đường Monsieur Swann. Dân ở Combray không biết đến điều rằng Monsieur Swann là một người thời thượng có khiếu thẩm mỹ cao, có liên quan với xă hội thượng lưu Paris trong những năm thay đổi vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 thời Đệ Tam Đế Chế. Ông cũng từng là người yêu rất nồng thắm của một tiểu thư sang cả tên Odette, bây giờ là vợ ông. Do đó, con ngơ Monsieur Swann sẽ dẫn ra khỏi Combray, để đưa tới Paris với cái thế giới Do Thái trưởng giả của nó, nơi đă từng bị chấn động bởi những khuynh hướng chính trị chung quanh vụ án nổi tiếng của Dreyfus (*). Đó cũng là con đường dẫn tới đời sống văn chương nghệ thuật, những dạ tiệc âm nhạc của giới cao sang, nơi đó, người đàn ông giao thiệp rộng tên Charles Swann sẽ được thâu nhận. Nhưng con đường nhà Monsieur Swann cũng dẫn vào bên trong một thế giới tâm lư của những ước mơ t́nh ái, khiếu thưởng ngoạn mỹ thuật, chỗ nương tựa cho t́nh cảm và nhu cầu tinh thần.
C̣n con đường kia dọc theo bờ sông tới ṭa lâu đài của Công tước Guermantes, thuộc một trong những gia tộc quư phái và có uy quyền nhất ở Pháp, hậu duệ của Geneviève de Brabant, nhân vật đă trở thành huyền thoại. Đây là ngơ nhà Guermantes. Con đường này cũng đưa ra Paris và vùng Faubourg St-Germain thanh lịch. Nữ Công tước de Guermantes ít khi thấy xuất hiện tại Combray; những nhân dáng khác lại càng hiếm hoi hơn nữa. Ông bà công tước là những người thuộc hàng cao nhất trong giới thượng lưu. Con ngơ Guermantes này do đó dẫn ngược lên tới những phạm vi huyền diệu của sự giàu có, quyền thế, và địa vị. Tuy nhiên, bên dưới cái vẻ rực rỡ ấy cũng c̣n có những vấn đề riêng mà những người sống trong đó phải đối diện, báo hiệu cho thấy sự suy sụp chẳng những của một gia tộc mà c̣n của chung một xă hội vương giả. Một người họ hàng của bà Công tước là Nam tước de Charlus, một nhân vật đồi trụy với cái sở thích đồng t́nh luyến ái. Người cháu là chàng Robert de Saint-Loup đẹp trai, có số phận sẽ cưới cô Gilberte Swann làm vợ, về sau bị giết chết trên chiến trường của cuộc Thế Chiến I, điều đă làm sợ hăi và suy yếu giới quư tộc thời ấy trên toàn thể Âu Châu.
Hai con đường này từ đó đại diện cho những điều rất khác biệt trên đủ mọi lănh vực giữa hai lớp người: quư tộc truyền đời và trưởng giả mới. . Những quyền thế, địa vị từng được cầm giữ bởi giới quư tộc th́ đang bị xâm nhập bởi giới trưởng giả. Nhưng dẫu khác biệt, cả hai phía đều thực sự có chung một kết thúc. Một thời đại rực rỡ bị chấm dứt với cuộc Cách Mạng tháng 2/1848, và toàn thể xă hội thượng lưu hay trưởng giả mới đều sẽ thay đổi, từ phong tục tập quán cho đến nghệ thuật văn chương (như cái đám cưới của Robert và Gilberte mai sau, như người kể chuyện về . hai con đường. này và như cả cuộc sống của các phần tử chung sẽ được nói đến.)
Con người lần theo hai con đường –đầu tiên như một cuộc dạo chơi ngày Chủ nhật, và rồi như hai lối sống trên chính cuộc đời riêng– là nhân vật kể chuyện của một trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của giới văn chương tiền bán thế kỷ 20, A la Recherche du Temps perdu (Đi T́m Thời Gian Đă Mất) . của Marcel Proust. Cái ư tưởng về thời gian, về sự t́m kiếm, hay t́m kiếm lại là chủ đề cốt tủy của tác phẩm, bởi v́ cuốn tiểu thuyết hiển nhiên là một câu chuyện về thời gian đă mất –và mất trong hai cách:
1/ Mất, v́ nó đă trôi qua; cao điểm của nó đă tan biến, giống như h́nh ảnh một người t́nh lướt đi trong quá khứ và người ở lại không thể nào c̣n chụp bắt được cái xúc cảm mănh liệt của t́nh yêu.
2/ Mất, v́ nó từng đă bị lăng phí hay để lỡ cơ hội theo những phù phiếm, những đeo đuổi vô ích trong thời điểm thuở trước.
Tác phẩm --trong đó, toàn thể một xă hội được tŕnh bày rất sống động-- th́ không có cốt chuyện thực sự và những dữ kiện cũng không được cấu kết liên tục mạch lạc, nhưng nó vẫn có một chủ đề chính. Người kể cho chúng ta nghe câu chuyện về một cuộc hành tŕnh kiếm t́m Thời Gian đă mất từ trong thế giới kỳ diệu của tuổi thơ bằng cái nh́n của một người lớn trên “hai con đường” đầy những biến cố, kư ức này th́ không có tên, nhưng về sau, anh ta bảo độc giả hăy cứ gọi ḿnh là Marcel, dù rằng đó không phải tên thật của anh ta. Anh ta có họ gần với Marcel Proust, mà không phải là chính Proust. Anh ta là một người trung niên có học thức, sống trong một thời đại của những cỗ xe ngựa, những ngọn đèn dầu, những cây nến. Câu chuyện của anh ta là một câu chuyện về sự mất mát. Trong khi kể, anh ta nhớ lại những dữ kiện, con người, những căn pḥng trong đó anh ta từng ngủ, nhớ lại chính ḿnh khi c̣n là một đứa trẻ, nhớ lại bà ngoại và Madame de Saint-Loup cùng những nơi chốn –Combray, Balbec, Doncieres, Venice, Tansonville. Giọng nói khàn khàn xuất phát từ sự bệnh hoạn và tính trầm tư vang lên trong đêm tối để rồi những ǵ thuộc về nội tâm và ngoại tại sẽ biến mất cả đi theo những lời kể của anh ta.
Đó cũng là một câu chuyện về một cuộc đời được t́m kiếm lại, xem xét lại và sống trở lại. Cái sân khấu âm u của kư ức bắt đầu được xếp đặt. Những chiều không gian sẽ hiện ra và ḥa hợp chung trong cùng một thế giới. Giữa những lời kể ngắt quăng và mông lung, từng mỗi biến cố luôn luôn đứng ngoài, riêng biệt và rơ rệt trong trí năo người kể chuyện. Một cuộc đời đă lướt trôi và biến mất theo Thời Gian, giờ đang được t́m kiếm lại. Cuộc đời đó bắt nguồn ở Combray, nơi chốn trong sạch của những mùa hè tuổi thơ tại nhà bà cô Leonie của Marcel –nơi có những chùm chuông cửa rung lên mỗi lần khách đến, có giọng nói của Monsieur Swann loan báo về những cuộc dạo chơi ngày Chủ nhật dọc theo hai con đường, và giọng nói ấy đă khởi đầu . cho một âm vang ngân lên trong suốt chuỗi thời gian c̣n lại trong ngày. Cái âm vang sở dĩ được gọi rằng khởi đầu. là bởi v́ cuộc viếng thăm của Monsieur Swann sẽ tước đoạt đi của người kể chuyện những ân cần từ người mẹ, nói lên nỗi đau khổ trong chính cậu bé Marcel theo sự thiếu thốn một cái hôn giă từ của mẹ trước lúc vào giường ban đêm.
Ngay từ khởi đầu, nhu cầu nương tựa t́nh cảm và cái thần kinh suy nhược của cậu bé đă là hai yếu tố quyết định tạo thành cho câu chuyện một giá trị sâu sắc về sự phân tích tâm lư và sự truy lùng vào bên trong vô thức, đồng thời làm bén nhậy ư thức cần thiết và thiên hướng nghệ thuật của Marcel về sau. Cách cấu tạo, cái chiều sâu, cường độ dẫn đến sự giải quyết của tác phẩm cũng khởi đi từ đó. Marcel đă đặt bước trên hai “con đường”, một con đường của đời sống với những phức tạp của xă hội thượng lưu suốt qua nghệ thuật và sự phù phiếm, t́nh yêu và sự đua đ̣i; và một con đường t́m về quá khứ nội tâm để truy lùng chính bản ngă của anh ta.
Khởi sự viết cuốn sách thật phong phú vào năm 1909 bằng cách đi theo con đường của Monsieur Swann, Proust chủ ư chia nó thành ba tập. Tập một –Du côté de chez Swann (Con ngơ nhà Monsieur Swann)– . đă được xuất bản bằng tiền túi riêng vào năm 1913.
[Năm 1913 cũng là năm quyết định của giới văn chương Pháp tiền bán thế kỷ 20: André Gide với Les Caves du Vatican, Alain Fournier với Le Grand Meaulnes. và Valéry Larbaud với Barnabooth . đă bẽ găy truyền thống cũ của nền tiểu thuyết Pháp. Tập thơ Alcools. của Apollinaire cho thấy thi ca cũng tiến về trên một con đường mới. Nhưng không ai trong giới văn chương thời ấy có thể nghĩ rằng Marcel Proust lại sẽ là một trong những nhà văn lớn của thời đại. Ngay cả tờ báo tiên tiến Nouvelle Revue Francaise chuyên t́m ṭi và giới thiệu những tài năng mới, cũng không chấp nhận in tác phẩm của ông.]
Tập kế tiếp, le Côté de Guermantes (Con đường nhà Guermantes), . đă cho sắp chữ đâu vào đấy th́ cuộc Thế Chiến I đưa tới, làm hoăn lại sự xuất bản. Tuy nhiên điều tạm hoăn này đă có lợi cho Proust bởi ông sẽ có đủ th́ giờ để sắp xếp hoàn hảo cho toàn thể tác phẩm. Từ bản nguyên gốc gồm nửa triệu chữ, nhà văn đă kéo dài nó tới gấp ba lần thành con số khoảng hơn một triệu hai trăm năm chục ngàn!
Đó là một trong những biến đổi lớn của tư tưởng văn chương cuối thế kỷ 19, và được xét đoán là đáng giá hơn cái tác động của chiến tranh trong Ngọn Núi Kỳ Diệu. của Thomas Mann. Đối kháng lại với cái thế giới đầy hoa hồng của một cô gái –biểu tượng cho nỗi ước mơ thời niên thiếu của “Marcel”- là một thế giới của Sodome(**) và Gomorrhe tân thời với những t́nh cảm suy đồi trong một xă hội thượng lưu đang sụp đổ. Chiến tranh tự nó đă đẩy những kỷ niệm của Marcel xa hơn trong quá khứ và sắp đặt một quăng cách không thể băi bỏ giữa người kể chuyện với những cảm xúc nguyên gốc, chuyển lái những biến cố cấu tạo cuộc đời anh ta xuống sâu trong địa tầng hiện hữu. Chiến tranh cũng làm què quặt nhiều cuộc sống khác, đốn ngă thế giới thượng lưu, và gửi nhiều phần tử của họ vào cái chết trên chiến trường hoặc trong sự suy sụp t́nh cảm, (giống như sự suy sụp giọng nói đă làm đau đớn cho Nam tước de Charlus sẽ được kể ra trong tác phẩm). Chiến tranh cũng lại làm đầy câu chuyện của Marcel với những lo ngại xă hội, những cơn khủng hoảng đạo đức, những phân chia chính trị, những nghi ngờ cá nhân, và Sự Chết. Tỉnh lỵ Combray nhỏ bé hiền lành bị chiếm hữu và tàn phá bởi quân Đức trong thời kỳ đó. Thời Gian và Cái Chết trở thành mối ưu tư lớn, gây nên một nhu cầu sâu sắc trong sự t́m kiếm lại, tạo lập lại kư ức của người kể chuyện. (Quả nhiên, Proust đă duy tŕ sự viết câu chuyện cho đến ngày cuối cùng của đời ông vào ,năm 1922.)
           A la Recherche du Temps perdu . v́ thế đă được xét đoán là một công tŕnh to lớn giống như một ngôi giáo đường, như Proust đă tự nói, một lời châm biếm chế nhạo xă hội rất đặc biệt, và là một trong những tiểu thuyết tâm lư vĩ đại nhất của Con Người. Đó cũng c̣n là một tác phẩm với cái độ rộng và bề sâu vượt quá kích tấc thông thường của một tiểu thuyết –như chủ định của tác giả, bởi ông muốn nó sẽ là một quyển tiểu thuyết về cảm giác và cảm xúc, chứ không chỉ đơn thuần một bản văn ghi chép. Theo điều ấy, một nhà phê b́nh đă viết: “Proust xếp sắp để làm một câu chuyện vô nghĩa trở thành rất thú vị. Tác giả nói: ‘Hăy tưởng tượng, độc giả thân mến, ngày hôm qua tôi đă nhúng miếng bánh ngọt vào cốc nước trà y như vẫn thường làm ở vùng quê lúc tôi c̣n bé.’ Chỉ có vậy mà ông đă viết tới 8 trang, lôi cuốn đến độ bạn sẽ nghĩ ḿnh không c̣n đng vai độc giả mà chính là tác giả đang mơ mộng trở về với những kỷ niệm của ngày xưa.’” .< BR> Theo độ dài thời gian, qua A la Recherche du Temps perdu., năm tháng đè lên nhau, đan mắc vào nhau một cách rắc rối với những câu chuyện, những nhân vật, những thay đổi lịch sử và sự hiện hữu khác nhau của con người. Một Paris rực rỡ trong thời kỳ “belle époque” . (thời kỳ đẹp đẽ) bao gồm số đông quư tộc, hiện ra dưới mắt nh́n châm biếm của một cá nhân bé nhỏ. Edmund Wilson đă nói: “Proust có lẽ là nhà sử học vĩ đại cuối cùng của một t́nh yêu dành cho xă hội thượng lưu, cho văn chương nghệ thuật trong Căn Nhà Văn Hóa (Paris) Đang Sụp Đổ.” . Nó có thể được đọc như tác phẩm của một trí thông minh ngoại hạng với những thấu suốt về tâm lư rất đáng giá, những nghiên cứu trong phần sâu thẳm và đen tối nhất của tâm hồn, qua đó, cảm giác tự nó giải thích cảm giác của cảm giác, như Joseph Conrad từng nói: ‘Tôi không nghĩ có một điển h́nh nào đầy uy lực về phân tích tâm lư như A la Recherche du Temps perdu đă có, và tôi tin chắc rằng sẽ khó có tác phẩm thứ hai.” .
           Để hiểu tác phẩm, chúng ta cần phải nhận định về một xă hội Paris sáng lạn thời kỳ belle-epoque. và cái tinh thần hiện đại cùng một nhịp sống mới lúc ấy đang ăn dần bên trong giới thượng lưu và trí thức văn nghệ sĩ. Chúng ta cũng cần phải khảo sát những vấn đề liên quan đến t́nh ái, dục tính, tâm lư và thẩm mỹ của các giới này –luôn cả của chính tác giả- th́ mới thẩm thấu được cái chân dung khôi hài và mỉa mai kỳ lạ mà Proust đă vẽ ra. Đó là một loại họa hiếm trong văn chương: một bản tự tiểu sử của cảm giác con người chứ không hoàn toàn là tự tiểu sử; một nỗi châm biếm xă hội của một người đă rút lui khỏi xă hội; một tiểu thuyết về những địa lư rộng lớn mà không gian và nơi chốn đă bị ră tan trong cái thế giới của một thứ Thời-Gian-Vô-Hạn; một bức chân dung của một nghệ sĩ hiện đại đă không trở thành nghệ sĩ cho đến khi kết thúc tác phẩm nghệ thuật của ḿnh. .
           Do đó nếu nh́n “hai con đường” trong tác phẩm, chúng ta hẳn sẽ thấy ngoài cái thế giới thượng lưu với những chiều không gian của nó, đă c̣n có một cái ǵ khác hơn . Name bên dưới . lớp bề mặt của những điều vừa nói. Và đây là ư tưởng cốt tủy của Proust, một ư tưởng hiện đại (cùng thời với ư tưởng của Einstein, Mann, và Freud) về sự hồi phục những tác dụng kư ức bí mật đă ch́m sâu trong tiềm thức; truy tầm trong khoảng thời gian hướng nội những găy đổ và tính liên tục của việc “t́m lại” nói trên.

II.
“Một thời gian dài tôi thường đi ngủ sớm.” . Đây là câu mở đầu của A la Recherche du Temps perdu, một trong những câu ngắn và đơn giản dễ hiểu nhất trong tác phẩm. Chữ “thời gian” vang lên trong câu thứ nhất và rồi lập lại, lập lại suốt qua những câu kế tiếp của phần thứ nhất, (hoặc nói như Proust là “khúc mở đầu” –ouverture-, để nhấn mạnh cái nhạc tính cơ bản của tác phẩm). Người kể chuyện diễn tả những dao động của sự nhận thức như anh ta từng trải qua trong vô số “những đêm cảm thấy buồn ngủ mà không biết đă là như thế”:
“Một thời gian dài tôi thường đi ngủ sớm. Lắm lúc, tôi thổi tắt ngọn nến để đôi mắt bắt chộp được giấc ngủ nhanh hơn, đến nỗi không c̣n đủ th́ giờ để nói ‘Tôi đang sắp ngủ.’ Nửa giờ sau, ư nghĩ rằng ‘đă đến giờ đi ngủ’ lại làm tôi thức dậy; tôi cố đặt cuốn sách đang c̣n trên tay xuống. Trong giấc mơ màng tôi vẫn suy nghĩ về những ǵ mới đọc, nhưng rồi những ư tưởng biến vào trong luồng sóng riêng của chúng cho đến khi chính tôi dường như đă trở thành chủ thể của cuốn sách: một giáo đường, một bản tứ tấu khúc, một t́nh địch của hoàng đế Francis I hay Charles V...” .
Vào cuối đoạn một, độc giả đă bị đặt vào trong sự rối loạn của thời gian để không thể biết được khi nào . Hoặc ở đâu. bối cảnh đầu tiên này xảy ra; hoặc ở điểm thời gian nào người kể chuyện đang nói và từ điểm thời gian nào mà anh ta đang muốn bắt chụp lại . những ǵ đă mất đàng sau anh ta.
Bối cảnh thường xuyên là những buổi tối ở Combray; gia đ́nh tụ họp trong vườn; tiếng chuông cửa rung lên; cái màn được kéo. Monsieur Swann, một người bạn t́m đến thăm và sự kiện này đă tạo nên trong tâm tư cậu nhỏ Marcel một nỗi tràn đầy lo lắng: Monsieur Swann ở đó th́ cậu phải một ḿnh đi ngủ sớm và sẽ không được nhận cái hôn chúc ngủ ngon của mẹ.. Một đêm, cậu bị rơi vào một cơn khủng hoảng ghê gớm. Mẹ cậu phải t́m đến vỗ về và rồi ngủ lại ngay trong pḥng cậu. Biến cố này được kể với thật nhiều chi tiết phong phú, vẽ ra cho thấy toàn thể cái thế giới đă từng sống qua khi c̣n bé của người kể chuyện. Tuy nhiên, đàng sau đó cũng có ẩn chứa một cái ǵ khác nữa. Tiếng vang của cái chuông cổng báo cho hay sự có mặt của M. Swann trong trí nhớ Marcel (ở những trang cuối của Thời Gian T́m Lại -Le Temps Retrouvé) . đă làm thành sự bắt đầu của cuộc hành tŕnh dài mà “con người trung niên Marcel” đang sắp thực hiện trên mục đích “t́m lại Thời Gian.”
“Tôi không thể hiểu tại sao một người có thể bỏ ra tới 30 trang để diễn tả cách nào mà anh ta cứ lăn qua lộn lại trên giường trước khi ngủ”, . đó là lời phàn nàn của một nhà xuất bản đă từ chối không in Du côté de chez Swann . năm 1913.
Câu trả lời là khoảng thời gian giữa thức và ngủ . của người kể chuyện đă tạo nên một trạng thái đặc biệt, làm chế ngự tri thức và cảm giác anh ta; và rồi sẽ chế ngự toàn thể tác phẩm. Hơn nữa, câu mở đầu rơ ràng này không chỉ nói lên một -mà c̣n là hàng trăm bối cảnh, trong đó, độc giả không ở trong một thời gian, một nơi chốn, với một người kể chuyện hiện diện, lại c̣n rất nhiều những điều kiện như thế, tương tự cảm giác và trạng thái mà Proust đă có.
           Trong khúc mở đầu, sự cảm nhận về thời gian và không gian của Proust, chủ đề quán xuyến, phạm vi, nhạc tính, tất cả đều được phơi bày rơ. Bối cảnh “giờ đi ngủ” là phần duy nhất của đời “Marcel” ở Combray mà anh ta từng hồi tưởng. Ở câu thứ nhất, người kể chuyện không có tên mà c̣n lạ lùng do bởi không có vị trí xác định, đă nhắm đôi mắt ḿnh lại. Ơ. Û câu thứ ba, ư tưởng rằng “thời gian của lúc phải đi ngủ” . đă đánh thức anh ta khỏi giấc mơ màng. Anh ta tự hỏi, thời gian nào vậy? Có phải là lúc ở Combray? Có phải tất cả những phần kỷ niệm mà anh ta đă “đánh mất”, . hoặc chúng “đă chết”, . hay đă trở thành“quá khứ”? . Và anh ta bắt đầu nhớ lại những giấc ngủ và những lúc thức dậy khác, trong những căn pḥng khác, những cái giường khác, những nơi chốn đầy bóng tối khác. Anh ta cũng nhớ lại kỷ niệm một lần được mẹ trao cho một tách nước trà và anh ta nhúng cái bánh vào đó, một cái bánh Madeleine thơm dịu. Thế rồi đang khi nhớ lại cái mùi thanh thanh của miếng bánh thấm qua đầu lưỡi, đột nhiên anh ta nhận biết ra ngay lúc ấy cũng đang có một cái ǵ đó xâm nhập mạnh mẽ vào trí năo riêng:
           “Một niềm vui chan ḥa nhưng dị biệt, chơ vơ, không biết từ đâu tới, đă lan tràn giữa trái tim tôi. Ngay lập tức, những bước thăng trầm của cuộc đời với những nỗi bất hạnh, những huyễn tượng mong manh, tất cả bỗng trở thành xa lạ. Cái cảm giác mới mẻ này đă tạo nên trong tôi một hiệu quả ngây ngất, giống như sự ngây ngất mà T́nh Yêu đă từng đem đến. (...) Bấy giờ tôi không c̣n nghĩ ǵ đến những điều tầm thường hoặc ghê gớm nữa. Nhưng mà, niềm hoan hỉ lớn lao đó, từ đâu nó đă tới với tôi?” .
Bất chợt kỷ niệm hiện ra trong đầu anh ta. Kỷ niệm về mẩu bánh nhỏ được nhúng vào cốc nước trà mà khi c̣n bé, một buổi sáng Chủ Nhật, bà cô Léonie đă trao cho anh ta:
“Từ một quăng quá khứ xa xăm không c̣n ǵ tồn tại sau khi mọi con người đă chết, mọi sự vật đă bị bẽ găy tan tành đó, vẫn c̣n lưu lại độc nhất cái mùi vị thanh thanh thấm qua đầu lưỡi, mỏng manh nhưng thật nhiều sức sống, mơ hồ nhưng lại rất bền bỉ thủy chung. Nó lơ lửng tựa những bóng ma, như để sẵn sàng nhắc nhở chúng ta hăy nên chờ đợi và hy vọng giữa tất cả những tàn phá, cái giây lát xuất hiện của nó, điều chắc chắn sẽ làm nẩy sinh từ giọt nước cốt bé nhỏù và rất dịu mịn đó một cái cấu trúc rộng lớn trong sự t́m kiếm lại những ǵ đă bị cuốn trôi đi bởi Thời Gian”. .
Lập tức, anh ta theo dấu cái mùi thơm dịu; và toàn thể tuổi thơ bơi ngược trở lại trong trí nhớ riêng. Sự “bơi ngược” . này không phải mang lại những hồi tưởng đă bị trút đổ hết mọi năng lực, mà là một sự thuần chất, sống động và đầy cảm xúc như thể đă từng nhận từ nó một nguồn hạnh phúc lớn. Trong giây lát độc nhất đó, Thời Gian được chụp bắt lại, và cũng trong cùng giây lát đó, Thời Gian đă bị chế ngự, bởi v́ toàn thể dĩ văng đă được xếp đặt để trở thành của hiện tại. Những giây lát như vậy sẽ đem cho người nghệ sĩ cảm nghĩ rằng anh ta đă đạt lên tới điều “bất diệt” và sẽ không bao giờ c̣n quên “cái chuyển biến mới mẻ đầy nỗi hân hoan siêu phàm kia.” .
Những nhà văn khác (như Chateaubriand, Nerval, Musset) cũng đă có cái ư niệm mơ hồ về điều vừa nói, nhưng không ai trước Proust từng nghĩ đến việc sử dụng và biến đổi những phức tạp, những xúc động mạnh mẽ từ kư ức thành chất liệu chủ yếu để đưa vào tác phẩm của ḿnh.
Trọng tâm của A la Recherche du Temps perdu . không đặt vào bức tranh tŕnh bày một xă hội đặc biệt ở Paris vào cuối thế kỷ 19, cũng chẳng là bài học nghiên cứu mới về T́nh Yêu. Cái chủ đề sâu xa của nó đúng thật đă xoáy vào tâm điểm ước muốn của tác giả:
“Trong cuộc đấu tranh với Thời Gian trên con đường t́m kiếm một điều ‘không thể xảy ra’, kết quả tốt đẹp đạt được của Con Người không phải nằm trong cuộc sống hiện tại, mà chỉ là trong một tác phẩm nghệ thuật.” .
Phần lớn sự kiện đều được kể ở thời quá khứ liên tục. . Sự đặc biệt ở đây chính là tác giả không hoàn toàn đi sâu vào chi tiết từng sự việc -cho dù ông có là một nhà văn lớn về chi tiết- mà tất cả được chuyển vào trong cái đại thể, trên sự lập đi lập lại nhiều lần. Đó là những việc xảy ra “trong một thời gian dài”. Nơi chốn trở nên không gian chung chung, giây lát hiện tại biến thành kư ức; để cuối cùng, nhà văn đă xây dựng được cho chúng ta một bối cảnh sắp xếp dày đặc chi tiết một cách rất hài ḥa.
           Trong tác phẩm Ngọn Núi Kỳ Diệu, Thomas Mann đă           viết: “Không gian, giống như thời gian, làm thành tính quên lăng của con người; nhưng nhờ thế mà thân xác chúng ta mới thoát khỏi những bao vây chung quanh để có thể trở về với thuở sơ khai, với trạng thái không bị ràng buộc.” .
           Nhưng với A la Recherche du Temps perdu, . có một điều khác biệt là sự ḥa hợp giữa không gian và thời gian đă không khiến nẩy sinh sự quên lăng.
           Riêng Samuel Beckett lại nhận định rằng “Proust có một trí nhớ kém. Một người với một trí nhớ tốt th́ không nhớ bất cứ điều ǵ hết, bởi hắn đă không quên điều ǵ cả.”
           Một triệu hai trăm năm chục ngàn chữ đă nằm trong cái “trí nhớ kém” của Proust sẽ c̣n được kéo dài hơn nếu như không xảy ra Cái Chết –dù rằng đó là Cái Chết, như Proust nói rơ, làm hoàn tất sự t́m kiếm suốt qua mớ kư ức mỏng manh, một công việc cốt tủy mà ông đă thực hiện trong suốt cả cuộc đời ḿnh.
“Khi buồn ngủ” . Marcel kể, “tôi thấy giống như đang ở trong cái ṿng của một chuỗi mắc xích nối tiếp những giờ, những tháng, những năm, một loại thứ tự của một thân xác siêu phàm.” . Khi thức giậy, anh ta nghĩ đến tất cả những điều này, và “ngay lập tức nhận thức được vị trí riêng của tôi trên mặt đất, đồng thời cũng nhận thức cả thời gian đă trôi qua trong cái lúc tôi đang ngủ thiu thiu.” . Tuy nhiên, sự thứ tự này thường có khuynh hướng dễ trở nên rối loạn, bởi v́ sự ngủ đă chiếm chỗ của nơi chốn và làm chao lệch thời gian. Nó cũng là những mảnh đoạn ư thức, tạo nên cảm giác nửa thức nửa ngủ mà trong đó, con người không biết họ là ai; và đưa họ vào “trạng thái sơ khai, không bị ràng buộc” . (như Mann đă gọi):
“Hầu hết trong tôi chỉ là cảm giác phôi thai về sự hiện hữu, mong manh và ngấm ngầm như trong sâu thẳm ư thức của một con vật.” Đó là loại kư ức “không phải về một nơi chốn, mà là những nơi chốn khác nhau tôi đă ở qua và có lẽ bây giờ cũng đang sống”. Nó đến “giống như một sợi giây thừng thả xuống từ trời cao để kéo tôi thoát khỏi chính ḿnh”.
Kư ức cũng là những ǵ xây dựng không gian, tạo thành và làm rối loạn cái không gian trong đó chúng ta từng đă và đang cư ngụ, đồng thời tái tạo lại bản ngă bằng cách làm ly gián chúng ta khỏi thế giới của thói quen. Đó là một sự vô t́nh không chủ ư, một nhiệm vụ của thân thể và cảm giác:
“Cái kư ức (thân xác) đó, loại kư ức đa hợp về những mẩu xương, cái đầu gối, cái vai, xoay tṛn chung quanh trong bóng tối, đem lại cho tôi một loạt h́nh ảnh về những căn pḥng tôi từng đă ngủ và bây giờ lần lượt được nhớ lại.” .
Uy lực của loại “kư ức vô t́nh” này là một trong những chủ đề chính của tác phẩm; cái nút bấm cho nhiều bối cảnh then chốt của cuốn tiểu thuyết. (Ví dụ điển h́nh là mẩu bánh ngọt nhúng trong tách nước trà của Marcel đă mở ra một thế giới của thời gian đă mất.) Loại kư ức vô t́nh đó đă được Proust nhận định sâu sắc, bởi v́ nó không phải một sự vật được nhớ lại mà chính là giọng nói của con người, một tiến tŕnh hoạt động của sự nhận thức bằng cử động, “một tên phù thủy không bị kềm chế nên sẽ không bị thúc bách giục giă” . như Samuel Beckett từng nói.
           Kư ức vô t́nh là những ǵ làm cho thực tại trở thành xa lạ, chuyển đổi căn pḥng quen thuộc thành ra không quen thuộc và những kẽ hở trong ấy mở ra các cảm giác hoặc thói quen của những ǵ mà chúng ta thường gọi là thực tế. Nó cũng làm ră tan h́nh ảnh căn pḥng hiện tại chúng ta đang nằm và rồi tái tạo lại cho chúng ta các căn pḥng khác từng đă ngủ với tất cả cảm giác từng có trong đó. Nó nối kết cảm giác của thân thể chúng ta hiện tại với những cảm giác cùng loại trong quá khứ. Tuy nhiên, khi chúng ta đă trở nên “thức hẳn” th́ nó lại trở thành cái ǵ đó có nhiều tính phân loại hơn. Cho nên những ư nghĩ ban đêm của chúng ta thường rất thứ tự một khi kư ức đă được sắp đặt trong vận chuyển:
           “Như một định luật, tôi không cố gắng để ngủ ngay lập tức, mà thường trải qua phần lớn thời giờ để nhớ lại những quăng đời quá khứ tại Combray với bà cô già của tôi, tại Balbec, Paris, Doncières, Venice, và những vùng khác; nhớ lại lần nữa tất cả những nơi chốn và con người tôi từng biết, những ǵ tôi từng thấy, và những ǵ kẻ khác đă từng nói với tôi.” .
Đây là loại kư ức nhiều thứ tự và nó sẽ mở ra trước mắt chúng ta một quyển tiểu thuyết đích thật; bởi v́ tiếp ngay sau đó, Marcel đă đem chúng ta trở lại Combray và tuổi thơ của anh ta, cho chúng ta nghe một chuỗi chuông reo nơi cổng, đưa chúng ta cùng đi trên con đường dẫn tới “hai con đường riêng biệt” –từ đó, cái xă hội thượng lưu của cuốn tiểu thuyết sẽ khởi sự được phơi bày. Lại thêm rất nhiều kỷ niệm của người kể chuyện sẽ được đề cập, không phải để đưa tới việc cấu tạo một bài phóng sự mà là nói lean một ư thức. . (Proust đă cẩn thận phân biệt giữa kư ức vô t́nh và ư thức.) .
Ư thức. ví như cái vỏ bao bọc lấy cuộc đời mà chúng ta đang sống. Đó là một trạng thái được tạo thành, một thể thức của sự khám phá và sắp xếp mọi thứ một cách có nghệ thuật. Nó cũng là sự cảnh giác, một phân tích uy lực, một cố gắng để dàn dựng cho sự sống động của con người. Toàn thể các vấn đề thuộc về bản chất của ư thức. và tâm lư như trên là một trong những dấu ấn lớn lao theo cái nh́n “hiện đại” về sự hiện hữu của con người trong thời đại sống của nhà văn. Cái nh́n mới ấy đă làm thay đổi sâu xa thể thức và cách cấu trúc của những tiểu thuyết hiện đại, sáng tạo một thứ nghệ thuật về tính chủ quan, một sự thấu suốt vào phần nội tâm con người. Đại diện cho loại tiểu thuyết nói trên trong cuối thế kỷ 19 sang đầu thế kỷ 20 là Henry James, Virginia Woolf, James Joyce, William Faulkner và dĩ nhiên cũng gồm cả Proust. Virgnia Woolf đă nói về ư thức . như “một điều cốt tủy, cho dù chúng ta có gọi nó là đời sống hay tinh thần, sự thật hay thực tế.” .
Với tất cả những nhà văn vừa kể, ư thức. bao gồm cả hai mặt tâm lư và hiện tượng thẩm mỹ –có nghĩa rằng, nó không chỉ là một phương tiện để khám phá phần nội tâm con người thôi, mà c̣n đưa ra cái thể thức và cấu trúc khác lạ trên phần h́nh thức, -(như Woolf nói)- “thả lỏng nó trong nhiều cái ngă của chính nó”. . Mỗi người trong số các nhà văn nêu trên đă cung cấp cho chúng ta một cảm nhận khác nhau về những ǵ gọi là ư thức. theo bản chất tự nhiên của nó, phép phẫu thuật trên nó, ấn tượng tạo ra từ nó, những kỹ xảo phô bày và tính chất chủ quan của nó. C̣n bản Ouverture. của Proust lại là một bản nhạc ngợi ca hướng vào nội tâm, thăm ḍ thế giới tâm lư, và một tiến tŕnh nhắm tới đỉnh cao thẩm mỹ, bởi v́ A la Recherche du Temps perdu. đúng là một trong những tiểu thuyết thẩm mỹ cao nhất của con người.
           Do đó có thể nói rằng chủ đích phô bày về ư thức. này là con đường mà Proust đă dùng để xây dựng nên cái cầu bắc ngang giữa nghệ thuật và những kư ức tích lũy thành đống ở khắp mọi nơi, những hồi tưởng, những sự sống trở lại cảm giác cũ. Trong tác phẩm tư tưởng nghiên cứu khó khăn này, nghệ thuật (“điều chân chính nhất trong tất cả mọi thứ” . như Marcel đă gọi) có lẽ là sự gay go nhất. Trên một đoạn nổi tiếng, Marcel đă thách thức toàn thể giới văn chương hiện thực bằng câu nói: ‘Tài năng cốt ở trong tiềm lực của một nhà văn chứ không phải là trong cái phẩm chất được tạo ra từ một bối cảnh.” .
Dĩ nhiên bối cảnh mà Proust chiếu lại cho chúng ta thấy th́ rộng lớn và dầy đặc những vấn đề liên quan đến nghệ thuật thời quá khứ và hiện tại. Ví dụ những đoạn dài diễn tả những bức họa của Elstir (nhân vật do Proust sáng tạo trong tác phẩm) theo một phương pháp riêng mà chỉ ḿnh Proust có. Nó cũng bao gồm nhiều nghệ sĩ và các nhà thẩm mỹ: Monsieur Swann thành thạo về hội họa, nhà văn Bergotte, họa sĩ Elstir, và nhà soạn nhạc Vinteuil (mà những khúc nhạc nhỏ của ông đă vang lên suốt tác phẩm theo một thể thức riêng của chúng). . Những nghệ sĩ này đă giúp cho Marcel có được nhiều bài học chủ yếu về nghệ thuật.
Cùng lúc, bối cảnh cuốn tiểu thuyết được sắp đặt tại Paris, chốn gặp gỡ của nghệ thuật và giới thượng lưu, nơi mà nghệ thuật được ham mê trau luyện, những nhịp điệu văn chương mới luôn tuôn chảy và cuộc sống xuất hiện tại các rạp hát, các buổi đại nhạc kịch, các dạ tiệc tŕnh diễn âm nhạc; một Paris mà cho dù với cái chủ nghĩa bảo thủ của nó, th́ trong những năm tháng này vẫn là chốn nẩy sinh những khai phá mới về nghệ thuật, từ phái Ấn Tượng đến phái suy đồi (Decadence) từ phái Cubis đến phái Trừu Tượng. Cái xă hội thượng lưu tự nó cũng là điển h́nh cho nghệ thuật, cho sự thanh lịch và cả luôn sự giả tạo. Paris cũng c̣n là ông chủ và nhà bảo trợ (cho những con người ham mê học hỏi như Monsieur Swann trong sự được trau giồi kiến thức bởi giới quư tộc; và cho cả chính Marcel, kẻ đă t́m thấy một tổ ấm trong giới thượng lưu, rồi cũng t́m thấy chính ḿnh bị phân chia giữa hai “con đường” khác nhau.)
           Nhưng cuối cùng A la Recherche du Temps perdu . là câu chuyện về một sự khám phá bản ngă cá nhân trên mặt h́nh thức và về sự lớn dậy từ một tay tài tử sang một nghệ sĩ trong bản chất người kể chuyện. “Trí óc con người không bao giờ được thỏa măn trừ phi nó có thể thực hiện một sự phân tích rơ ràng về những ǵ mà nó đă sản xuất ra trong vô thức.” . Proust viết như vậy trong một bài tiểu luận.
Tác phẩm của ông là một sự suy xét không ngừng trên tiến tŕnh sáng tạo của nghệ thuật. Theo độ dài thời gian, nó sẽ đạt được cái kết quả tổng thể của điều suy xét ấy, giống như sự “trở thành nhà văn” của người kể chuyện Marcel ở phần chót cuộc đời.
Vào cuối tác phẩm, Marcel cảm thấy già và bệnh hoạn. Anh ta được gửi vào viện điều dưỡng và cảm nhận mạnh mẽ về Sự Chết. Thế giới tưởng tượng của anh ta đă bị cằn đi và những kư ức bị đặt lên một quăng cách mới. Dù vậy, công việc của một đời này dường như sáng tỏ hơn, và những điều đă từng khiến anh ta loay hoay trên nhiều cách h́nh như đă đạt được đến điểm đích của nó. Con ngơ nhà Monsieur Swann và con ngơ nhà Công tước Guermantes, không gian và thời gian, kư ức và ư thức, tất cả bắt đầu kết lại với nhau trong cùng một thể cách. Quả nhiên, Marcel bởi sự sống suốt qua chúng, và Proust, bởi sự viết về chúng, cũng bắt đầu nhập thành một. Mọi sự kiện đă được dẫn dắt bởi hai con đường khác nhau để cùng đến chung một điểm kết thúc mà ở lúc khởi sự tác phẩm, nó đă không được tiên liệu. Những gịng hồi tưởng trở thành là một tác phẩm, và người kể chuyện ngay lúc thoạt đầu đă mơ mộng rằng anh ta là đối thể của tác phẩm ấy, bấy giờ trở nên tác giả của nó. Những suy xét t́m hiểu về hai con đường khác nhau đă giúp anh ta nhận ra thiên hướng của đời ḿnh:
“Cuộc đời thật, cuộc sống cuối cùng đă khám phá được và trở nên sáng tỏ, cuộc sống độc nhất vẫn c̣n thực sự sống là cuộc sống của một nhà văn”. .
Ở đoạn kết, giống như nhiều cuốn tiểu thuyết hiện đại giá trị khác, sự tồn tại cuối cùng của một tác phẩm và bức chân dung của một nghệ sĩ đă được tŕnh bày rơ nét trong A la Recherche du Temps perdu.. Trong một ư tưởng hiện đại rất nghịch lư, Marcel đă chấm dứt những lời kể của ḿnh bằng cách bắt đầu với một cuốn sách mà anh ta thực sự đă hoàn tất: .
“Trong sự nhận thức về bước tiến đến gần Cái Chết của ḿnh, tôi giống như một người lính đang sắp chết, và cũng như hắn, trước khi chết, tôi phải có vài điều ǵ đó để viết.” .





(* ) Alfred Dreyfus (1855-1953), sĩ quan kỵ binh Pháp, con trai của một nhà công nghiệp người xứ Alsace gốc Do Thái. Tốt nghiệp Đại Học Bách Khoa Paris, ông vào quân đội và được thăng lên tới thiếu tá. Tháng 10/1894, cục t́nh báo Pháp t́m thấy trong cái giỏ giấy của viên sứ quán lục quân Đức ở Paris, tên Schwartzkoppen, một phong thư nặc danh, trong có bảng danh sách liệt kê những tài liệu mật về quốc pḥng. Dreyfus, một sĩ quan gốc Do Thái, bị cáo buộc là kẻ đă cung cấp những tài liệu mật ấy, lấy cớ rằng chữ viết tay trên bảng danh sách và chữ viết của riêng Dreyfus đă có những điểm giống nhau. Dẫu không nhận, nhưng Dreyfus vẫn bị khép vào tội dọ thám cho địch và bị trục xuất khỏi quân đội, lưu đày tới đảo Diable trong vùng Guyane.
Tin chắc rằng Dreyfus vô tội, em trai ông, Mathieu Dreyfus cùng với sự tiếp tay của kư giả Bernard Lazare, cố gắng chứng minh rằng những lời buộc tội chỉ là vu cáo theo chiều hướng bài Do Thái của những kẻ đố kỵ với anh ḿnh, nhưng không thành công.
Ngày 13/1/1898, Emile Zola xuất bản trong tờ l’Aurore một lá thư bộc bạch, gửi lên tổng thống Cộng Ḥa tựa đề “l’ Accuse” (Người Bị Kết Án), tấn công mạnh mẽ viên thiếu tá Esterhazy, kẻ đă cáo buộc Dreyfus mà không nêu rơ bằng chứng. Thế là sự việc trở nên lan rộng với tính cách chính trị. Bài báo của Zola đă tạo nên một tiếng vang lớn, dữ dội đến nỗi làm phẫn nộ quần chúng, tạo thành những cuộc bạo động (tháng 2/1898). Có hai luồng ư kiến bênh và chống Dreyfus nổi lên. Phía thứ nhất kêu gọi nhân quyền, tự do cá nhân, sự thật và công lư, đại diện cánh tả. Phía thứ hai đặt để trên hết là sự lợi ích quốc gia, danh dự quân đội.
Nhân lá đơn xin tái xử đă gửi đi ngày 5/7/1898 của gia đ́nh Dreyfus, vị tổng trưởng chiến tranh mới tên Godefroy Cavaignac bèn đ̣i hỏi một sự giám định lại bản tài liệu mật, nguyên nhân của sự kết án và lưu đày Dreyfus. Vào tháng 8/1898, người ta khám phá ra rằng những tài liệu kia chỉ là giả tạo được sáng chế bởi trung tá Henry, người đă tự tử sau đó không lâu tại núi Valérien.
Tháng 9/1899, trong cuộc tái xử bởi hội đồng chiến tranh ở Rennes, tội trạng Dreyfus được giảm khinh thành 10 năm cấm cố. Sau đó ít lâu, ông được xá miễn, trả lại tự do, nhưng bản án vẫn không xóa. Măi cho đến ngày 12/7/1906, trong phiên ṭa phá án họp tại Rennes, dưới quyền xét xử của tổng trưởng Waldeck Rousseau, Dreyfus mới được trắng án và cho phục hồi danh dự cùng địa vị vào tháng 7/1906. Trở lại quân đội, ông được tưởng thưởng huân chương Bắc Đẩu bột tinh và thăng cấp đội trưởng đội kỵ binh. Ông kết thúc cuộc đời binh nghiệp của ḿnh với chức vụ Trung tá trong cuộc Thế Chiến I. (Chú thích của TTBG).

(**) Sodome và Gomorrhe là hai thành phố cổ cùng với những thành phố khác ở miền nam Biển Chết, bị tàn phá bởi cơn đại hồng thủy vào năm XIX trước Tây lịch. Theo các nhà khảo cổ th́ nơi đây đă từng xảy ra một trận địa chấn dữ dội. Nhưng theo truyền thống cổ xưa th́ đó là những thành phố bị Thượng Đế đổ xuống những cơn mưa lửa để trừng phạt sự vô luân sa đọa và sự dị giáo của dân chúng. Bây giờ nó được gọi là Sodom, thuộc Israel, phía tây bắc của xứ Néguev, gần Biển Chết. (Chú thích của TTBG)
Bài 2 | Trở về