Trần Thị Bông Giấy

 

DOSTOIEVSKI, 
VÀ NHỮNG BƯỚC GIAN NAN 
TRONG THỜI TUỔI TRẺ

 

(Trích NHỮNG MẨU RỜI DẤU ÁI Tập V)

(Kiến Thức Văn Học)

 

 

 

DOSTOIEVSKI VÀ TƯ TƯỞNG CÁCH MẠNG

 

 

          I.

          Giữa thế kỷ 19, học thuyết của Proudhon(1) và Fourier(2) du nhập vào nước Nga như một luồng gió mới. Dostoievski đâm ra say mê những tư tưởng tân kỳ ấy. Ông viết cho Mikhail:

          “Chủ thuyết Fourier là một hệ thống ḥa b́nh: nó quyến rũ tâm hồn con người bằng sự tao nhă, hấp dẫn trái tim bởi t́nh thương nhân loại và làm ngạc nhiên trí óc với sự hài ḥa cân xứng của nó. Nó lôi kéo được mọi người không bằng vũ lực mà bằng tính nhân ái tự nhiên. Trong hệ thống này không có sự hận thù.”

 

          Sau cuộc đổ vỡ với nhóm Belínski, Dostoievski vẫn là một người mang tư tưởng cấp tiến theo khuynh hướng thân Tây Âu và bắt đầu t́m kiếm những người bạn mới.

          Tháng 1/1846, thời gian ngắn sau khi Belínski cho chào đời bài chỉ trích kịch liệt tác phẩm Nhị Trùng của Dostoievski, nhà văn kết giao với ba anh em Beketov và tham dự các cuộc họp của nhóm họ, chủ xướng là Aleksei Beketov, một bạn học trong trường Công Binh ngày cũ. Những cuộc tṛ chuyện sống động diễn ra; những tin tức về văn chương được trao đổi. Họ hay đi dạo với nhau. Grigorovich kể lại:

          “Một lần, cả nhóm đồng ư dấn ḿnh vào một cuộc dạo chơi tập thể, thoạt tiên đi bộ đến nhà Pargolovo, sau đó trải qua suốt đêm trên núi Salutation nh́n xuống hồ nước.”

          Bác sĩ Yanovski cũng kể:

          “Trong các buổi họp mặt, Dostoievski thường phê b́nh các nhân vật trong các tác phẩm của Tourgueniev và Gogol, luôn cả nói về tác phẩm Ông Prokharchin của ḿnh bằng một kiểu phân tích tỉ mỉ rất khác thường. Sau đó mọi người tiếp tục hát ḥ, nhưng phần lớn là bàn căi về văn chương cho đến 3 giờ, có khi 4 giờ khuya”.

          Giống như Dostoievski, những người bạn trong nhóm Beketov đều ủng hộ nồng nhiệt chủ nghĩa xă hội không tưởng, “chửi bới sự đàn áp bất công”, luôn cả cố gắng thực hành hóa tư tưởng Fourier bằng cách thành lập một công xă.

          Hiển nhiên, chẳng ai khác hơn anh chàng Dostoiesvki khố rách là người đưa ra ư kiến ấy. Với 35 rúp một tháng, Dostoievski được cung cấp pḥng riêng, trà và bữa ăn tối.

          Qua những lá thư nhà văn viết gửi Mikhail, người ta biết rằng công xă hoạt động rất tốt, ít nhất là cho Dostoievski.

          “Đây là những con người có cá tính mạnh, thông minh và tốt bụng. Em thấy thật thoải mái với họ.” (Thư viết cho Mikhail vào cuối tháng 11/1846).

 

          Giữa các nhà văn trong nhóm Beketov, Dostoievski đặc biệt thân với thi sĩ Aleksei Plescheyev và hai anh em Maikov (Valerian, nhà phê b́nh văn chương, và Apollon, thi sĩ). Ông bị lôi cuốn theo những lời tuyên bố say mê về yếu tố cơ bản của xă hội chủ nghĩa Kitô giáo. Ông cũng cảm thấy an ủi và hoan hỉ khi mà trong một bài viết, Valerian Maikov đưa ra quan điểm bênh vực Dostoievski để chống lại nhóm Belínski:

          “Cả hai Gogol và Dostoievski đều mô tả thế giới thực tại, Gogol chủ yếu là một nhà văn xă hội, và Dostoievski trên hết là một nhà văn tâm lư.

          Với Gogol, cá nhân có nghĩa là đại diện cho một xă hội riêng biệt; c̣n với Dostoievski, xă hội quan trọng hơn do bởi những tác động của nó trên cá nhân”.

          Maikov tập trung vào nét độc đáo nổi bật của các tiểu thuyết Dostoievski: “Xă hội được mô tả qua sự nhận thức của các nhân vật”.

          Trong khi với Belínski, điều nói trên tiêu biểu cho một sự lạc lối từ những yếu tố cơ bản của phái Tự Nhiên th́ Maikov tin tưởng ngược lại rằng sự chủ quan hóa về bức tranh xă hội này thật đáng ao ước bởi nó làm tăng sinh lực cho trường phái Tự Nhiên.

          Ông cũng kết tội Belínski là độc tài cứng rắn, không cho phép các nhà văn có cơ hội để tự khai triển theo nguồn ánh sáng riêng trong chính con người họ.

          T́nh cảm của nhà phê b́nh “thông minh và đầy hứa hẹn” đă giúp Dostoievski t́m hiểu chính ḿnh rất nhiều trong thời kỳ khủng hoảng ấy.

 

 

          [Mùa hè năm 1847, cái chết v́ tai nạn xe cộ của Valerian Maikov đă là một mất mát đau đớn cho       nhà văn bởi có lẽ ông là nhà phê b́nh duy nhất đă hiểu được mọi nguyên ủy các tác phẩm thời kỳ đầu của Dostoievski. Suốt cuộc đời c̣n lại, Dostoievski vẫn lưu giữ và trân trọng t́nh      bạn đă kết với nhà phê b́nh trẻ tuổi này.]

 

 

 

          II.

          Đầu năm 1847, hai anh em Maikov di chuyển đến lưu trú ở Kazan. Nhóm Beketov bị giải tán. Lập tức, Dostoievski được giới thiệu đến một ṿng giao thiệp mới, tụ tập tại nhà Nikolai Maikov, một thành viên sáng giá của Viện Hội Họa Điêu Khắc và là cha ruột của anh em Maikov.

          Ngôi nhà đẹp trưng bày nhiều bức họa chân dung phụ nữ tọa lạc trên đường Morskaya đă là một trong vài nơi nổi tiếng nhất thành phố Pétersbourg dạo ấy. Tại đây, Dostoievski thu thập được một sự hiểu biết phong phú về triết học và hội họa cổ điển.

          Cũng có lẽ ở đây, nơi mà tinh thần về thế giới cổ xưa xem ra quá sống động, Dostoievski chợt thấy thoáng hiện quan điểm của ḿnh về một thời Hoàng Kim của sự trong trắng và hạnh phúc, ḥa b́nh và khoan thứ, trước khi con người biết thế nào là chiến tranh, tội lỗi và điều Ác.

          Mê mẩn tâm hồn bởi những tư tưởng xă hội chủ nghĩa không tưởng, Dostoievski tin rằng điều thực hiện quan điểm này sẽ không phải khó khăn. “Những thử thách đă qua rồi, bây giờ thời đại Hoàng Kim đang bày ra trước mắt”, Dostoievski đă phơi tỏ như thế trong bài viết về Pierre Joseph Proudhon.

          Nhưng, ḥa b́nh và sự khoan dung của thời Hoàng kim vẫn c̣n xa thăm thẳm, nên ngay cả trong chốn tao nhă quy tụ toàn những người học thức ấy, Dostoievski vẫn là người thường hay chủ xướng những cuộc tranh căi dữ dội. Tháng 5/1848, nhà văn đă viết cho bà chủ nhà Maikov những lời biện hộ như sau:

          “Xin bà tha thứ cho tôi. Ngày hôm qua tôi đă gây ra trong ngôi nhà bà một t́nh trạng rất tồi tệ. Tôi không thể tự chế với bản năng ḿnh, và ư thức rằng sự yếu đuối trong cá chất tôi có thể bùng lên giây phút nào đó một cách quá độ.”

 

 

          III.

          Mùa Xuân 1847, qua sự giới thiệu của thi sĩ Pleshcheyev, Dostoievski quen biết với một nhóm người trẻ gồm các nhà văn, nhạc sĩ và các nhà phân tích chính trị cấp tiến, dẫn đầu bởi Mikhail Petrashevski.

          Mikhail Butashevich Petrashevski sinh cùng năm với Dostoievski (nhưng trước sáu tháng). Năm 1846 ông đă nổi tiếng trong toàn St. Pétersbourg v́ cách cư xử lập dị và nổi loạn của ḿnh. Ông thường lang thang khắp thành phố trong chiếc áo choàng to lớn và ảm đạm, dáng vẻ “trí thức nhiều hơn lịch duyệt”. Chính cái kiểu cách kỳ quặc riêng này đă lôi cuốn sự ṭ ṃ của rất nhiều người Pétersbourg. Ông từng bị tiếng có lần xuất hiện trong một buổi lễ nhà thờ với trang phục đàn bà và quỳ gối cầu nguyện với các phụ nữ. Dân chúng phẫn nộ phỉ báng và cảnh binh được gọi đến. Một sĩ quan hỏi: “Thưa bà, có phải bà là một người đàn ông trá h́nh không?” Petrashevski trả lời một cách xấc xược trước khi biến mất trong đám đông: “C̣n ông hiển nhiên là một người đàn bà trá h́nh!”

          Petrashevski xuất thân từ trường trung học nổi tiếng Alexander Lyceum trong Tsarskoye Selo. Nơi đây, ông được xem là một học sinh có hành vi và tư tưởng nổi loạn. Về sau, ông theo học Luật ở đại học Pétersbourg. Chính nhờ điều này mà sau khi ra trường, ông được bổ nhiệm chức vụ thông dịch viên trong Bộ Ngoại Giao.

          Giống như Dostoievski, Petrashevski sớm trở nên say mê thuyết xă hội chủ nghĩa không tưởng của Fourier. Mùa Xuân 1846, gặp nhau trên đường phố, Petrashevski bắt chuyện cùng nhà văn và muốn biết tư tưởng ông thế nào trong tác phẩm kế tiếp. Cả hai trở thành sơ sài quen biết.

          Phải đến một năm sau, Dostoievski mới bắt đầu tham dự những buổi họp tối thứ Sáu tại nhà Petrashevski.

          Vào mỗi tối thứ Sáu, nhóm người trẻ học thức này tụ họp trên căn gác thượng để cùng uống rượu vang và hội thảo về đủ mọi vấn đề: chiều hướng văn chương hiện đại, sự cùng khổ của lớp người nghèo khó, quyền lợi của nông dân, sự lạm quyền của hội đoàn tôn giáo. Đặc biệt, sự chênh lệch giai cấp xă hội là chủ đề được nói đến nhiều nhất.

          Con người nóng nảy Nikolai Mombelli đưa ra câu hỏi:

          “Chúng ta đă chứng kiến những ǵ trong nước Nga? Hàng triệu dân chúng sống trong những điều kiện đau khổ kinh khủng, không có lấy được những quyền hạn cơ bản của con người, trong khi ấy, một số ít đẳng cấp lại  đắm ḿnh trong xa hoa và hoang phí.”

          Mombelli dẫn chứng:

          “Mọi thú vui của Hoàng đế chỉ là kết tạo trên những mẩu bánh ḿ đáng thương, trộn lẫn           với rơm, làm nên miếng ăn hằng ngày cho các nông dân tầm thường trong quận lỵ Vitebsk.”

          Các luận thuyết của Fourier và Proudhon được nhóm này nghiên cứu kỹ với mục đích t́m cách xây dựng lại một xă hội loài người trên tất cả ư nghĩa cao đẹp của nó. Họ cũng bàn bạc chặt chẽ đến cách thức tái tạo một đời sống mới cho dân chúng Nga, dựa trên hy vọng rằng dân tộc có thể bắt kịp những tư tưởng tiến bộ của Âu Tây.

          Tuy nhiên, họ chủ trương phản đối bạo động.

          Họ cũng nói đến sự thừa nhận quyền tư hữu cá nhân và thành lập thứ bậc giới lao động. v.v..

          Khi cuộc tranh căi trở nên nóng sốt, một cái chuông nhỏ bằng đồng sẽ được rung lên như một h́nh thức nhắc nhở sự ḥa dịu cho các thảo luận viên.

          V́ nhăn thức hiểu biết đặc biệt về chính trị và xă hội của các thành viên tham dự mà vị chủ nhân đă xếp đặt tại nhà ông một thư viện thích đáng, gồm luôn những quyển sách cấm, đa số xuất bản ở ngoại quốc.

          Nhân cơ hội này, nhà văn đă mượn và nghiền ngẫm đọc những tác phẩm về xă hội Kitô giáo: “Le nouveau Christianisme” của Saint-Simon; “de la Célébration du Dimanche” của Proudhon; “Le vrai Christianisme suivant Jésus Christ” của Cabet…v.v...

          Nếu gọi nhóm Petrashevski là “cách mạng” trong ư nghĩa thông dụng của từ ngữ ấy th́ là một điều quá đáng. Trên thực tế, họ chỉ là một nhóm người trẻ có tinh thần “nhân ái, tự do”. Trong một lá thư gửi Alexander Herzen, Mikhail Bakunin gọi “đó là sự tạo thành của một hội đoàn ngây thơ vô hại nhất” và những thành viên của nó “đối lập có phương pháp hệ thống với tất cả mục đích và ư nghĩa của cách mạng”.

          Một quan sát viên của nhóm viết trong hồi kư rằng: “Họ chỉ có một điểm chung là trẻ tuổi và cái tuổi trẻ này chưa bị lay động bởi kinh nghiệm cuộc đời.”

         

          Sự thật, thoạt đầu cũng không hề có chút âm mưu phản loạn nào nẩy sinh trong nhóm Petrashevski. Cả Pétersbourg đều biết sự tụ họp mỗi tối thứ Sáu ấy. Trong hồi kư, D. Akhsharumov ghi lại:

          “Những cuộc họp mặt mà hầu hết mọi ư kiến khác nhau về những biến cố hiện đại được đưa ra thảo luận; những tin tức trong thành phố được kể lại; tất cả đều được nói lên lớn giọng không chút e dè sợ hăi.”

          Balasoglo lại gọi những ngày thứ Sáu là “cuộc tụ họp đơn giản giữa những người bạn kết chặt t́nh cảm, dựa trên tinh thần tương trợ lẫn nhau.”

          Dần dần, những cuộc bàn căi bắt đầu gia tăng sôi nổi theo các chủ đề nguy hiểm, dưới sự hướng dẫn của “vài nhà chuyên môn”, ví dụ như sự giải phóng nông nô, sự cải cách hệ thống ṭa án, sự tranh đấu chống lại chế độ kiểm duyệt.

          Giữa đám khách, vài người đưa ra xác định rằng, sau khi sự sụp đổ của “cái cấu trúc sa đọa kéo dài hằng trăm năm cũ” xảy ra, thiên đàng sẽ đến trong nhân loại đúng vào thời điểm dân chúng sống trong thịnh vượng, giàu có và vui thú. Số ít người trong nhóm sẵn sàng để bàn thảo phương sách thực tiễn trong việc biến đổi ảo tưởng này thành sự thật.

          Phần Petrashevski lại là người đối nghịch với bất cứ cuộc tranh đấu nào không nắm chắc phần thắng, và ông cũng tuyên bố sẽ giết chết kẻ nào dám đặt để cho chính người ấy vai tṛ “một kẻ cách mạng độc tài.”

          Dostoievski và Petrashevski chưa hề trở nên bạn thân; giữa họ chỉ là một mối đồng cảm và tôn trọng lẫn nhau.

          Cũng giống như Belínski, Petrashevski nhanh chóng khai triển từ một người theo triết lư không tưởng của Fourier tới một xă hội chủ nghĩa. Vài năm trước, ông đă gây được tiếng vang bởi sự xuất bản một quyển tự vị bỏ túi về các từ ngữ ngoại quốc đă đi vào ngôn ngữ Nga. Sự thật, đó là một loại sách bách khoa xă hội chủ nghĩa, bao gồm định nghĩa những từ ngữ như “duy vật chủ nghĩa, quyền lợi tự nhiên, thần bí chủ nghĩa”. v.v.. Khi những ấn bản lần thứ hai xuất hiện trong dân chúng, nhà nước đă t́m thấy trong “cuốn sách độc hại” này một sự pha trộn giữa “xă hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa và cái thể thức của một sự điên loạn đang lưu hành”, nên ra lệnh tịch thu và đốt cháy hết.

          Đă từ lâu, Petrashevski bỏ rơi niềm tin về Thiên Chúa giáo. Theo ông, Chúa Kitô tầm thường không quá hơn một “kẻ mị dân nổi tiếng gặp một kết thúc vô cùng bất hạnh trong nghề nghiệp”, và trong những cuộc tranh căi, ông kết án tôn giáo như một cản trở sự tiến bộ của nhân loại.

          Ngay dẫu Dostoievski có cùng quan điểm với Petrashevski về vai tṛ truyền dạy của giới trí thức giữa đám dân chúng chăng nữa th́ nhà văn cũng thật khó ḷng chịu đựng nổi những lời báng bổ của Petrashevski trên vấn đề tôn giáo.

          Ông cũng không chấp nhận tư tưởng của bạn rằng sự cải cách hợp lệ sẽ chiếm một địa vị cao hơn sự giải phóng nông nô.

          Thường xuyên nhiều tháng trôi qua giữa những cuộc thăm viếng, bao giờ Dostoievski cũng không hoàn toàn cảm nghe thân mật với cái không khí vô thần trong khách thính cấp tiến này.

          Tuy vậy, hoạt động cách mạng tại Tây Phương trong mùa đông 1847 và mùa xuân 1848 đă kích thích quan điểm chính trị của Dostoievski. Các tin tức từ cuộc cách mạng tháng 2/1848 tại Pháp đă gây nên một bầu không khí hoang mang sợ hăi tại Cung Điện Mùa Đông ở Pétersbourg. Dư luận truyền bá rằng chính Hoàng Đế chạy lui chạy tới trong pḥng khiêu vũ, ra lệnh cho các sĩ quan: “Hăy chuẩn bị yên cương! Một nền cộng ḥa đă được công bố trong nước Pháp.” Tin tức hằng ngày loan tải những thông cáo về tự do tại các nước Tây Phương đă đẩy mạnh nỗi khao khát tự do lan nhiễm trong tâm hồn dân chúng.

          Các mật vụ báo cáo lên Hoàng Đế rằng sự nổi loạn hàng loạt trong giới nông dân tăng nhanh.

          Mùa thu 1848, khi thành phố Pétersbourg bị lâm vào nạn lụt, nhiều cuộc nổi dậy được ghi nhận, báo hiệu sự khởi đầu của một cuộc cách mạng. Kết quả là chế độ Hoàng đế trở nên càng hà khắc. Các dự tính giải phóng nông nô bị đ́nh hoăn; ty kiểm duyệt làm việc gắt gao hơn. Ngay cả từ ngữ “tiến bộ” cũng bị xóa bỏ khỏi ngôn ngữ giới quan lại.

            Có một sự khích động dữ dội trong giới trí thức. Tại pḥng khách nhà Petrashev- ski, khách tham dự thêm đông đảo. Mùa thu 1848, Dostoievski là một trong những khuôn mặt thường xuyên nơi đây.(3) Từ những lời kể lại của nhiều người, nhà văn được đánh giá là rất tích cực trong các cuộc họp. Ông hay đọc lên cho cả nhóm nghe các bài thơ có tính cách phản động của Derzhavin và Púshkin, hoặc các đoạn văn từ những tác phẩm riêng ḿnh.

          Ngày 15/4/1849, tại nhà Petrashevski, Dostoievski đọc Thư Gửi Gogol do Belínski viết để trả lời Gogol trên những quan điểm phản tiến hóa trong tác phẩm tựa đề Những Đoạn Chọn Lọc Từ Các Lá Thư Gửi Bạn của Gogol, xuất bản năm 1847. Trực tiếp chỉ trích Gogol trên sự biện hộ của Gogol về giới nông nô, lá thư mang đầy tính phẫn nộ, luôn cả sự mănh liệt công kích chính quyền và giáo hội. Sau khi Belínski chết (ngày 26/5/1848), lá thư được lưu hành lén lút nhưng rộng răi bên dưới luồng kiểm soát của nhà nước và bị cấm chỉ như một thứ độc dược nguy hại.

          Trong Thư Gửi Gogol, Belínski đă viết:

          “Bạn đừng quên rằng dân tộc Nga nh́n vị cứu thế đất nước không phải xuyên qua thuyết thần bí chủ nghĩa, cũng chẳng từ chủ nghĩa khổ hạnh, mà là qua chủ nghĩa nhân đạo hay trên những thành quả của văn minh, của sự giải thoát khỏi mê tín, ngu dốt. Những ǵ nước Nga cần không phải là những bài thuyết pháp (bà mẹ Nga đă nghe quá đủ các điều ấy rồi!) mà là một cuộc thức dậy trong dân chúng về ư nghĩa giá trị của nhân phẩm. Hăy nh́n quanh với một chút chú ư hơn, bạn sẽ thấy rằng dân chúng Nga là ‘những người hoàn toàn vô thần’ từ trong bản chất. Giới nông nô đă và phải luôn luôn bị xung khắc với đạo Cơ Đốc đích thực.”

          Một tối khác, cũng tại nhà Petrashevski, Dostoievski đă diễn thuyết hùng hồn rằng sự tự do của người nông dân Nga có thể đến qua một cuộc nổi dậy. Sau đó, ông đọc bài thơ Ngôi Làng của Púshkin, có đoạn như sau:

          “Các bạn hỡi,

          Tôi nh́n thấy đồng bào Nga không bị áp bức hơn nữa

          Do ước muốn của Hoàng đế, sự nô lệ ức chế không c̣n

          Một b́nh minh rực rỡ sẽ hiện ra trên đất nước

          Quê hương ta chói ḷa ánh sáng tự do.”

         

          Bài đọc tạo nên một cảm xúc sâu xa giữa những người hiện diện. (4) Milyukov khi nhắc lại Dostoievski, đă viết:

          “Cả bây giờ, tôi vẫn tưởng như c̣n nghe rơ ràng giọng đọc hoan hỉ của anh.”

         

          Nếu như trong Dostoievski không có sự hết ḷng ủng hộ đối với nhóm Petrashevski th́ nguyên do nẩy sinh cũng chỉ giống như đă có đối với nhóm Belínski: “Sự bất đồng trên quan điểm về nghệ thuật”.

          Petrashevski chủ trương muốn dùng văn chương như một công cụ tuyên truyền trong sự thay đổi xă hội. Dostoievski phủ nhận ư tưởng này, lư luận rằng nghệ thuật tự nó có chỗ đứng riêng để không thể áp đặt lên nó một sự miễn cưỡng phục vụ cho các vấn đề chính trị, điều dễ dàng làm yếu đi phẩm chất của nghệ thuật.

          Dostoievski cũng phản đối khuynh hướng chung của nhóm Petrashevski trong việc t́m kiếm từ các học thuyết Tây Phương một kiểu mẫu đặt để cho xă hội Nga.

          Theo nhà văn, cuộc sống tập hợp giống như một doanh trại trong “các hội đoàn” của chủ thuyết Fourier c̣n “tệ hơn lao động nô lệ” nữa.

          Nhà văn đưa ra câu hỏi có phải Petrashevski đang dựng lên “một nơi tập họp” cho giới nông dân chỉ để nh́n ngắm họ nổi lửa đốt cháy chính nơi đó ngay trước khi họ dọn vào?

          Đă có rất nhiều cơ quan giống như xă hội chủ nghĩa, hiện hữu từ nhiều thế kỷ qua trong nước Nga, tại sao không khai triển hợp tác xă và cơ sở chung như một thực tế hữu hiệu?(5)

          Theo nhà văn, trong các cơ sở này cho thấy có h́nh thành một thể thức mới của quyền sở hữu tập thể để không cần thiết phải du nhập vào nước Nga một xă hội chủ nghĩa Tây Phương, điều sẽ không bao lâu dẫn dắt nước Nga đến chỗ thêm mất tự do và càng rối loạn. Hơn cả sự du nhập các thể chế ngoại quốc, người ta phải tập trung trên sự nhận lănh giải phóng chế độ nô lệ ở Nga.

          Với nhà văn, chế độ nông nô là một điều đáng khiển trách, và ông không hề tỏ ra mệt mỏi trong việc lên án chống lại bạo lực hay sự lạm dụng quyền lực trên kẻ khác.

          Dưới mắt rất nhiều người khách hiện diện tại nhà Petrashevski, nhà văn biểu tỏ nên là một con người lư tưởng trong việc khích động được quần chúng.

          Nhiều năm sau, Ippolit Debu viết:

          “Tới ngày nay, tôi có thể nh́n thấy trước mắt h́nh ảnh một Fyodor Dostoievski tại một trong những đêm ở nhà Petrashevski. Tôi như c̣n nghe những lời anh kể về câu chuyện một viên trung sĩ trong trung đoàn Finnish v́ phản đối cách đối xử dă man của vị chỉ huy trung đội, đă phải chịu h́nh phạt chạy giữa hai hàng người liên tiếp đánh vào ḿnh; hay những lời anh diễn tả về cách hành hạ nông nô như thế nào của các điền chủ.”

          Pyotr Semyonov cũng cho ra một bức tranh tương tự:

          “Dostoievski không bao giờ có thể trở thành một nhà cách mạng mà chỉ là một con người cưu mang những t́nh cảm phẫn nộ hay căm ghét trước các cảnh tượng đối xử hung bạo, đàn áp và tàn nhẫn. Đó là những cảm xúc anh đă bày tỏ khi kể chúng tôi nghe câu chuyện của viên trung sĩ trung đoàn Finnish chịu h́nh phạt như thế nào. Nhưng, dù với các trạng thái như vậy, Dostoievski vẫn là người sẵn sàng cầm cờ đỏ chạy trên đường phố, điều mà trong nhóm Petrashevski, không mấy ai tin là ḿnh làm nổi.”

 

 

          IV.

          Đến một lúc nào trong các buổi họp tối thứ Sáu tại nhà Petrashevski bỗng dưng chia thành hai phe đối nghịch.(6): nhóm đa số chủ trương tiến hành công cuộc cải cách trong từ từ chậm chạp; trong khi đó, một thiểu số cấp tiến được mệnh danh là “nhóm cách mạng” chủ trương hành động cương quyết cho những ước mơ của họ mà không chút sợ hăi tù đày.

          Chính Petrashevski cũng không phải là “một người tranh đấu công khai”. Ông thoái thác những sách lược cách mạng và chỉ tán thành công dụng của sự tuyên truyền ôn ḥa, gây ảnh hưởng dần dần trên quần chúng để sửa soạn cho một chế độ quân chủ lập hiến.  

          Mùa thu năm 1848, nhóm thiểu số “cách mạng” được thành lập, tập trung tại nhà văn sĩ Seiger Durov. Khuôn mặt nổi bật của nhóm là Nikolay Speshnyov, người đă tạo được một ảnh hưởng rộng lớn và bí mật trên Dostoievski và cũng là người sớm cho nhà văn những bài học đầu tiên trong nghệ thuật âm mưu. Các thành viên khác gồm có Durov, Golovinski, Lvov, Dostoievski, Pleshcheyev, Filippo, Mombelli, Palm, Grigoyev, và vài người nữa.

Nikolay Speshnyov xuất thân từ một gia đ́nh giàu có nhưng học hành dang dở. Con người quư phái giang hồ này từ thoạt đầu đă tỏ ra là một khuôn dáng bí mật. Những cuộc chinh phục ái t́nh lăng mạn trong những chuyến du hành Âu Châu của ông được kể là vô số. Vẻ bề ngoài trầm lặng, kiêu hănh, ông yêu một phụ nữ tên Savelyeva, bỏ chồng và hai con để đi ngoại quốc với ông, rồi tự phá hoại đời ḿnh bởi ḷng ghen.

Speshnyov sống ở ngoại quốc trong bốn năm (1842-1846). Tại Dresden, ông nổi tiếng là con sư tử của xă hội thượng lưu Ba Lan. Theo Bakunin, nhà văn chủ trương vô chính phủ, kẻ cũng bị lôi cuốn bởi người đàn ông “lạnh lùng” và “trầm tĩnh” này, “một người lịch sự từ đầu đến chân”, đă ghi nhận:

“Anh ta có quyền lực trên kẻ khác. Tất cả mọi người nh́n lên và chờ mong vài điều ǵ đó      đặc biệt    từ anh ta. Y.P. Yazykova cùng con gái út bà và tất cả những người bạn gái, ngay cả một nữ Bá tước Ba Lan đă 70 tuổi, đều yêu Speshnyov say đắm. Tuy nhiên, không chỉ đàn bà, lại c̣n những thanh niên Ba Lan, phần lớn thuộc cánh Hoàng tử Czatoryski, đều điên cuồng v́ ông.”

Giống như nhân vật Stavrogin trong tác phẩm Lũ Người Quỷ Ám sẽ được Dostoievski viết ra năm 1870, với cái phong cách điềm tĩnh và cao cả, Speshnyov không tránh được những nhận định của dư luận. Ogaryova Tuchkova, một phụ nữ ngưỡng mộ ông viết:

          “Bề ngoài dễ thương của anh ta đă quyến rũ mọi người. Dáng cao ráo, khuôn mặt đều đặn với những đường nét giống như một pho tượng, mái tóc quăn màu nâu đậm rơi xuống trên vai theo   h́nh sóng lượn, đôi mắt xám lớn được bao lại với một nỗi buồn trầm lặng.”

          Những người khác b́nh phẩm rằng “cái đẹp đàn ông một cách đáng ngạc nhiên của anh ta” có thể là một h́nh mẫu cho các bức tượng về Chúa Jésus.

          Năm 1845, ở Dresden, Speshnyov viết một tiểu luận về những bí mật trong giới thượng lưu và một bài nghiên cứu lịch sử Kitô giáo khởi nguyên.

          Ông là một trong những người đầu tiên làm quen với tác phẩm Manifeste du parti Communiste (Tuyên Ngôn Đảng Cộng Sản) của Marx & Engel (xuất bản năm 1848) và ngay cả bị tiếng rằng đă là một người t́nh nguyện tham dự trong cuộc chiến tranh Sonderbund ở Switzeland.

          Trở về Pétersbourg, Speshnyov bắt đầu lui tới với nhóm Petrashevski kể từ tháng 12/1847, nhưng môi trường này không lôi cuốn hấp dẫn ông.

          Lănh đạm, đẹp trai và bí mật, Speshnyov đă gây được một ấn tượng đậm đà trong tâm hồn Dostoievski.

 

 

          [Năm 1854, nhà văn đă viết về Speshnyov: “Quả là một cá chất vừa cởi mở vừa khép kín, bất cứ nơi nào Speshnyov xuất hiện là hầu như mọi người chung quanh, cho dù kẻ lạnh lùng nhất, cũng đều lập tức vây quanh anh với sự sùng bái.”

          Trong một thư gửi Dobrolyubov năm 1860, Pleshcheyev cũng nhận định: “Người ta có thể quả quyết tuyệt đối rằng vượt hẳn tất cả bọn chúng tôi chính là con người phi thường Speshnyov.”]

 

 

          Theo Mombelli:

          Speshnyov bảo rằng ông ta là một người cộng sản nhưng thường không thích phô bày ư kiến riêng và tự bao lấy quanh ḿnh một vẻ bí mật. Điều này đặc biệt làm Petrashevski chán ghét. Petrashevski thường xuyên phàn nàn về sự dè dặt của Speshnyov, cho rằng ông này luôn luôn muốn phô bày một bề mặt không đúng với con người thật của ông. Ngay cả khi ở nhà, Speshnyov cũng chỉ cất tiếng nói khi nào thấy cần thiết để giục các người khác nói hầu kéo dài cuộc đàm thoại, c̣n chính ông ta th́ lắng nghe. Ông rất nhă nhặn lịch sự và tỏ ra lưu tâm đến các vị khách của ḿnh, nhưng luôn giữ vẻ lạnh lùng, b́nh thản một cách không xúc cảm, ngoại diện chẳng bao giờ thấy rung động.”

 

Thật dễ hiểu với sự kiện Speshnyov đă không t́m thấy thích thú trong các câu chuyện huyên thiên tự do của nhóm Petrashevski. “Con người Cộng Sản thứ nhất” này tỏ ra ít nhiều sự khinh thường chủ thuyết cấp tiến ghế bành dài ḍng tại đó.

Đối với ông, cái Đẹp và sự Xấu, điều Thiện và điều Ác, quí phái và b́nh dân, tất cả chỉ là “vấn đề của thưởng ngoạn”. Những ǵ nước Nga cần th́ không nẩy sinh từ những cuộc thảo luận vô tận về sự thay đổi được ban hành từ trên cao, mà là một cuộc nổi dậy từ đáy sâu quần chúng, tiếp theo đó là một sự xây dựng mạnh mẽ để bảo đảm miếng ăn cho mọi người.

          Trong một bài diễn văn ngắn gọn và khô khan đọc tại nhà Petrashevski, Speshnyov tuyên bố:

          “Các lời lẽ tuyên truyền có thể hữu ích trong nước Nga, tuy nhiên, thưa các bạn, kể từ khi chúng          ta bị bỏ lại chỉ với các lời nói suông, tôi mang ư định sử dụng chúng mà không chút xấu hổ lương tâm, để tuyên truyền cho xă hội chủ nghĩa, vô thần chủ nghĩa, khủng bố chủ nghĩa.

          Có ba phương cách để thực hiện mục đích chính trị: vận động ngầm, tuyên truyền và bạo lực. Tất    cả mọi điều đó đều tốt. Và tôi khuyên các bạn nên làm như thế.”

          Dù với uy tín riêng, Speshnyov cũng không nhận được bao nhiêu ủng hộ trong nhóm Petrashevski. V́ thế, vào tháng 12/1848, ông chấm dứt tất cả mọi liên lạc với nhóm này, tiếp tục tham dự vào một nhóm “cách mạng” nhỏ những người thay đổi chính kiến, do Dostoievski và Pleshcheyev khởi xướng, tụ tập tại nhà văn sĩ Seiger Durov (như đă viết ở trên). Mục đích của Speshnyov là muốn cùng những người này củng cố một “giới người Nga quư tộc” để đặt nền tảng cho cuộc cách mạng chính trị.

 

 

          V.

          Thoạt tiên, nhóm Durov khởi sự như một hội đoàn nghệ sĩ thuần túy; trong các cuộc tụ họp, những thành viên chỉ đọc các bản văn và nghe nhạc. Nhưng dần dần, Nikolai Mombelli và Nikolai Grigoryev, các sĩ quan triều đ́nh, bắt đầu viết những bài nồng nhiệt chống lại chính quyền. Phần Pavel Filippov lại đề xướng sự phân bố những tập sách mỏng bất hợp pháp trong giới trí thức sinh viên và sĩ quan bất măn. Riêng Speshnyov có những mối liên hệ với các tạp chí định kỳ cấp tiến ở ngoại quốc, đă đưa in những tác phẩm của các nhà văn Nga từng bị cấm dưới áp lực của ty kiểm duyệt. Trên chiều hướng này, để kích thích ḷng nổi dậy của dân chúng, Grigoryev sáng tác Cuộc Đàm Thoại Của Các Chiến Sĩ, một bản văn tuyên truyền có tính cách lật đổ, trong đó, chính Hoàng đế bị đem ra nhạo báng.

          Những cuộc thảo luận càng lúc càng trở nên táo bạo. Mombelli nói:

          Hoàng đế Nicholas I không phải con người mà là một quái vật, đáng so sánh với những           kẻ chống Chúa trong sách Khải Huyền.”

          Riêng Speshnyov, trong buổi chào mừng sinh nhật Fourier, ngày 4/7, đă phát biểu:

          “Chúng ta đă tuyên án chết cho xă hội hiện tại. Bây giờ chúng ta chỉ tiến hành cuộc hành quyết.”

 

         

          [Có vài dữ kiện cho thấy rằng hai anh em Fyodor và Mikhail Dostoievski tỏ ra không đồng ư với âm mưu lật đổ chính quyền bấy giờ đă bắt đầu sôi động. Nhưng chúng ta cũng biết là cuối cùng nhà văn bị kết án v́ “tham dự trong mưu đồ để viết các bản văn chống lại chính quyền và phân phối chúng qua phương tiện một tờ báo in lậu.”]

 

 

          Mục tiêu của nhóm Durov là sửa soạn và đề khởi ra trong dân chúng một cuộc cách mạng giải phóng nông nô. Tất cả các thành viên đều đồng ư điểm này, “ngay cả nếu phải dùng đến phương tiện nổi dậy”. Một ủy ban gồm năm nhân sự đóng vai tṛ điều khiển. Để giữ kín bí mật, một bản quyết nghị được đề ra, gồm luôn án xử tử bất cứ ai phản bội nhóm.

 

 

          [Cuộc sắp xếp bao gồm sự đe dọa xử tử cho kẻ phản bội đại nghĩa, được tóm tắt lại trong Lũ Người Quỷ Ám, Dostoievski sẽ viết ở thời kỳ sau. Nhà văn đă thú nhận điều này trong hồi kư: “Cả sức khỏe và những nỗi rối loạn thông thường trong tôi đều bị chụp bắt và đầu hàng bởi một ư tưởng.”]

 

 

          Phải nói chính xác rằng do từ sự khởi xướng của Speshnyov (chứ không phải Dostoievski) mà nhóm Durov rút lui khỏi pḥng khách nhà Petrashevski. Xa hơn nữa, người ta có thể kết luận, chính Speshnyov là người đặt ra quy chế cho nhóm mới này và tự ḿnh thi hành chức năng lănh đạo. Điều đầu tiên trong những điều lệ bắt buộc được quy định như sau:

          “Khi ủy ban chấp hành đă xem xét những phương sách của nhóm, tŕnh bày hoàn cảnh và thời cơ, quyết định thời gian cho cuộc nổi dậy, và sau khi suy nghĩ  kỹ, dựa theo ước muốn riêng, tôi tự ư    kư tên gia nhập vào đoàn thể này và đặt ḿnh theo những điều lệ bắt buộc mà tôi sẽ thực hiện một cách dứt khoát.”

          Lúc ngôi nhà Speshnyov bị lục soát, một “lời cam kết” được t́m thấy. (Hiển nhiên cũng có cả bản cam kết mang chữ kư Dostoievski).

*

* *

          Đúng là khó hiểu trên những ǵ chàng Dostoievski sùng mộ Kitô giáo nh́n thấy trong “nhân vật bí mật Speshnyov” này. So sánh với “các cuộc chuyện tṛ vớ vẩn” của nhóm Petrashevski, quyền lực của Speshnyiov rơ ràng đă tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trên chàng tuổi trẻ lư tưởng và mù quáng với thực tế.

          Cuối cùng, Dostoievski cũng t́m thấy được một mẫu người tích cực! Trong hầu hết các vấn đề khẩn trương liên quan đến sự giải phóng nông nô, Speshnyov và Dostoievski đều đồng nhất ư kiến. Rơ ràng nhà văn đă tham dự vào nhóm Durov với một tinh thần rất cao. Ông được xem như phần tử hăng say nhất của nhóm. Viết về điều này, Palm kể:

          “Trong một dịp, lúc cuộc tranh căi quy về vấn đề ‘Nếu không thể dùng cách nào khác để giải phóng nông nô, liệu có nên dùng biện pháp nổi dậy chăng?’ th́ Dostoievski với thói dễ cảm thường nhật, đă la to lên: ‘Đúng vậy! Ngay như nếu phải dùng đến biện pháp nổi dậy vẫn phải không từ.’

          Để hoàn thành mục đích, nhóm Durov bí mật xếp đặt một cơ sở in ấn, cho phát hành những bản văn, qua mặt sự kiểm duyệt nhà nước và phổ biến âm thầm trong dân chúng.

 

 

          [Có hai tài liệu quan trọng, về sau được đưa ra ánh sáng, đă cho thấy rơ rệt vai tṛ tích cực của Dostoievski trong âm mưu này. Đó là lời khai của Speshnyov trước hội đồng đề h́nh tháng 5/1849 và một lá thư Apollon Maikov gửi cho P.A. Viskoratov năm 1885, sau khi đă chết.

          1/ Trong một cuộc thẩm tra tháng 5/1849, trước hội đồng đề h́nh, Speshnyov đă khai:

          Vào đầu tháng 11 hay cuối tháng 10/1848, có vài người v́ lư do này khác, không đồng ư với nhóm Petrashevski nên quyết định ngưng lui tới nơi đó và tự đứng ra thành lập một cơ sở tụ hội khác. V́ vậy, Pleshcheyev và Dostoievski một lần đến thăm tôi, cho tôi hay rằng họ muốn gặp gỡ bạn hữu riêng tại một nơi không phải là nhà Petrashevski. Theo họ th́ các buổi họp tại đó đă trở nên quá nhàm chán; chẳng ai bày tỏ được ǵ trên những chủ đề uyên thâm mà đa số các người hiện diện đều không được biết, và điều ấy thật ngấy đến chẳng ai buồn thốt lên một lời.”

          (Sự thận trọng bày tỏ này của Speshnyov đă vạch ra cho thấy bước đầu trong “phương sách cách mạng” đă được khởi xướng bởi Dostoievski và Pleshcheyev.)

          2/ Năm 1885, Apollon Maikov viết cho Viskoratov như sau: “Một ngày, tôi nghĩ là vào tháng 1/1849, F.M. Dostoievski bất ngờ đến thăm tôi và ở lại suốt đêm –tôi sống một ḿnh trong căn nhà riêng. Giường ngủ tôi đặt cạnh tường, đối diện là cái divan được trải ra cho Dostoievski.

          Lúc bấy giờ, anh cho tôi hay rằng anh đại diện cả nhóm đến gặp tôi với một mục đích.

          Anh nói, Petrashevski là một người khờ dại, một kịch sĩ ba hoa rỗng tuếch và không bao giờ có thể làm được điều ǵ khá. V́ thế, một nhóm ‘người bí mật có khả năng hơn, vẫn lui tới nhà Petrashevski’ sẽ đứng ra thành lập một chương tŕnh hành động mà chính Petrashevski cũng không biết và không được mời tham dự.

          Tôi sợ hăi hỏi: ‘Với mục đích nào?’

          Dostoievski đáp: ‘Dĩ nhiên với mục đích tạo thành một cuộc cách mạng trong nước Nga. Trong một bản kiến nghị, chúng tôi đă sắp xếp để có được một tờ báo, tất cả đă sẵn sàng.’

          Họ gồm Speshnyov, Pavel Filippov (hai người này đă chết nên tôi nêu tên của họ) và thêm 6 người khác nữa, trong số có Dostoievski. (Những người kia c̣n sống nên tôi tiếp tục giữ kín tên tuổi họ, như đă làm trong suốt 37 năm qua.)

          Họ quyết định mời thêm người thứ tám, là tôi. Họ muốn thành lập một cơ sở in ấn và xuất bản.

          Nghe xong chuyện, tôi bèn nói rơ cho Dostoievski hay về sự khinh suất và nguy hiểm của việc làm    ấy, bảo rằng họ đang đương đầu với những ǵ đă bị phá hủy một cách rơ rệt.

          Tôi nói: “Ngoài ra (đây là điểm tranh căi chính của tôi), anh phải biết rằng cả anh lẫn tôi đều là nghệ sĩ, những kẻ không thực tế. Chúng ta không thành công ngay cả trong việc sắp đặt công việc riêng của ḿnh, làm sao có thể thành công trong chính trị, điều đ̣i hỏi phải có một năng lực thực tế rất cao?”

          Khi ấy, Dostoievski đang ngồi trên divan, giống y như thế ngồi mà Socrates đă chết trước mặt bạn hữu ông. Anh chỉ khoác cái áo ngủ, cổ không cài nút, cố gắng sử dụng tất cả tài hùng biện để thuyết phục tôi. Anh dùng những câu như ‘Hăy nh́n sự thiêng liêng của công việc này’, ‘Bổn phận chúng ta là phải cứu nguy đất nước’, ‘Số phận dân tộc Nga tùy thuộc vào âm mưu mà nhóm Durov đang gánh vác...’ Cuối cùng tôi bắt đầu cười to một cách giễu cợt.

          Anh hỏi: ‘Như thế là anh trả lời không chứ ǵ?’

          Rồi nói to: ‘Không, không, không và không!’

          Tôi hỏi: ‘Có thể nào anh không nhận thức được sự nghiêm trọng của vấn đề và toàn thể các hành động táo bạo đều bị kết vào trọng tội? Anh phải thoát ra ngoài nó càng nhanh càng tốt.’

          Dostoievski u ám trả lời: ‘Không, đó là việc của tôi. Chỉ xin anh hiểu rằng điều này chỉ có bảy người biết. Anh là người thứ tám. Không thể có người thứ chín.’

          Sáng hôm sau, lúc uống trà, anh nói anh phải đi, và dặn tôi: ‘Anh không cần nói ǵ về chuyện tôi đă bày tỏ, không một lời nào cả.’

          Sau đó, tôi mới hay ra chuyện có một cái máy in được sắp xếp trong một vùng khác của thành phố, phù hợp với một bản khai được viết ra bởi Filippov.

          Vào một hay hai ngày trước khi cả bọn bị bắt, cái máy này được mang đến và lắp ráp trong nhà một thành viên chủ chốt của nhóm Durov. Người này tôi chưa hề quen.

          Khi anh ta bị bắt, một cuộc lục soát xảy ra, nhưng chính quyền không t́m thấy chút dấu vết nào. Anh ta có hàng loạt những cơ phận, dụng cụ và đồ trang bị khác nhau đang nằm trong kho chứa. Họ đóng dấu niêm phong ngay ngoài cửa.

          Sau khi các nhân viên điều tra bỏ đi và chính anh ta cũng bị dẫn đi, những người làm đă lén lút mở các tấm bản lề ra mà không để đụng chạm đến dấu niêm, bí mật đem tẩu tán tất cả cơ phận của cái máy. Bằng phương cách này, mọi chứng cớ bị thủ tiêu hết. Những nhân viên điều tra không biết chút ǵ về nó, Petrashevski cũng không biết nữa.]

 

 

          Nhà văn hẳn phải biết rằng ông đang đánh đu với tương lai, nhưng đă quá trễ cho mọi thay đổi. Uy lực của Speshnyov, ông không chống nổi. Nhân vật kỳ lạ này không chỉ vừa đáng say đắm quyến rũ, lại c̣n có sức mạnh ma quỷ lôi cuốn trên cá nhân nhà văn. Dostoievski bắt đầu cảm thấy mất dần tự do.

          Bác sĩ S. Yanovski về sau đă viết trong hồi kư:

          “Một thời gian ngắn trước khi bị bắt, Dostoievski trở nên càng lúc càng tuyệt vọng, cáu kỉnh và rất mẫn cảm. Anh thường căi nhau với người khác trên chỉ một chuyện vặt và hay phàn nàn về những cơn chóng mặt. Khi tôi xác nhận rằng không có lư do cơ bản cho những triệu chứng này và rồi chúng sẽ sớm qua đi, Dostoievski phản kháng ngay: ‘Không, chúng sẽ không qua và sẽ c̣n    dày ṿ tôi rất lâu, bởi v́ tôi đă nhận tiền từ Speshnyov (anh nói một tổng số chừng 500 rúp). Bây giờ tôi bị ràng buộc vào anh ta, tôi là của anh ta. Tôi sẽ không bao giờ có thể trả đủ nợ và anh ta cũng không bao giờ buộc tôi trả nợ. Anh ta là loại người như thế. Anh hiểu không, kể từ nay, tôi đă có một Mephistopheles riêng trong người.”(7)  

 

          Nhà văn bị dày ṿ bởi ư nghĩ “đă bán linh hồn cho quỷ”. Nikolay Speshnyov chính là vị ác thần Mephistopheles trong đời Dostoievski.

 

 

          [Nhân vật này về sau được nhà văn cho xuất hiện trở lại qua Nikolay Vservolodovich Stavrogin trong Lũ Người Quỷ Ám, xuất bản năm 1870. Sự chấp nhận trả tiền được nhân vật này dùng như    một lư lẽ quyết định khi anh ta nhắc lại với Kirlov về lời hứa hành động tự tử: “Bạn đă tự buộc ḿnh vào điều ấy. Bạn đă nhận tiền. Bây giờ bạn phải chấp hành mọi nỗi”.]

 

 

          Thời gian này, Dostoievski sống trong t́nh trạng vô cùng túng quẫn. Sở đất người cha để lại, phần chia riêng cho nhà văn đă được rao bán với giá rẻ và tiêu hết nhanh ngay sau đó. Trong lúc đang viết chưa xong tác phẩm Netochka Nezvanova, những dấu hiệu của bệnh động kinh đă thấy bắt đầu. Dù rằng phải đợi đến hai năm sau cơn bệnh mới thật sự xuất hiện, nhưng các biến chứng trên cũng làm nhà văn vô cùng đau đớn.

 

          VI.

Hẳn nhiên, những hoạt động âm thầm của nhóm người tuổi trẻ không qua được cặp mắt theo dơi của chính quyền.

Vào đầu tháng 3/1848, Lev Perovski, Bộ trưởng Bộ Nội Vụ, bắt đầu ngờ vực về những cuộc hội họp của các nhóm trí thức trong Pétersbourg. Ivan Liprandi, một trong những viên chức cao cấp của Lev Perovski, được yêu cầu giữ yên những cuộc hội họp dưới sự kiểm soát ngầm của mật vụ.

Đầu năm 1849, Liprandi sắp đặt để gài vào nhóm Petrashevski một điềm chỉ viên tên Pyotr Antonelli, con trai một nghệ sĩ, đă từng là sinh viên đại học St. Pétersbourg. Người này đều đặn báo cáo chi tiết các cuộc thảo luận cho ông ta.

Từ các báo cáo của Antonelli, chúng ta biết Dostoievski có hiện diện tại hai buổi họp cuối cùng của nhóm Petrashevski, vào ngày 1 và 15/4/1849. Trong buổi họp sau, nhà văn đă đọc bản văn bị cấm Thư Gửi Gogol của Belínski, nhận từ Pleshcheyev. Lá thư này, trước đó, Dostoievski đă đọc hai lần, một tại nhà Palm và lần nữa tại nhà Durov.

          Trên hết, Hoàng đế Nicholas I là người nôn nóng hơn cả. Ngài liên lạc với Bá tước Aleksei Orlov, giám đốc cơ quan mật vụ và cũng là thủ tướng quốc gia.

          Ngày 20/4/1849, Liprandi ra lệnh ngưng sự điều tra để bắt đầu cuộc truy kích. Ông đi thẳng tới Đại tướng Leonty Dubelt, trên tay cầm ba tập chứa đựng tên tuổi và địa chỉ của những phần tử trong nhóm Petrashevski, song song với một tŕnh bày thấu đáo về các hành động của từng cá nhân một.

          Giống như Bá tước Orlov, Dubelt tỏ ra khó chịu khi cuộc điều tra đă được tiến hành mà cánh mật vụ không hay biết. Ông ta không hài ḷng khi thấy Bộ Nội Vụ giẫm chân lên lănh vực của ông.

          Ngày hôm sau, Bá tước Orlov gửi lên Hoàng đế một bản báo cáo rất chi tiết trên nhóm Petrashevski, “các chiến sĩ cộng sản với các tư tưởng mới truyền nhận từ Tây Phương”.

          Hành động của Bá tước Orlov nhanh chóng và bí mật đến nỗi ngay cả Đại tướng Ivan Nabokov, giám đốc pháo đài Peter & Paul (và là họ hàng của tác giả cuốn Lolita nổi tiếng về sau) cũng không được biết về những biến cố sắp xảy đến.

          Trong thư trả lời, Hoàng đế viết cho Bá tước Orlov:

          “Ta đă đọc tất cả. Đó là một vấn đề nghiêm trọng mà nếu dẫu cho là những chuyện gẫu vớ vẩn, các người tham dự cũng vẫn bị trọng tội ở mức độ cao nhất. Hăy tiến hành tất cả mọi h́nh thức bắt bớ, nhưng cố tránh những điều có thể dẫn đến một sự phản ứng dữ dội trong dân chúng. Hăy nhớ là không được thông báo trước với Ivan Nabokov. Tốt hơn cả là để ông ta nhận lấy thông điệp trực tiếp từ ta. Hăy cố làm điều này. Xin Thượng Đế ban phép lành cho các ngươi.”

         

          Cùng ngày 22/4/1849, một lệnh bắt bí mật được Bá tước Orlov ban ra:

“Gửi Thiếu tá Chudinov, ty cảnh sát St. Pétersbourg,

Theo lệnh Hoàng đế, tôi buộc ông phải bắt giữ viên cựu Trung úy Fyodor Mikhailovich Dostoievski hiện đang cư ngụ trong căn nhà ở góc đại lộ Malaya Morskaya và Vosnesenski, trên tầng ba. Cuộc bắt giữ sẽ được diễn ra sáng sớm ngày mai lúc 4 giờ. Tất cả mọi giấy tờ và sách vở phải được niêm phong và mang cùng với Dostoievski tới phủ Thủ tướng.

Trong khi bắt, ông phải cẩn thận rằng không có tờ giấy nào được giấu đi. Có thể tại nhà Dostoievski, ông sẽ t́m thấy một số lớn tài liệu và sách vở, những thứ sẽ không thể mang ngay tới phủ Thủ tướng. Trường hợp này, ông phải cất giữ và niêm phong chúng lại trong một căn pḥng riêng.

Giả như trong khi tịch thu mà Dostoievski có bảo rằng những thứ ấy tùy thuộc vào một kẻ khác, ông phải bất chấp điều đó và cũng niêm chúng lại.

Thực hiện sứ mạng này, ông phải cảnh giác tối đa để giữ hoàn toàn sự an b́nh cho bản thân ông. Trưởng ban mật vụ, Trung tá Dubelt sẽ bảo đảm cho ông một sự tiếp tay từ cảnh sát St. Pétersbourg cùng hàng loạt các đội cảnh sát dă chiến.

Đại tá Orlov.”

[]

 

 

PHÁO ĐÀI PETROPAVLOVSKI

VÀ ĐOẠN ĐẦU ĐÀI

 

 

I.

          Ngày 23/4/1849, khoảng 4 giờ sáng, sau khi bàn thảo với N.P. Grigoryev về cái máy in bấy giờ đă được lắp ráp xong tại nhà Nikolai Mordvinov, Dostoievski từ giă bạn, trở về căn gác trọ, tọa lạc gần bên giáo đường Isaac. Nhà văn nằm lăn ra giường, ngủ ngay.

          Độ hơn một tiếng đồng hồ sau, trong cơn mơ màng, Dostoievski cảm nhận có vài người lạ đang xâm nhập vào pḥng, thêm tiếng khua loảng xoảng của những thanh kiếm. Một giọng nói nhẹ và ấm cất lên: “Cựu Trung úy Kỹ sư Dostoievski, dậy đi! Đức vua ra lệnh bắt giam ông.”

          Dostoievski cố gắng mở mắt. Một viên sĩ quan cảnh sát có hai hàng ria mép đẹp đang đứng nơi đầu bàn ngủ. Tuy nhiên, không phải ông này, mà chính là một người lịch sự khác trong bộ quân phục màu xanh nhạt của cơ quan mật vụ, cầu vai mang lon Trung tá, đứng gần đó, đă cất tiếng nói.

          Vừa nhổm dậy khỏi giường, Dostoievski vừa hỏi: “Chuyện ǵ vậy?”

          Không ai trả lời. Nơi cửa ra vào có một người lính, cũng mặc bộ đồ xanh nhạt. Chính người này làm phát ra tiếng lẻng kẻng từ cây gươm đeo bên hông.

          Vị Trung Tá ra lệnh cho nhà văn thay đổi y phục. Căn gác trọ bị lục soát, sách vở giấy tờ bị xáo trộn. Trên  bàn có để một đồng tiền cổ. Các viêc chức xem ra đặc biệt chú trọng đến nó. Dostoievski vừa mặc quần áo, vừa hỏi: “Có phải đó là tiền giả?”

          Viên cảnh binh hầm hè: “Hmmm, chúng tôi cần phải nh́n kỹ.”

          Đám mật vụ cố ḷng t́m kiếm chứng cớ phản động, nhưng không thấy ǵ khả nghi cả. Dẫu vậy, họ vẫn niêm phong mọi giấy tờ và c̣ng tay Dostoiesvki.

          Ngoài cổng chính đă có một chiếc xe chờ sẵn. Tất cả bốn người chui vào đó. Chiếc xe tiến về hướng cầu Chain, nơi tọa lạc của tổng hành dinh mật vụ, nằm bên bờ kinh Fontanka. Nhà văn bị nhốt ngay vào pháo đài Peter & Paul. Tại đây, Dostoievski gặp lại đầy đủ các người bạn thường tụ họp tại nhà Petrashevski, luôn cả người em trai, Andrei Mikhailovich và người anh, Mikhail Dostoievski.

 

 

[Do bởi lầm lẫn mà Andrei Mikhailovich bị câu lưu. C̣n Mikhail Dostoievski lúc bấy giờ tiếp tục       tham dự các buổi họp tối thứ Sáu, cũng bị bắt. Nhờ thiếu chứng cớ phạm tội nên Mikhail được thả ra hai tháng sau đó.]

 

 

          Cùng ngày 23/4/1849, Bá tước Orlov, giám đốc Sở Hiến Binh, báo cáo lên cho Hoàng đế Nicholas I hay rằng “những kẻ âm mưu” đều đă bị bắt hết. Dostoievski (mà chính quyền liệt vào hàng đầu năo quan trọng nhất của nhóm Petrashevski) bị biệt giam tại căn ngục mang số 9 trong thành lũy Alekseyevski, thuộc pháo đài Peter & Paul, cách xa Cung Điện Mùa Đông vài trăm mét.

          Tại chốn tối tăm này, một trong vài nơi đáng ghê rợn nhất trong lịch sử tù tội thế giới, những tội phạm chính trị nguy hiểm nhất trong nước Nga đă từng bị giam giữ. Alexsei, con trai đại đế Peter, đă bị hành hạ cho đến chết theo lệnh của chính đại đế. Về sau, những kẻ nổi loạn trong nhóm Décembristes(8) cũng bị nhốt tại đây; năm người trong số họ bị treo cổ và một người đă gọi pháo đài là “lăng mộ kinh tởm nhất của chế độ chuyên quyền”. Không bất cứ ai từng trốn thoát. Các nhân viên làm việc tại pháo đài cũng không được biết tới những ǵ xảy ra trong đó. Xác chết hàng loạt được mang đi giữa đêm tối và bị thủ tiêu nhanh chóng. Nơi đây, vị chỉ huy có toàn quyền hành động mọi điều ông ta muốn mà không gặp chút ngăn trở nào từ phía chính quyền.

          Tại ngôi nhà bí mật được canh giữ nghiêm nhặt nhất nước Nga này, nhóm Petrashevski phải nhận chịu rất nhiều đau khổ. Trong ba tháng đầu tiên, mọi tù nhân đều bị ly cách hoàn toàn với thế giới bên ngoài, ngay cả không được phép bước ra sân tù nữa.

          Không khí tối tăm và lạnh buốt, chỉ một chút trời xanh mới được nh́n thấy lúc ban ngày. Thức ăn tồi tệ. Trong nước uống có một “cái mùi rất lạ”. Gần như mọi tù nhân đều bị rối loạn bao tử, nhất là với Petrashevski, điều này càng tệ hại. Bao tử ông bị loét máu. Các căn ngục đầy những rệp, gián. Chuột bọ tự do chạy đuổi nhau trên sàn. Tù nhân không được cho tắm rửa sạch sẽ; trong vài tháng, thân thể họ bị bao bọc bởi một “lớp màu đen bẩn thỉu giống như vảy cá”.

          Đêm cũng như ngày, tiếng kêu rên, tiếng thở dài, luôn các tiếng gơ trên tường –một h́nh thức liên lạc duy nhất giữa các bạn tù- phát ra liên tục.

          Nhưng trên hết, sự cô đơn và buồn nản đè nặng tâm tư các người trí thức trẻ tuổi. Đó là điều dễ dàng đánh gục họ. Và quả nhiên, từng người bị ngă gục. Có hai người chết.

          Khi nghe tin Dostoievski bị cầm tù, tất cả những người thân và bạn bè đều lo sợ cho ông. Trước khi bị bắt, sức khỏe nhà văn đă tồi tệ, trong nguyên tháng 3/1849, ông bị bệnh nằm liệt và chỉ vừa mới bắt đầu phần nào hồi phục.

          Vậy mà, như một phép lạ, Dostoievski đă có thể chịu đựng tất cả mọi bệnh trạng trong những tháng tiếp đó, dù rằng khi ấy, ông lại bị thêm những cơn khó chịu phát sinh từ bệnh trĩ, cổ họng rát, sự mất ngủ gia tăng. Nhà văn viết cho Mikhail:

          “Mỗi ngày em ngủ trung b́nh năm tiếng, hàng đêm thức dậy chừng ba hay bốn lần. Tệ nhất là lúc   9 giờ tối, trong nhà ngục chỉ toàn một màu đen. Thật đáng ngạc nhiên biết bao với sự dai bền có được trong cơ thể con người. Trước kia, em không bao giờ tin điều ấy, nhưng bây giờ em biết nó có thật từ chính kinh nghiệm bản thân.”

 

 

          II.

          Vào giữa tháng 7/1849, điều kiện sống trong tù bắt đầu cải thiện. Khăn mới được mang tới phủ trên các chiếc giường bằng gỗ cứng. Tù nhân được cho phép liên lạc thư từ và nhận sách cùng tiền gửi từ bên ngoài. Lần nữa, Dostoievski có thể thưởng thức trà và thuốc điếu.

          Ngày 11/7/1849, Dostoievski nhận lá thư đầu tiên từ Mikhail. Trả lời anh, nhà văn viết:

          “Em không ngă ḷng đâu. Hẳn nhiên, nơi đây mọi thứ đều thật đáng ghê tởm, nhưng em làm ǵ được? Ngoài ra, không phải lúc nào cũng chán nản. Nhiều lúc, em hướng tất cả ư nghĩ sang thế giới tưởng tượng riêng, nhưng cũng nhiều lúc khác không thể tự chế. V́ thế, em cứ để mặc cho quá khứ tràn lấn đầu óc. Dù vậy, em vẫn không thể mất th́ giờ vô ích, nên đă phác họa xong cái sườn của ba truyện ngắn và hai tiểu thuyết trong đầu. Em cũng đang bắt tay vào với một trong số năm tác phẩm ấy.”

 

          Vào tháng 8/1849, tù nhân được phép đi ṿng quanh sân trại có 17 ngọn cây; nhưng quan trọng hơn, ban đêm mỗi người được phép thắp một ngọn nến.

          Và như lệ thường, Dostoievski không để mất th́ giờ quí báu. Ông vùi đầu vào Kinh Thánh, đọc những quyển về Saint Dmitri của Rostov và những tác phẩm của Shakespeare. Nhà văn vui thú với bản dịch tác phẩm Jane Eyre của Charlotte Bronte, “một cuốn tiểu thuyết của nước Anh, cực kỳ tuyệt diệu” và không ngừng xin Mikhail gửi sách báo.

          Ngày 1/10/1849, Mikhail gửi tiếp bốn tập về các tác giả Nga; thêm ba tập gồm những tác phẩm của Dahl (Những Chuyện Kể Về Người Anh Hùng Cô-Dắc Lugaski) và cuốn Huyền Thoại Về Dân Chúng Nga của Sakharov. Dostoievski cũng nhận được cả tờ Tổ Quốc, trong có đăng Netchka Nezvanova, tác phẩm lớn nghiên cứu về tâm lư tuổi thơ ông viết dạo trước, nhưng lúc bấy giờ tên tác giả không được đề ra.

          Mùa thu đến. Tại cái nơi biệt giam đáng ghê rợn ấy, tiềm năng kỳ lạ trong cơ thể nhà văn bắt đầu xuất hiện cùng lúc với những triệu chứng của bệnh động kinh.

          Trong khi Grigoryev và Katenev trở nên điên; Yastzhembski lúc nào cũng lăm le ư định tự tử; Akhsharumov cất giấu một cây đinh trong người với mưu toan treo cổ; th́ ngay lập tức, Dostoievski tập đi từng bước xuyên qua những tháng ngày chờ đợi, cô đơn.

          Bản năng sinh tồn mạnh mẽ khiến ông bám víu niềm vui duy nhất vào mảnh trời xanh hiện qua cái lỗ nhỏ xíu của cánh cửa ṭ ṿ, và vào 17 ngọn cây trong cái sân phía bên ngoài.

          Mặc cho những khó khăn, bệnh hoạn, mặc số phận không biết sẽ được định đoạt ra sao, trong căn ngục tối, sức tưởng tượng trong con người Dostoievski trỗi dậy dữ dội. Cuộc sống nội tâm chẳng những không suy nhược, lại c̣n đạt tới một cường độ mạnh mẽ.

          Bằng sự khôi hài nhưng quyết liệt, nhà văn viết cho Mikhail:

          “Guồng máy trong em vẫn hoạt động tốt và chưa bị hư.”

 

          Quả nhiên, với tất cả nghị lực hiếm có, Dostoievski hoàn thành Vị Anh Hùng Nhỏ (Malenki geroi), một câu chuyện êm đềm về mối t́nh đầu của một chàng thiếu niên, điều rất đáng ngạc nhiên với hoàn cảnh tuyệt vọng của ông khi ấy:

          “Tại một lănh địa trù phú gần Moscow, một đám đông các người trong giới thượng lưu tụ họp với nhau. Họ bày ra liên tục các tṛ khiêu vũ, nghe nhạc, hát ḥ, cắm trại, cưỡi ngựa, đóng kịch.

          Đứng lẩn vào đám người đang chơi nhạc phía sau, giữa đám phụ nữ thanh lịch và những chàng trai hào hoa phong nhă, một cậu bé 11 tuổi bắt đầu cảm nghe ḷng rung động v́ t́nh yêu.           Cá chất hiệp sĩ vốn sẵn có trong trái tim trong sáng của một đứa trẻ, cậu bé đâm ra yêu say đắm   Madame M. và trở nên một kẻ ‘nô lệ’ cho bà. Cậu hết ḷng phục dịch người đàn bà cậu yêu, giống như một tiểu đồng thời Trung Cổ.

          Và để lôi cuốn cái nh́n của bà, cậu đă biểu diễn chiến công gan dạ bằng cách leo cỡi trên lưng một con ngựa đang trở chứng.

          Khi vị anh hùng nhỏ được đem xuống khỏi ḿnh ngựa và vừa mới hoàn hồn trở lại, cái nh́n của cậu bắt gặp đôi mắt Madame M. khi ấy đang trắng nhợt cả mặt mày. Bấy giờ, bà M. đưa tặng ‘vị tiểu đồng’ của bà chiếc khăn quàng mỏng màu đỏ thẫm. Tất cả những người đứng chung quanh la to lên: ‘Hoan hô!’.

          Nhưng sự thật Madame M. lại yêu một người khác. Do bởi t́nh cờ, cậu nhỏ nh́n thấy bà nước mắt đầm đ́a lúc chia tay với chàng N. và vô t́nh đánh rơi lá thư mà bà đă nhận từ người nọ.

          Một cách ‘hào hiệp’, cậu bèn âm thầm bỏ lại trong giỏ hoa lá thư cậu đă nhặt được, rồi đem đến cho bà, mục đích cứu bà thoát khỏi sự nhục nhă và danh dự khỏi bị tổn thương.”

          Câu chuyện kết thúc với một sự “soi sáng trái tim”:

          Vị anh hùng nhỏ kể lại:

          “Lúc ấy, tâm hồn tôi như bay bổng. Nó bắt đầu đau đớn như thể có một vật ǵ xuyên thấu qua đó. Và nước mắt, những giọt nước mắt êm ả, dâng trào ra hai khóe. Tôi giấu mặt vào đôi bàn tay, run rẩy giống như một thằng người nộm. Sau cùng, một cách thanh thoát, lần đầu tiên tôi ư thức được những rung động của trái tim. Lập tức, thời niên thiếu của tôi chấm dứt ngay khi ấy.”

Trái tim tự nó mở ra cho t́nh yêu, cho toàn thể vũ trụ.

 

 

          [Về sau, Dostoievski kể với Vsevolod Solovyov:

          “Khi bị       đưa đến giam trong thành lũy Alekseyevski của pháo đài Petropavlovski, tôi nghĩ đời tôi         đến đây là hết, tin tưởng rằng sẽ không qua nổi ba ngày. Nhưng dần dần b́nh tĩnh lại, tôi tự hỏi, phải làm bây giờ? Và sáng tác Vị Anh Hùng Nhỏ. Đọc tác phẩm này, có phải bạn đă t́m thấy ít nhiều dấu vết đắng cay tôi phải chịu đựng thời gian ấy chăng?”]

 

 

          Xuyên qua tác phẩm viết ra trong những ngày tù đày thứ nhất, người ta t́m thấy tất cả những ǵ lúc đó Dostoievski đă thiếu: bầu trời, ánh nắng, không khí.

          “Mặt trời lên cao, tỏa ánh sáng tràn trề trên nền mây xanh thắm, giống như đang tự tan ra trong chính ngọn lửa rực vàng của nó. Các người thợ gặt đă đi xa; đàng sau họ, những luống rạ vừa cắt, trườn ḅ thẳng hàng như vô tận. Thỉnh thoảng cơn gió yếu ớt lan nhẹ, tỏa mùi thơm ngát. Chung quanh như có một sự ḥa hợp không ngừng từ những con người mang cái vẻ dính chặt với sự vui          nhộn. Cơ hồ chính ngay lúc tất cả các cánh hoa, nhánh cỏ cuối cùng ngát dâng mùi vị thơm tho, th́ cũng là khi chúng đang nói với đấng Tạo Hóa: ‘Thưa cha, chúng con được phúc lành của cha và đang rất hạnh phúc.’”

 

          Tác phẩm đầy t́nh cảm Vị Anh Hùng Nhỏ (không được xuất bản cho măi tới năm 1857) đă chấm dứt thời kỳ sáng tác thứ nhất trước khi bị lưu đày của Dostoievski.

          Trên ngưỡng cửa bước chân vào một cuộc đời mới toàn những chông gai khổ nhọc, nhà văn đă đưa tay vẫy chào vĩnh biệt thời tuổi trẻ đầy mơ mộng.

          Và để đáp lại bài thơ nhạo báng Chàng Hiệp Sĩ Vẻ Mặt Thê Lương của Tourgueniev thuở trước, Dostoievski rơ ràng đă nhận sự thách thức qua câu chuyện kể dành hết cho một “hiệp sĩ”, một “vị anh hùng nhỏ”, như những lời cuối cùng xác định cho tinh thần Schiller cao thượng và đẹp đẽ trong ông.

 

 

 

          III.

          Sau hơn 5 tháng bị giam trong ngục kín, cả nhóm Petrashevski được đem ra xét xử trước hội đồng đề h́nh.

          Hội đồng đề h́nh thành lập không lâu sau lệnh bắt giam, dưới sự chỉ định của Hoàng đế Nicholas I, được điều khiển bởi Đại tướng Nabokov, con người mà trong mắt nh́n riêng ông ta th́ “bất cứ ai bị đưa vào pháo đài cũng đều xứng đáng nhận lănh một h́nh phạt nghiêm khắc nhất”.

          Dù vậy, do tất cả mục đích thực tiễn, hội đồng được trực tiếp điều hành bởi Hoàng thân Pavel Gagarin, một trong những người lănh đạo guồng máy quốc gia. Những vị khác gồm Bá tước Vasily Dolgorukov, trước kia từng tố giác nhóm Décembristes và được Hoàng đế sủng ái; Đại tướng Yakov Rostovtsev thống lănh toàn thể quân đội; và Đại tướng Leonty Dubelt, con người đáng sợ của tất cả dân chúng Pétersbourg, dẫn đầu cơ quan mật vụ.

          Trên tất cả “những quan ṭa ṭa án dị giáo” này (như người ta thường gọi) chính là Hoàng đế Nicholas I, “Viên Đại Phán Quan của ṭa án dị giáo.”

          Nếu chiếu theo những báo cáo của Liprandi, rơ ràng các hành vi của nhóm Petrashevski có thể dễ dàng đưa đến một cuộc cách mạng lật đổ chính phủ. Nhưng trong sự nồng nhiệt phơi bày “cuộc âm mưu” này, Liprandi đă đi quá xa. Những nhân vật đầu năo triều đ́nh khám phá rằng, thật khó để thừa nhận sự kiện có một cuộc nổi dậy đang sắp bùng nổ trong xứ sở họ. Mật vụ cũng ít nồng nhiệt trong việc quan trọng hóa về một trường hợp mà họ không được nhúng tay vào. Kết quả là Liprandi bị tẩy chay khỏi hội đồng đề h́nh, và số lớn phần tử trong hội đồng dường như cũng chỉ mong làm giảm đi càng nhiều càng tốt tội trạng các tù nhân.

          Tuy nhiên, một cuộc điều tra toàn diện vẫn tiến hành, kéo dài trong vài tháng và có gần ba trăm người tham dự. Những tài liệu quan trọng nhất được công bố trong ba tập dầy cộm. Hoàng đế đă viết cho hội đồng đề h́nh:

          “Nếu như phải bắt giữ cả nửa thủ đô để phanh phui ra sự lật đổ chính quyền, các ngươi hăy vẫn    cứ làm.”

          Nhiều người sau đó được xem là vô tội, trong số có Mikhail và Andrei Mikhailovich Dostoievski. Cuối cùng, chỉ c̣n không quá hơn 23 người bị đem ra đối chất trước ṭa án quân sự, bắt đầu từ ngày 30/9/1849 kéo dài trong suốt hơn một tháng tiếp theo.

          So với sự hạ ḿnh van xin khoan hồng trước kia của nhóm Décembristes th́ nhóm Petrashevski bấy giờ xuất hiện trước hội đồng đề h́nh với sự can đảm và ḷng tự tin ổn chắc. Đặc biệt, Petrashesvki biểu tỏ như một kiểu mẫu đáng ca ngợi cho đám bằng hữu chung quanh. Ông viết lời khuyên và cổ động tinh thần anh em trên những mảnh giấy đắp tường. Trong các cuộc thẩm tra, sự đối đáp khôn khéo của ông đă thường xuyên làm khó chịu các quan ṭa và đem lại kết quả “kẻ bị thẩm vấn là các quan ṭa chứ không phải chính ông!”

          Khi được hỏi, ông nghĩ vụ án kết thúc như thế nào, Petrashevski điềm tĩnh trả lời:

          “Có hai phương cách đúng theo thủ tục luật pháp. Thứ nhất, trong hiến pháp đă ghi rơ những lời      như sau của Nữ hoàng Catherine: ‘Nên tha thứ hơn là xử oan cho một người vô tội.’ Phương cách thứ hai được sáng chế bởi Cardinal de Richelieu(9) bằng câu nói: ‘Hăy đưa cho ta mười chữ được viết xuống bởi một kẻ bị buộc tội và ta sẽ t́m ra tội trạng của hắn đáng giá bằng một án treo cổ.’ Hẳn nhiên, tôi ao ước cách thứ nhất hơn, nhưng rơ ràng ở đây chỉ có cách thứ hai đang được xúc tiến. Trong quyền riêng, Đại tướng Dubelt đă tỏ ra quá tự tin khi quả quyết với tôi: ‘Chúng tôi biết ông đă đốt hàng loạt tài liệu. Chính mắt tôi nh́n thấy đống tro tàn ấy.’ Th́ nếu như ngài de Richelieu sống lại, ông ấy phải tự nhận là đồ đệ của Dubelt; bởi v́ khi đưa ra những lời buộc tội, de Richelieu phải căn cứ ít nhiều trên những dữ kiện trong tay đang có, c̣n Dubelt, trái lại, buộc tội trên chỉ một dúm tro tàn trút ra ngay từ cái ống điếu của tôi.”

 

          Mọi báo cáo về kiểu trả lời ngạo mạn này khiến chính Hoàng đế phải tham dự vào cuộc hỏi cung con người kiêu hănh ấy. Những dây cáp được nối từ cái máy truyền tin trong Cung Điện Mùa Đông đến pháo đài Peter & Paul. Tuy nhiên, các cách tra tấn dă man như sự chích điện vào người tội nhân chỉ càng làm cho những câu trả lời thêm đậm sắc. Nổi giận, Hoàng đế xuống lệnh mang đến một ly thuốc độc. Petrashevski đâm ra nghi ngờ: khi ông đặt ngón tay vào cái ly, ông cảm thấy da thịt đau nhói hệt như đang bị đốt trên lửa nóng.(10)

          Phần Dostoievski cũng phô bày một sự can đảm tương tự. Trong các cuộc hỏi cung gay gắt, nhà văn đă tự chủ một cách cao thượng và b́nh tĩnh đáng kinh ngạc. Trong đám, có vài người quỵ ngă hay quỳ mọp trước mặt các nhân viên mật vụ. Riêng Dostoievski vẫn không chút suy nhược, thái độ chịu đựng, ôn ḥa.

          Ngay cả khi Đại tướng Rostovtsev cố gắng tâng bốc nhà văn bằng luận điệu không tin rằng tác giả Những Người Nghèo Khó lại có thể nhúng tay vào việc bẩn thỉu như thế, rồi xúi giục Dostoievski nên chối nhận tội lỗi để được trắng án, nhà văn vẫn giữ im lặng để tỏ rơ sự trung thành với những bạn tù của ḿnh.

          Trong bản tự kiểm dài 50 trang tŕnh lên hội đồng đề h́nh, Dostoievski không giấu sự lui tới với nhóm Petrashevski, nhưng phủ nhận điều buộc tội các cuộc tụ họp mang mục đích lật đổ chính thể. Ông nói, đó là một hội nhóm gặp gỡ giữa những người trẻ tuổi mơ mộng chỉ biết ca ngợi cái Đẹp và t́nh nhân loại, theo như “hệ thống ḥa b́nh” của lư thuyết Fourier.

          Nhà văn đoan xác:

          “Tất cả chủ nghĩa tự do của tôi đặt nồng cốt trên nỗi ước muốn những điều tốt đẹp nhất           cho quê       hương.”

          Ông cũng không do dự khi tuyên bố:

          “Tôi luôn luôn tôn trọng Petrashevski v́ sự thành thật và tâm hồn cao cả của anh ấy.”

          Chỉ mỗi điều ao ước “cái ǵ khá hơn cho đất nước” đó mà nhà văn bị gọi là “một người có tư tưởng tự do”, điều không thể được chấp nhận dưới chế độ Nga hoàng lúc bấy giờ.

          Dostoievski cũng xác nhận đă rất thích thú trong vấn đề xă hội, nhưng không bao giờ trở nên một người theo thuyết xă hội chủ nghĩa:

          “Xă hội chủ nghĩa chỉ bao gồm những điều đảo lộn, hệt như thuật giả kim trong ngành hóa học, thuật chiêm tinh trong ngành thiên văn, nhưng tôi tin rằng trong cái đảo lộn ấy       có thể làm nẩy sinh những điều hợp lư và hữu ích, giống như thuật giả kim đă được khai mở từ ngành hóa học và thuật chiêm tinh được khám phá từ ngành thiên văn.”

 

          Thật vậy, dẫu từng là một phần tử tham dự trong các cuộc thảo luận về mọi biến cố chính trị vừa xảy ra ở Pháp, Dostoievski vẫn không tin điều này có thể tạo nên một sự đối kháng chế độ chuyên quyền trong đất nước:

          “Không thể được. Không ǵ có thể vô nghĩa hơn một chế độ Cộng Ḥa ở Nga.”

          Bằng vai tṛ của một nhà văn chuyên nghiệp, ông đoan xác rằng chủ thuyết Fourier giống như một hệ thống “tức cười, không phổ dụng, đáng vất bỏ và phải bị quên lăng trong khinh bỉ.”

          Ông cũng khai với hội đồng rằng đă từng thảo luận về chế độ kiểm duyệt, cũng như phàn nàn theo “sự kiểm duyệt nghiêm khắc một cách vô lư dành cho Púshkin, thi sĩ quốc gia”.

          Nhà văn chỉ trích chính quyền trên khuynh hướng băi bỏ tất cả mọi tác phẩm mới trong nỗi nghi ngờ hay kết án về ngay cả một dẫn khởi nhỏ nhất trên một thực tế nước Nga. Ông nói:

          “Người ta không thể vẽ khi chỉ có trong tay những ống màu nhạt. Làm cách nào để mặt sáng của    một bức tranh được nh́n ra nếu không có mặt đậm? Ánh sáng được nhận thức do bởi có bóng tối. Chúng ta không thể biết đạo đức nếu không có sự đồi bại; chính ngay những khái niệm về điều Thiện và sự Ác đều được bắt nguồn từ vấn đề này. Thiện và Ác luôn luôn hiện hữu cạnh nhau.”

         

          Trong sự tŕnh bày, Dostoievski không chỉ tỏ ra thâm hiểu những ư tưởng cấp tiến riêng, lại c̣n công khai chỉ trích hệ thống cai trị của chính quyền.

          Nhưng dù không có sự giả trá trong các lời khai, bản tường tŕnh cũng không là hoàn toàn sự thật. Dostoievski không khai chút nào về nhóm Durov. Cho đến khi bị thúc ép bởi hội đồng đề h́nh, nhà văn đă cố gắng biện minh rằng: “Đó chỉ là một nhóm người không làm hại ai ngoài sự yêu thích nghệ thuật.”

          Lời “giải thích” của bị cáo rơ ràng đạt đến mức thần t́nh khéo léo đến độ hội đồng đề h́nh không chút nào ngờ rằng đă có sự hiện hữu của nhóm Durov. Dostoievski bị buộc cung cấp thêm chứng cớ. Lập tức, để thỏa măn những câu hỏi nghi ngờ, nhà văn nghĩ ra toàn thể câu chuyện, khai rằng đă bị thúc đẩy xếp đặt, trù định thành lập một tờ báo bí mật:

          “Đêm, tôi thường đến chơi nhà Durov. Sự quen biết giữa tôi với Durov và Palm bắt đầu từ mùa đông năm trước. Chúng tôi được lôi kéo lại gần nhau do những điểm tương đồng trên ư nghĩ và sở   thích. Cả hai, Durov, và nhất là Palm, gây nên trong tôi những ấn tượng đẹp. Không có nhiều bạn nên tôi rất xem trọng sự quen biết mới này và không hề muốn đánh mất đi. Ṿng giao thiệp của     Durovhoàn toàn đặt trên nền tảng văn chương, nghệ thuật.

          Thời gian ngắn sau đó, tôi, anh tôi, Pleshcheyev, Durov và Palm quyết định xuất bản một hợp tuyển, do đó phải gặp nhau thường xuyên hơn. Các cuộc hội kiến biến thành những đêm thảo luận văn chương, có cả âm nhạc.

          Khi nghe Filippov đề nghị rằng họ nên bí mật in các bài viết khác nhau của nhóm nhưng không đệ tŕnh lên cơ quan kiểm duyệt, Durov tỏ ra rất khó chịu. Riêng anh tôi th́ tức khắc đe dọa sẽ rút lui khỏi nhóm. C̣n tôi lại thuyết phục tất cả không nên chấp nhận dự thảo đưa ra của Pavel Filippov.

          Sau điều này, chúng tôi gặp nhau chỉ một lần nữa thôi.

          Do bởi Palm bị bệnh mà những đêm họp mặt hoàn toàn bị cắt đứt.”(11) 

 

 

          [Nhận định về chàng sinh viên Pavel Filippov, tác giả cuốn “Giải Thích Về Mười Điều Răn Của Chúa”, sau này Dostoievski đă viết: “Pavel Filippov c̣n rất trẻ, nhiệt t́nh, hoàn toàn chưa có kinh nghiệm, sẵn sàng tự hiến thân cho sự điên rồ không lư do và sẽ nghĩ khá hơn về điều ấy chỉ khi nào một lần nữa anh tạo ra sự rủi ro, bất hạnh. Tuy nhiên anh có rất nhiều điểm tốt để nhờ đó tôi ưa thích anh, ví dụ ḷng thành thật, vốn học thức, tính tao nhă, sự ngay thẳng, dũng cảm và một tâm hồn chân thành cởi mở.”]

 

 

          Qua lời khai trước hội đồng đề h́nh, người ta có thể nhận thấy, từ đầu câu chuyện, nhà văn đă đóng một vai tṛ trung thực và không chủ tâm vi phạm pháp luật. Ông cũng đáp tương tự khi được hỏi về tờ báo, quả quyết rằng chỉ được biết về loại in thạch bản chứ chẳng hề nghe ai nói đến sự in bằng giấy mực.

          Tóm lại, thật khó để t́m ra một kẽ hở trong các lời khai của Dostoievski. Đại tướng Rostovsev đánh giá ông là “một con người rất thông minh, tự chủ, khéo léo và có tài luồn lách.”

 

 

 

          IV.

          Do bởi sự khiếm khuyết bằng chứng của các tội nhân và sự cố gắng nửa vời của ban điều tra mà hội đồng đề h́nh không thành công trong việc phanh phui toàn diện các hành vi của nhóm Petrashevski.

          Nhóm xă hội bí mật của Speshnyov cũng không bị khám phá, dù sự thật rằng một bản lưu về lời tuyên thệ của những phần tử có kư tên đă được t́m thấy.

          Cảnh binh cũng chẳng phát giác nơi chốn đặt máy in: Các họ hàng của Mordvinov đă nhấc cánh cửa bị niêm phong ra khỏi bản lề và lấy đi tất cả báo chí.

          Nhiều năm sau, khi một bản tường thuật về vụ án được công bố ở Leipzig, đề cập điều này, Dostoievski đă nói: “Toàn thể âm mưu đều tan biến.”

 

 

          [Để hỏi sự liên hệ của nhà văn với nhóm Petrashevski đạt đến độ nghiêm trọng nào th́ thật là điều         khó trả lời cho chính xác nếu chỉ căn cứ qua các tác phẩm về sau Dostoievski sẽ viết. Trong những hồi ức, ông có khuynh hướng thổi phồng cái quá khứ cách mạng của ḿnh, vạch ra rằng ông đă “bị lưu đày như một tội nhân chính trị” và cũng không từ chối điều “có thể trở thành một kẻ khủng bố”.

          Mặt khác, trong bản tường tŕnh lên hội đồng đề h́nh, Dostoievski đă tỏ ra cố gắng một cách hiểu     biết để tầm thường hóa sự có mặt của ḿnh trong nhóm, đổ lỗi cho những tác phẩm về cuộc cách mạng ở Pháp như một ảnh hưởng thu hút trí năo, đồng thời lại đoan xác rằng nỗi mê đắm đó chỉ là một sự lạc lối trên con đường bấy giờ ông đang ao ước thoát ra càng nhanh càng tốt.

          Tất nhiên, có dư luận bàn căi rằng những hành động của nhà văn khi hiện diện trong nhóm Petrashevski chỉ là t́nh cờ, bởi ông từng căm ghét xă hội chủ nghĩa từ khi c̣n niên thiếu. Nhưng, lời miêu tả của Apollon Maikov về “cái thây ma Socrates” từng tuyên bố rằng tất cả mọi thứ đều đă “sẵn sàng cho một cuộc nổi dậy” đă đưa ra một chút chống đỡ nhỏ về quan điểm này.

          Dù vậy, thật cường điệu nếu nh́n Dostoievski như một người tiền phong của cuộc Cách           Mạng tháng 10/1917, hay để xác nhận rằng sự nhúng tay của ông căn cứ một cách có ư thức trên một        tầng lớp tranh đấu”. Trong các cuộc thảo luận sôi nổi, nhà văn tỏ ra có khả năng kêu gọi một cuộc nổi dậy (ông là một người mang bản chất rất đam mê). Nhưng từ hầu hết các dữ kiện thu lượm được đă nói lên điều Dostoievski hy vọng một sự cải cách từ chính quyền và không thật ḷng tin tưởng trên bất cứ phương tiện thay đổi nào.

          Quả thật, về sau nhà văn xác nhận, ông không bao giờ là một môn đồ của những tư tưởng cực đoan mà nhóm Petrashevki đă có khi dựa trên niềm tin về một hiến pháp sẽ được thành h́nh suốt qua các phương tiện khích động.         

          Nói rơ hơn, giai đoạn đó, nhà văn chỉ hiện thân là đồ đệ của Fourier theo một xă hội chủ nghĩa “không thù ghét, không đấu tranh bằng bạo lực”.

          Tuy nhiên, trước ṭa án quân sự, cái ước muốn trong ông về “điều ǵ đó khá hơn cho đất nước” tự nó đă là một tội h́nh rất gần với hành động tham dự vào một cuộc cách mạng sẽ xảy ra.]

         

 

          Khi bị cật vấn về việc đọc lá thư Belínski ngày 15/4/1849 tại nhà Petrashevski, Dostoievski đă cố ư đánh lạc hướng bồi thẩm đoàn bằng kiểu nói lê thê, lẫn lộn:

          “Ngày tháng nào thật quả t́nh tôi không nhớ (h́nh như tháng Ba th́ phải?), tôi được mời đến nhà Durov khoảng hai hay ba giờ chiều. Nơi đây, tôi nh́n thấy lá thư Belínski bỏ trong một phong b́, ngoài đề tên tôi. Ngay tại chỗ, tôi đọc nó cho Durov và Palm nghe.

          Độ 6 giờ, Petrashevski ghé ngang chừng 15 phút. Anh ấy hỏi tôi: ‘Sổ ghi chép ǵ vậy’

          Tôi đáp là lá thư Belínski gửi Gogol. Rồi một cách dại dột, tôi hứa sẽ đọc nó tại nhà anh một ngày thứ Sáu nào đó. Tôi làm điều này trong cùng sự thúc đẩy như cảm nghĩ của lần thứ nhất.

          Sau khi Petrashevski đă bỏ đi, vài người khác t́m đến. Hoàn toàn tự nhiên, cuộc đàm thoại xoay quanh lá thư Belínski. Lần thứ hai, tôi lại đọc nó tại nhà Durov ngay hôm ấy.

          Riêng việc đọc tại nhà Petrashevski ngày 15/4/1849 là bởi v́ tôi đă trót hứa và chẳng thể rút lời.

          Tôi bỏ công ra đọc không phải với dụng ư tŕnh bày sự mê thích của ḿnh với ai khác, hoặc là thông tin cho người khác biết điều đó.”

 

          Như vậy là Dostoievski đă đọc lá thư phản động của Belínski đến ba lần! Thêm vào, Filippov lại khai trước hội đồng đề h́nh rằng đă nhận lá thư từ tay Dostoievski, sau đó sao lại thành hai bản khác cho ḿnh. Riêng Dostoievski cố gắng chứng minh rằng ông đọc lá thư Belínski “giống như đọc một tác phẩm văn chương không hơn không kém”. Nhà văn nói đă không tán thành lá thư, và giữa ông với Belínski từng xảy ra xung đột. Ông cũng chẳng khai tên những ai liên quan đă cùng đọc nó.

          Một điều lạ lùng là trong các cuộc hỏi cung dai dẳng và mệt mỏi ghê gớm, các triệu chứng của bệnh động kinh đă không hề thấy xuất hiện với Dostoievski.

 

 

          V.

          Sau 5 tháng làm việc, ngày 17/9/1849, hội đồng đề h́nh gửi lên Hoàng đế tất cả bản cáo trạng. Họ không thành công trong việc phanh phui một mưu đồ bí mật hoặc bất cứ tổ chức tuyên truyền nào khác, nhưng gán cho toàn thể vụ án tội danh “âm mưu tư tưởng” và không đưa ra quyết định.

          Sau đó, vụ án được đem xử lại trong một phiên ṭa hỗn hợp dân sự và quân sự, được dựng nên bởi ba vị đại tướng và năm nhà làm luật. Viên chánh án là phụ tá Đại tướng Vasily Perovski, em trai Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Do những kiếm t́m hời hợt của hội đồng, Hoàng đế sợ rằng sự tuyên án sẽ quá nhẹ, nên ra lệnh đem vụ xử ra trước ṭa án quân sự và đ̣i hỏi “những kẻ tà giáo này” phải chịu h́nh phạt thật xứng đáng.

          Dưới sự cai trị hà khắc của Nga hoàng Nicholas I, một hành động vô t́nh nhất cũng có thể bị nh́n như một chống đối chính trị nguy hiểm. V́ vậy, với tội danh âm mưu lật đổ chính quyền, 23 người trẻ tuổi cùng bị kết án tử h́nh.

          Chỉ thị của Hoàng đế bao gồm một tổng số chính xác cho những phí tổn:

          -Sự chuyên chở tội nhân

          - 7 thanh gươm được bẻ găy ngang đầu những chàng trí thức trẻ tuổi như một biểu tượng cho sự tước quyền công dân của họ.

          - 8 cái cùm chân.

          - 8 tấm vải liệm phủ mặt.

           -Các khoản phí tổn này sẽ do những người giàu nhất trong đám tội nhân nhận chịu.

          - Petrashevski và Speshnyov phải nộp ba ngàn rúp cho sự chi phí trên đoạn đầu đài và đội súng.

          -Duy chỉ người nông dân dựng lên đoạn đầu đài là được nhà    nước trả công.

 

          Ngay các cố vấn của Hoàng đế cũng bị khó chịu bởi sự trả thù vua chúa này. Có vài lời đề xướng rằng có lẽ không cần thiết với điều trang phục tù nhân trong tấm vải liệm; không luôn cả sự ra lệnh những người lính lên c̣ súng, nhưng tất cả đều bị Hoàng đế từ chối.

          Chỉ một điểm duy nhất được chấp nhận là các tội nhân được miễn khỏi phải tự tay đào nấm mồ chôn chính ḿnh ngay nơi hành quyết. “Những xác chết sẽ không được chôn trong bất cứ nghĩa trang quân sự hay dân sự nào, ngoài nghĩa địa gia đ́nh”, đó là lệnh cuối cùng Hoàng đế đă ban ra.

          Khi phiên ṭa hoàn tất ngày 16/11/1849, Dostoievski nhận được một án lệnh với bản cáo trạng như sau:

          “Ṭa án quân sự nhận biết, viên cựu Trung úy Kỹ sư Công binh Dostoievski có tội trong sự kiện xảy ra vào tháng 3/1849 là đă nhận từ tội nhân Pleshcheyev bản sao lá thư độc         hại của Belínski       chống đối giáo hội và chính phủ, sau đó đọc to lên trong hai buổi tụ họp khác nhau, đầu tiên tại nhà tội phạm Durov, thứ hai tại nhà tội phạm Petrashevski; xong, đưa lá thư cho tội phạm Mombelli để sao thành nhiều bản.

          Xa hơn nữa, Dostoievski c̣n hiện diện tại nhà tội phạm Speshnyov để nghe đọc bản văn phản động Cuộc Đàm Thoại Của Các Chiến Sĩ, được viết bởi tội phạm cựu Trung úy Grigoryev.

          Nay chiếu theo luật h́nh sự Phần V, Tập I, đề mục 142, 144, 169, 170, 172, 174, 176, 177 và 178,   ṭa án quân sự tuyên bố viên cựu Trung úy Dostoievski phải bị tước quyền công dân và bị tử h́nh trước một đội súng.”

 

 

          VI.

          Sau 8 tháng giam cầm, sáng sớm ngày 22/12/1849, các tội nhân bị đánh thức bởi những tiếng la hét và tiếng bước chân nặng nề trong hành lang pháo đài.

          Cuối cùng, án lệnh được đọc to lên. 23 người trẻ tuổi bị đưa lên 23 chiếc xe bít bùng, theo sau là một đoàn cảnh binh sắc phục với kiếm cung đầy đủ.

          Đoàn xe được lái ra khỏi pháo đài Peter & Paul, tiến thẳng về băi tập hợp của chiến lũy Semyonovski, nơi được dùng làm pháp trường xử bắn.

          Trời mùa đông rất lạnh, mây mù giăng kín, tuyết rơi không ngớt, sương giá bám đầy lên các cánh cửa xe.

          Khi đoàn xe ngừng lại, các tội nhân ló đầu ra ngoài th́ thấy ngay một tu sĩ mặc áo lễ, trên tay cầm cuốn Thánh Kinh và cây thánh giá. Ông nói: “Hôm nay các con sẽ nghe án lệnh. Hăy theo ta!”

          Đám người trẻ vấp lên vấp xuống trong tuyết, cạnh bên những người lính. Tiếng trống vang dồn dập. Một đội súng được chọn lọc từ các trung đoàn, đă có mặt từ trước. Đây là ư kiến đặc biệt của Hoàng đế: “Những sĩ quan sẽ bị hành quyết bởi chính những sĩ quan bạn trong trung đoàn của họ.”

          Có chừng ba ngàn dân chúng đứng lặng yên chứng kiến cảnh tượng, đa số là những người đang trên đường đi đến nơi làm việc. Bầu không khí thật căng thẳng; trên mặt ai nấy đều tỏ nét xót thương cho “những con người bất hạnh” và không hiểu tại sao họ lại bị hành quyết.

          Ngay giữa công trường là một đoạn đầu đài rộng chừng 16 mét và cao khoảng 2 mét, trên mặt sàn có phủ lớp vải đen; ba hàng cọc được dựng lên phía trước; đàng sau là một hàng xe ngựa chất đầy những cỗ quan tài.

          “Thật không tin nổi. Chẳng lẽ chúng ḿnh chỉ c̣n vài phút để sống thôi sao?”, Dostoivski th́ thầm với Durov bằng một giọng nao núng. Nhưng Durov im lặng đưa tay chỉ về phía những chiếc xe mang các cỗ quan tài.

          Đám tội nhân được đưa lên đoạn đầu đài, xếp thành hai hàng, đối diện với đội súng phía trước. Trời lạnh khủng khiếp, vậy mà trên ḿnh họ chỉ phong phanh chiếc áo mùa hè.

          Đứng nơi hàng thứ hai được dẫn đầu bởi Pleshcheyev, kư ức Dostoievski bỗng sống dậy mạnh mẽ với tác phẩm Ngày Cuối Cùng Của Tên Tử Tội của Victor Hugo. Ngay trong giây phút sắp đối diện Tử Thần, chữ nghĩa vẫn đeo đuổi nhà văn!

 

          [Ba mươi hai năm sau, Dostoievski đă kể lại kỷ niệm này như vậy].

 

          Lần nữa, một hồi trống vang to, mang theo điềm xấu. Một sĩ quan bước lên đoạn đầu đài, bắt đầu đọc lớn án lệnh của từng tội phạm. Chẳng mấy chốc, cái tên Dostoievski được gọi:

          “Cựu Trung úy Kỹ sư Dostoievski, 27 tuổi, v́ tham dự trong mưu đồ lật đổ chính phủ và đă cho lưu hành lén lút một lá thư chứa đựng những lời lẽ phản động chống lại triều đ́nh và giáo hội     chính thống, đồng thời truyền bá các tác phẩm bị ngăn cấm bằng phương tiện in thạch bản, nay bị tuyên án tử h́nh trước một đội súng.”

          Cái chóp h́nh nón của một giáo đường gần đó phát ra tia sáng yếu ớt dưới ánh mặt trời đang tỏa rộng.

 

 

          [Về sau, nhà văn nhớ lại, ngay giây phút án lệnh riêng ông được đọc to, đôi mắt nhà văn chỉ ngây ngất chú mục vào những tia sáng phản chiếu từ cái chóp ấy. Một ư nghĩ xuyên suốt qua óc: “Toàn thể cuộc sống mới vĩnh cửu làm sao! Giá ta không bị bắn chết th́ điều vô tận này sẽ tùy thuộc về ta! Ta sẽ sống đến tận cùng và không giây phút nào được lăng phí.” Ư tưởng này trở nên quá sức chịu đựng đến nỗi nhà văn chỉ ao ước mỗi điều là người ta hăy bắn ông ngay đi!]

 

 

          Sau khi tất cả các án lệnh đă được đọc, viên sĩ quan xếp mọi giấy tờ, bước xuống khỏi đoạn đầu đài. Những tội nhân được phân phát mặc vào các chiếc áo trắng với mũ liệm trùm đầu. Petrashevski phe phẩy tay áo, nói to giữa đám: “Các bạn nh́n xem, chúng ta trông rơ buồn cười với những tấm áo hề thế này!”

          Vị tu sĩ leo lên đoạn đầu đài, đối diện các phạm nhân, mở cuốn Thánh Kinh, đọc lên chương nói về Sự Chết. Ông đoan xác với họ rằng, cái chết của thể xác không phải là điều chấm dứt. Suốt qua niềm tin và sự nhận thức được tội lỗi, họ có thể vẫn thừa hưởng cuộc sống đời đời. Chỉ một người trong đám tử tội là tiến về phía vị linh mục để nhận thánh lễ. Tất cả các người c̣n lại đều cúi đầu hôn lên thánh giá.

 

 

          [Ba mươi hai năm sau, Dostoievski viết:

          “Trước khi nh́n thấy cây thánh giá, tôi thật không hiểu ǵ cả. Cái chết không thể tránh khỏi. Giá như nó đến càng nhanh càng tốt. Và rồi tôi bị chụp bắt bởi một sự lănh đạm sâu xa. Vâng! Vâng! Vâng! Một sự lănh đạm! Tôi không quan tâm nữa đến đời sống hay những ǵ đang xảy ra quanh đó. Tất cả trở thành vô nghĩa trong giây lát khủng khiếp khi tôi sắp sửa phải bước vào một cơi không tên dầy đặc tối đen.”]

 

 

          Một sĩ quan kêu lớn với vị tu sĩ: “Thưa cha, cha đă làm xong phận sự. Bây giờ không c̣n việc ǵ khác nữa cho cha.”

          Vị tu sị lẩn ngay vào giữa đám đông.

          Nhà văn quay nói lời vĩnh biệt với Pleshcheyev và Durov đứng ở hai bên, rồi th́ thầm cùng Speshnyov nơi hàng trước: “Chúng ta sẽ đến với Chúa.”

          Speshnyov trả lời trong cái cười ngạo mạn: “Chúng ta sẽ chỉ c̣n là một nắm đất!”

          Sự giam cầm bấy lâu đă làm Speshnyov tiêu ṃn: vẻ đẹp trước kia trên mặt ông bỗng như biến mất.

          Tất cả các tội nhân, khăn trùm từ mặt kín đến quá cổ, được dẫn xuống khỏi đoạn đầu đài và đưa đến trói thúc ké vào các cây cột xếp theo hàng ngang, trước họng súng của đội lính.

          Petrashevski, Mombelli và Grigoryev là ba người đứng ở hàng cột thứ nhất.

          Trước khi bị trói, Petrashevski muốn nh́n thẳng vào cái chết nên cố cởi bỏ chiếc khăm trùm mặt, nhưng không được. Có tiếng hô: “Chuẩn bị bắn!”

          Đội súng giơ cao báng, nhắm thẳng vào các tử tội.

          Nửa phút nghẹt thở trôi qua mà vẫn chưa nghe tiếng nổ. Bỗng có ai đó xuất hiện, phất phất một mảnh vải trắng và các người lính hạ súng. Một chiếc xe tiến vào công trường. Một viên sĩ quan nhẩy xuống đưa cho Đại tướng Sumarokov phong thư niêm kín.

          Đó là chiếu chỉ của Hoàng đế. Đại tướng tiến về phía trước, đọc to tờ chiếu. Án tử h́nh được hủy cho tất cả. Trong đám tử tội, lệnh tha lan nhanh.

          “Ai đ̣i hỏi điều này?” giọng Durov khó chịu.

          Không ai trả lời. Tất cả đều như bị chụp bắt bởi sự lănh đạm. Chỉ mỗi Palm ré lên: “Hoàng đế muôn năm!” Nhưng thật nhanh sau đó, ông bật khóc v́ chẳng thấy người bạn nào làm như ḿnh cả.

          Vào đúng ngay giây phút được cởi trói khỏi cột trụ, N.P. Grigoryev bỗng hóa điên và không bao giờ c̣n b́nh phục nữa.

          Petrashevski là kẻ nổi loạn đến cùng. Khi người thợ rèn đến buộc chiếc xiềng vào cổ chân ông, ông lớn giọng phản đối: “Không ai có quyền chạm đến một nhà quư tộc.”

          Rồi, giật cái búa từ tay người thợ, Petrashevski tự đeo cái cùm vào chân ḿnh. Xong, lảo đảo vài bước, ông thốt lời vĩnh biệt các bạn. Sau đó, ông bị đặt lên một chiếc xe ba ngựa, tiến thẳng về hướng Tây Bá Lợi Á. Cái án của ông là lưu đày chung thân khổ sai.

          Nhiều nhân chứng đứng ngoài bật khóc.

 

 

          [Sự thật, án tử h́nh giả mạo chỉ là một tṛ đùa độc ác của Nga hoàng Nicholas I trên đám tử tội. Chính tự Hoàng đế không hề có ư định xử bắn nhóm Petrashevski, nhưng để cho họ một bài học, ngài chỉ cho dàn cảnh mọi chuyện với đầy đủ thủ tục trước khi hành quyết. Soi sáng điều này, người ta được biết rằng bồi thẩm đoàn trong phiên ṭa hỗn hợp đă đề nghị lên Hoàng đế một bản án nhẹ hơn cho Dostoievski và được chấp thuận: “Bốn năm lao động khổ sai và sau đó sẽ phải phục dịch như một người lính hạng bét.”

          Ngày 19/12/1849, Dostoievski được nghe đọc lên án lệnh, do chính tay Hoàng đế viết. Một vài người cho là “cực kỳ dă man” trong h́nh phạt ấy, nhưng trên thực tế, đó lại là một sự giảm tội rất đáng ngạc nhiên.

          Theo luật nước Nga, một kẻ bị tuyên án lưu đày khổ sai th́ tự động bị tước quyền công dân. V́ vậy, khi đưa ra lời phán “Dostoievski phải phục dịch như một người lính trơn sau khi thi hành án lệnh” tức là Hoàng đế đă ban một biệt lệ với nhà văn.

          Về sau, chính Dostoievski cũng nhận ra như vậy nên cho rằng “khi quyết định tước đoạt tuổi trẻ và tài năng tôi, Hoàng đế đă tỏ ra cân nhắc”.

          Điều này đúng nếu đem so sánh với các tội phạm cách mạng, hoặc được kể như có hành vi phản động, h́nh phạt ban ra c̣n ghê gớm hơn rất nhiều.

          Dù vậy, sự thống khổ khốc liệt đă lưu lại dấu ấn sâu xa trong tâm hồn nhà văn nhiều năm sau đó. Nỗi giao động theo với sự gần kề cái chết đă đeo đuổi ám ảnh ông suốt cả đời. Dẫu cho ḷng sùng kính Thiên Chúa có hướng dẫn đến đâu trong ư nghĩ chấp nhận tất cả mọi cam go, nhà văn vẫn không ngớt nhớ lại qua các sáng tác về sau, những kinh nghiệm khủng khiếp mà kẻ tử tội Dostoievski từng đă trải.

          Một nhà sử học Đan Mạch viết: “Tính bốc đồng của Nga hoàng trong lệnh xử giả mạo đă đánh mạnh vào hệ thần kinh Dostoievski, khiến ông tồn tại và trở nên một trong những khuôn mặt vĩ đại nhất của nền lịch sử văn chương thế giới.”

          Dẫu sao, cũng chắc chắn rằng, theo một cuộc thử nghiệm của bác sĩ ở pháo đài Peter & Paul, Dostoievski cảm nghe tuôn chảy trong người một nỗi vui mừng khôn xiết. “Tôi chẳng thể nhớ có ngày nào sung sướng hơn thế nữa? Trong khi đi lui đi tới trong căn hầm ở thành lũy Alekseyevski, luôn miệng hát lớn, tôi quá vui mừng v́ đời sống được mang trở lại cho tôi.”]

 

 

          Cùng ngày 22/12/1849, “sự nhạo báng” khủng khiếp của Hoàng đế được Dostoievski thuật lại với Mikhail như sau:

          “Pháo đài Peter & Paul, ngày 22/12/1849,

          Anh thân yêu, người bạn quư của em,

          Bây giờ tất cả mọi thứ đă được quyết định. Em sẽ bị giam cầm trong 4 năm (có lẽ là ở Orenbourg) và sau đó sẽ phải giáng cấp thành một anh lính trơn hạng bét.

          Hôm nay, 22/12/1849, bọn em được chở tới công trường Seminovski, nơi bản án tử h́nh sẽ được đọc. Tất cả được đưa cho hôn cây thánh giá. Họ bẻ găy những thanh gươm trên đầu bọn em, bắt        mặc vào ḿnh chiếc áo trắng dành cho kẻ tử tội. Xong, cứ từng ba người bị gọi tên, đưa đến trói sát vào nhau nơi mỗi cây cột dựng lên giữa pháp trường. Em đứng vào hàng cột thứ hai.

          Em biết ḿnh chỉ c̣n sống được không quá hơn một phút. Em nghĩ đến anh. Ngay giây phút cuối cùng ấy, trong đầu em, chỉ mỗi h́nh ảnh anh hiện hữu. Và em chợt nhận ra rằng em yêu thương anh biết bao, anh thân ái vô cùng của em. Em quay sang hôn Pleshcheyev và Durov đang bị trói chung với em, nói lời vĩnh biệt cùng họ.

          Bỗng dưng có tiếng trống nổi lên. Những ai đă đứng vào cột hành quyết th́ được tháo giây, đẩy lùi về phía sau. Họ đọc to bản cáo thị Hoàng đế đă dung tha tội chết cho tất cả. Ngay sau đó, lệnh lưu đày được tuyên bố, trong có tên em, luôn cả tên Durov và Yastrzhembski.”

 

          Lá thư viết ra chỉ vài giờ sau khi Dostoievski thoát khỏi án tử h́nh. Đó là những lời của một người đă nh́n thấy Thần Chết giơ cao lưỡi hái, đang đứng trước mặt.

          Tuy nhiên, trong lá thư cũng c̣n cho thấy sự hoang mang và nỗi vui mừng dữ dội của một kẻ biết ḿnh vừa mới từ ngưỡng cửa địa ngục trở lại trần gian:

          “Anh thân yêu,

          Em không tuyệt vọng đâu. Em sẽ không để mất nghị lực. Đâu đâu cũng là cuộc sống. Cuộc sống ở ngay trong chính tâm hồn chúng ta mà không phải là ở cơi đời đời.

          Và dù nơi xa kia, vùng trời Tây Bá Lợi Á, sự ghê rợn đang chờ đợi, em sẽ vẫn được bao quanh bởi những con người. Giữa đám họ, em vẫn luôn luôn là một con người, nên không tự cho phép ḿnh gục ngă. Sẽ không việc ǵ bất hạnh xảy ra. Cũng chẳng có ǵ phải nản ḷng dao động. Đây là mục đích và ư nghĩa của cuộc sống. Em đă hiểu điều đó. Ư tưởng này trở thành một phần của thân thể máu huyết. Vâng, thật thế anh à. Điều ấy dẫn dắt đến sự sáng tạo, khởi nguồn cho nghệ thuật đẹp đẽ và trở nên quen thuộc cho tinh thần cao thượng. Nó cũng là điều đă từng đè nặng trái tim em.”

          Có những ư nghĩ u buồn trong lá thư:

          “Những ǵ c̣n lại chỉ là kỷ niệm cùng h́nh ảnh, những tác phẩm đă viết ra và những ư tưởng em chưa thực hiện. Giá em nhận 15 năm tù với một cây viết trong tay c̣n hơn chỉ 4 năm mà không được tự do viết lách! Mọi nỗi này chắc sẽ là nguyên nhân tạo nên đau khổ lớn cho em.”

          Lá thư c̣n là một lời thú tội đầy xúc cảm:

          “Nh́n lại quá khứ, em tự hỏi, cớ sao ḿnh đă bỏ phí quá nhiều th́ giờ vô ích, cớ sao lại để trôi    tâm trí trong ảo tưởng, lỗi lầm? Cớ sao đắm ch́m năng lực trong vẩn vơ uổng phí và cớ sao em đă không biết cách sống trong khi đời sống là một món quà, mỗi phút qua đi đều có thể là từng hạnh phúc bất tận cho em! Giá như đám trẻ hiểu rơ điều này, anh nhỉ!”

          Trên hết, lá thư là một bản thánh ca mà những hân hoan chỉ được t́m thấy suốt qua sự đau khổ:

          “Bây giờ cuộc đời em đă thay đổi; bây giờ em lại được tái sinh. Anh thân yêu, em thề rằng sẽ không để mất hy vọng. Em sẽ giữ tâm hồn trong sáng và trái tim cởi mở. Em sẽ được hồi sinh cho điều tốt và không thù hận. Đó là toàn thể hy vọng, niềm an ủi từ đây của em. Em vẫn c̣n thân xác và máu huyết nguyên vẹn. Ngay lúc này, em vô cùng hoan hỉ v́ t́nh thương và có thể ôm hôn bất cứ ai trong quá khứ em từng giao thiệp.

          Em trải qua kinh nghiệm ấy ngày hôm nay khi đối diện với cái chết và khi nói lời vĩnh biệt với tất           cả những ǵ thân yêu cũ. Những thứ ấy chính là cuộc sống. Và em ngẩng nh́n mặt trời.

          Vĩnh biệt anh! Đừng buồn khổ cho em.”

 

 

          [Quả thật, sự thử thách chẳng là ǵ nếu đem so sánh với giá trị cực độ của đời sống.

          “Đời sống là món quà, đời sống là hạnh phúc”.

          Ngay lúc đứng ở ngưỡng cửa cơi chết, với Dostoievski, sự sinh tồn mang ư nghĩa bí mật mănh liệt. Chủ thuyết “bí mật tự nhiên” này sẽ c̣n lưu lại với nhà văn như một nền tảng triết lư trong tác phẩm và đời sống. Án tử h́nh biểu thị là một biến cố quyết định trong nội tâm riêng. Cuộc đời Dostoievski đă phân thành hai giai đoạn rơ rệt. Quá khứ chết hẳn. Một hướng đi mới vừa khởi sự.

          Cho dù tương lai chỉ là mịt mù về vùng Tây   Bá Lợi Á quanh năm buốt giá th́ trong tâm hồn nhà văn, niềm tin về cuộc sống và con người vẫn không bị ră tan.]

          []

 

 

CUỘC LƯU ĐÀY TÂY BÁ LỢI Á

 

 

          I.

          Sau khi thoát được cái chết, ba người, Dostoievski, Durov và Yastzhembski cùng bị đày đi Tây Bá Lợi Á. Nhà văn xin được nói lời từ biệt với Mikhail nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, một yêu cầu từ Mikhail lại được chấp nhận. Vào đêm 24/12/1849, chỉ vài giờ trước khi khởi sự cuộc lưu đày, hai anh em được phép gặp nhau. Người bạn tên Alexandr Milyukov có mặt ngay lúc đó, về sau kể lại:

          “Đôi môi run run, lệ đoanh tṛng mắt Mikhail; riêng Fyodor vẫn tỏ ra rất b́nh tĩnh. Ôm anh trong tay, Dostoievski nhẹ nhàng an ủi: ‘Đừng khóc nữa, anh thân yêu! Đây đâu phải là một đám tang. Anh nào phải đang nh́n em bị chôn vùi vào ḷng đất? Tây Bá Lợi Á không là nơi dành cho thú dữ. Ở đó có những con người; những con người có thể tốt hay xấu hơn em.

          Vâng, chúng ḿnh sẽ gặp lại nhau, em tin chắc như thế. Anh nhớ viết thư và gửi sách cho em. Bọn   em rồi cũng sẽ được phép đọc sách. Nhớ gửi cho em nhiều sách. Bao giờ có thể, em sẽ viết về cho anh ngay, kể với anh từng cuốn sách đă đọc. Cuộc lưu đày hẳn phải có ngày chấm dứt. Khi ấy em sẽ sáng tác trở lại. Thời gian trong nhà tù Petropavlovski, trải qua nhiều kinh nghiệm, trong óc em dầy đặc những ư tưởng. Trước mắt em hăy c̣n nhiều điều cần nên ghi nhận. Em sẽ viết lại hết mọi nỗi này.’”

 

          Không mấy chốc sau, Dostoievski bị dẫn tới một người thợ rèn và được đeo vào cổ chân sợi dây xiềng bằng sắt. (Trong hơn bốn năm kế tiếp ở Tây Bá Lợi Á, cái cùm nặng 10 cân này trở thành vật bất ly, khiến nhà văn cảm nghe thật khó khăn và đau đớn mỗi lần di chuyển.)

          Cuối cùng, Dostoievski được đặt vào trong một cái xe trượt tuyết không mui với một tên lính sen đầm ngồi cạnh. Durov và Yastzhembski ngồi trên hai chiếc khác. Dẫn đường bởi một viên chức chính phủ, đoàn người tiến thẳng về hướng Tây Bá Lợi Á trong tiếng chuông nhà thờ đang dồn dập, chào mừng sự xuất hiện của Chúa Hài Nhi.

 

 

          [Năm năm sau, trong lá thư ngày 22/2/1854, từ Omsk gửi về cho Mikhail, nhà văn viết:

          “Anh vô cùng yêu dấu,

          Anh có nhớ lần chia tay của chúng ta? Sau khi anh rời khỏi nơi đó, đúng 12 giờ khuya đêm Chúa           Giáng Sinh, riêng biệt mỗi người, Durov, Yastzhembski, và em, bị xiềng cả tay lẫn chân vào một       sợi dây xích nặng chừng 10 kư. Mỗi bước di động đều vô cùng khó nhọc. Họ bắt bọn em ngồi trong những cái xe trượt tuyết không mui, mỗi người một chiếc, kèm bên là một anh lính gác.

          Cả bốn chiếc, dẫn đầu là của một trung sĩ nhất, cùng rời khỏi Pétersbourg.

          Em nghe ḷng nặng nề đau đớn, pha lẫn nhiều cảm giác khác lạ. Sự lo sợ đầy ắp làm trái tim tê dại theo một nỗi ước ao cay đắng. Nhưng làn không khí trong lành đă thức tỉnh em, đem em trở     lại b́nh thản, giống như tâm trạng một kẻ cưu mang trong người một sức sống mănh liệt trước mỗi biến chuyển của cuộc đời. Em mải mê nh́n những mái nhà đầy ánh sáng vui thú, âm thầm thốt lời vĩnh biệt với từng góc phố, con đường.

          Bọn em đi qua nhà anh, rồi lại nhà Krayevski sáng trưng đèn đóm. Em đă được anh nói cho biết rằng Krayevski có tổ chức tiệc Giáng Sinh và vợ con anh sẽ đến cùng tham dự; cho nên lúc đi ngang qua đấy, trong tim em chợt lan rộng một nỗi buồn vô kể. Vậy là từ nay em phải rời xa tất cả những đứa cháu thân yêu. Lần lượt các vùng ngoại ô hẻo lánh, các tỉnh lỵ Novgorod, Yaroslav           khuất xa tầm mắt. Tâm tư em giá lạnh, nhưng kỳ diệu làm sao, chuyến hành tŕnhkhông làm sức khỏe em suy nhược.

          Khi cả bọn băng qua vùng Urals buồn thảm, em thật chết trong ḷng. Có một trận băo dữ dội đang xảy ra khi ấy. Những con ngựa và bốn chiếc xe bị vùi sâu trong tuyết. Tất cả đứng đợi giữa đêm cho đến lúc các chiếc xe được kéo lên. Vạn vật chung quanh đều phủ đầy tuyết trắng. Nơi đây giáp ranh giới Âu Châu. Trước mặt bọn em là vùng Tây Bá Lợi Á và cái định mệnh bí mật đang chờ đợi, sau lưng là quá khứ bị bỏ lại. Quả t́nh chỉ muốn ứa nước mắt mà thôi.

          Ngày 11/1/1850, đoàn xe đến Tobolsk. Các phụ nữ, vợ của những người bị lưu đày trước đó, đứng nh́n theo bọn em bằng ánh nh́n giống như cho người thân của họ. Thật phi thường làm sao những tâm hồn ấy! 25 năm cố gắng liên kết và tự hy sinh cả đời ḿnh theo với cuộc lưu đày của           chồng! Bị canh gác rất nghiêm nhặt nên bọn em chỉ nh́n thấy họ khi băng ngang qua đó. Dẫu vậy, các phụ nữ ấy vẫn t́m cách gửi được cho bọn em thực phẩm, áo quần và những lời khích lệ, xẻ chia.]

 

 

          Trong cuộc hành tŕnh ngang qua Tobolsk này, Dostoievski được Natalya Fonvizin, vợ của một người trong nhóm Décembriste gửi tặng cuốn Phúc Âm. (Trong bốn năm lưu đày ở Omsk, nhà văn luôn giữ quyền sách bên giường như một bửu bối).

          Lúc tạm ngừng ở Tobolsk, ba tội nhân bị nhốt trong một căn buồng nhỏ, tối đen và lạnh buốt. Yastzhembski cảm nghe tuyệt vọng đến nỗi toan tự tử. Cũng chính nhà văn là người đă cứu bạn. Về sau, trong tập hồi kư riêng, Yastrzhembski kể lại:

          Một cách không ngờ, chúng tôi được ban cho ngọn nến nhỏ, đôi cây diêm và ít trà nóng. Dostoievski có vài điếu x́ gà ngon, ai đó trong các người vợ tù nhân đă gửi tặng. Cả ba trải qua suốt đêm trong cuộc tṛ chuyện thân mật đầy t́nh bạn hữu. Với giọng nói khàn ấm áp, thái độ dịu dàng, phong cách tao nhă, ngay cả với tính khí bất thường và hết sức đàn bà, Dostoievski đă đem yên tĩnh rất nhiều cho tôi. Tôi bèn loại bỏ tất cả những quyết định mănh liệt ra khỏi đầu.”

 

          Ngày 23/1/1850, nơi tỉnh Omsk, ba tội nhân được đưa đến trại trừng giới. Tại đây, dù có từng là một người nổi tiếng đến đâu đi nữa, Dostoievski vẫn phải nhận chịu tất cả những h́nh phạt khắc nghiệt y hệt những tên giết người cướp của. Sống giữa những điều kiện kinh khủng của hoàn cảnh khi ấy, nhà văn bắt đầu xây dựng lại chính con người ḿnh. Cái nh́n về cuộc đời trong ông đă đổi thay toàn diện.

 

 

          [Từ khi khởi sự chấp hành cuộc sống lưu đày cho đến 1854, mối liên lạc thư từ giữa Mikhail và Fyodor bị gián đoạn hẳn. Bốn năm sau, nói về quá tŕnh của ḿnh, trong lá thư đề ngày 22/2/1854   gửi cho em trai, nhà văn kể:(12)

          “Bốn năm vừa rồi thật đúng là quăng thời gian anh bị ‘chôn sống trong một nấm mồ’ em ạ. Nó kinh khủng đến nỗi anh không đủ can đảm thuật lại cho gia đ́nh nghe. Đó là một chuỗi đau đớn nhọc nhằn nối tiếp nhau, tưởng như vô tận. Từng lúc trôi qua là từng lúc tâm hồn anh bị đè nghiến, giống như đang đeo đá tảng. Tù nhân chung quanh đều là những kẻ tính khí thô lỗ, tục tằn và hung bạo. Sự gớm ghét của họ đối với giới người lương thiện thật vô bờ bến; do đó, họ nh́n bọn anh bằng thái độ cừu địch và trên nét mặt, ḷng hiểm độc được phơi bày rơ. Họ có thể ăn tươi           nuốt sống bọn anh nếu như có dịp. Một trăm năm mươi kẻ thù địch không bao giờ biết mệt mỏi trong sự khủng bố hành hạ bọn anh, bởi đó là điều làm cho họ vui thú, một sự giải trí, là công việc của họ. Bọn anh phải gánh chịu ḷng căm thù ghê gớm họ dành cho toàn thể giới thượng lưu           xuyên qua những tṛ hành hạ ngược đăi.

          “Tất cả mọi người sống tụ lại trong một cái trại. Sàn nhà mục nát trơn trợt dễ ngă và được phủ một lớp dầy toàn rác bẩn thỉu. Mùa đông, cái ḷ đốt được thẩy vào vài khúc gỗ nhưng không chút nào ấm áp, chỉ làm khói phun ra càng thêm dầy đặc. Tù nhân giặt giũ        áo quần ngay trong trại khiến cho toàn thể khu vực nhỏ bị bắn đầy nước. Không có nơi nào khác để xoay trở.

          Từ nửa đêm đến rạng sáng, cửa trại khóa kín, chẳng ai được đi ra ngoài đại tiện hay tiểu tiện. Có     một cái bô vệ sinh đặt ngay lối đi; do đó mùi hôi thối xông lên không lúc nào nguôi. Thân thể phạm nhân nồng nặc như lợn và họ nói rằng họ khó thể không hành sử y hệt những con lợn. Trong          trại đầy ruồi nhặng.

          Mùa đông, mỗi bữa ăn, tù nhân được phát cho một tô súp bắp cải lỏng lẻo và không thêm ǵ khác nữa. Dạ dầy anh lúc nào cũng đau quằn quại, đôi lần anh ngă bệnh đến thật khó nhọc khi phải rời khỏi giường. Không ai trong số các phạm nhân chịu đựng nổi một cuộc sống như vậy. Điều tệ hại nhất là sự hoàn toàn không t́m ra nơi đâu một quyển sách. Cuốn Thánh Kinh, anh phải đọc trong    âm thầm kín đáo. Con người, những kẻ sống tại đó, có thể được tha thứ nếu có lúc nào họ nói lên rằng:‘Tất cả những điều kiện chung quanh đều đáng ghê tởm y hệt như trong một thứ địa ngục trần gian!’”]

 

 

          Dẫu cho có nhận lănh cây thập tự giá của riêng ḿnh một cách hoan hỉ cỡ nào cũng thật khó để vác được nó lên trong hoàn cảnh kinh hoàng như thế. Cá chất tự nhiên của những người tù chung quanh làm Dostoievski luôn luôn lo lắng. Nhà văn sợ hăi các người nông dân thô lỗ, giết người cướp của này c̣n nhiều hơn những kẻ quỷ biện từng quen biết ở xă hội Pétersbourg.

          Tuy nhiên Dostoievski cũng nh́n thấy tính quan trọng chủ yếu của sự lao động chân tay, một thứ công việc duy nhất mà ông được phép hành động.

          Lúc bấy giờ, tôn giáo trở thành nguồn an ủi trên hết cho nhà văn. Đặc biệt với cuốn Phúc Âm, Dostoievski đọc nó trong bất cứ lúc nào rỗi rảnh. Từ sâu thẳm tâm tư, đức tin về Thiên Chúa trỗi dậy mạnh mẽ, loại đức tin “không giống như khi c̣n bé tôi từng tin yêu Chúa, mà chính là niềm tin được trui rèn trong cái ḷ vĩ đại của ḷng ngờ vực, hoài nghi”.

          Vào chính ngay giây phút khủng khiếp đứng trước các họng súng Tử Thần của đội lính xử tử, “con người cũ” trong Dostoievski hoàn toàn bị tiêu diệt.

          Bốn năm ở Omsk, “con người mới” khởi sự cuộc “tái tạo niềm tin”.

          “Sự tái sinh” bắt đầu bằng một phán xét tàn nhẫn trên chính bản chất và toàn thể cuộc đời quá khứ mà ông đă sống. Trong trại giam, giữa đám phạm nhân thô lỗ, giữa những tiếng la hét của “một trăm măm mươi kẻ thù địch”, nhà văn tự đóng kín nội tâm ḿnh với thế giới bên ngoài.

 

 

          [Tôi nhớ lại toàn thể lúc bấy giờ, dù cho với hàng trăm bạn tù, tôi vẫn sống trong niềm cô đơn tuyệt đối, và cuối cùng, đâm ra yêu thật nhiều nỗi cô đơn đó. Một ḿnh thường xuyên đối diện tâm tư, tôi thẩm xét lại tất cả mọi việc, sắp xếp mọi chi tiết rồi cẩn trọng nghĩ ngợi về những điều ấy và tự phán xét ḿnh một cách cứng rắn nghiêm khắc. Hy vọng lóe lên làm trái tim đập mạnh. Tôi tự kiên quyết thề rằng trong cuộc sống tương lai sẽ phải không c̣n có sự khiếp sợ, hoặc suy sụp, như điều trước kia tôi từng vấp phải.

          Tôi chờ đợi và trả giá vận mạng ḿnh trong cuộc chiến đấu lần nữa. Tự do, một cuộc đời mới, ‘một sự phục sinh từ cơi chết’. Thật đúng là phút giây sáng ngời hoan hỉ làm sao!]

 

 

 

          II.

          Từ thuở nhỏ, nơi Dostoievski đă cho thấy có những dấu hiệu của bệnh động kinh. (Theo những ghi chú nhật kư để lại th́ ngay khi c̣n niên thiếu, sự phát chứng bao gồm “nỗi sợ hăi cái chết, sự nửa mê nửa tỉnh, nỗi đau khổ không nguyên nhân xuất hiện trong hồn và một cảm giác -mà Dostoievski từng kể cho người bạn tên Soloviev nghe- giống y như đang sắp phải chết đứng tại chỗ; tiếp ngay theo đó là trạng thái chính xác của sự hoàn toàn chết”.

          Andrei, em trai nhà văn, cũng kể lại rằng, khi chưa đầy 10 tuổi, Dostoievski đă có thói quen mỗi đêm trước khi đi ngủ, thường để lại một mảnh giấy nhỏ nơi đầu giường, viết rằng ông “có thể chết luôn trong giấc ngủ”, do đó “van xin gia đ́nh quàn quan tài lại trong năm ngày rồi hăy chôn”.)

          Thời gian lưu đày ở Omsk, có chuyện kể rằng:

          “Một bữa, đám phạm nhân được lệnh phá hủy một sà-lan trên ḍng Irtysh. Một người trong bọn           tên Rozhnovski đánh rơi cái búa và bị buộc phải lặn sâu xuống ḍng sông để t́m nó. Dostoievski và một tù nhân khác phải giữ sợi dây mà Rozhnovski đă cột vào ḿnh. Bất thần, viên cai ngục tàn ác Krivtov xuất hiện, ra lệnh cho họ buông sợi giây. Dostoievski và người tù kia không tuân lệnh nên sau đó bị trừng phạt bằng roi rất tàn nhẫn.

          Nhà văn phải trải qua vài tuần trong bệnh viện, sức yếu đến nỗi những tù nhân khác tưởng ông đă chết. V́ vậy họ mới đặt cho ông biệt danh “cái thây ma”. Khi trở lại trại giam, nhà văn đột nhiên té sấp xuống sàn và lên cơn co giật.”

          Câu chuyện về cơn động kinh này không được xác nhận rơ. Nhưng một điều chắc chắn là cơn động kinh thật sự thứ nhất trong đời Dostoievski đă xảy ra trong trại tù ở Omsk.

 

 

          [Trong thư gửi Mikhail đề ngày 30/7/1854, nhà văn viết: “Em từng kể anh nghe về bệnh trạng của em. Một chứng bệnh kỳ lạ, giống như động kinh, mặc dù không phải là động kinh. Tuy nhiên xin anh đừng cho rằng em buồn sầu và quá quan tâm đến sức khỏe, giống như em từng làm ở Pétersbourg trước đó. Tất cả quá khứ ấy đă hoàn toàn trôi qua hết, không để lại chút dấu vết     nào trong em.” Trong một thời gian dài, Dostoievski đă không ngờ (hay không muốn ngờ) rằng ông bị vướng vào bệnh động kinh.

          Năm 1857, một bác sĩ tên Yermakov đă tŕnh bày về những điều liên quan đến bệnh trạng Dostoievski trong nhà tù ở Omsk như sau: “Vào năm 1850, lần đầu tiên Dostoievski bị đau đớn v́ sự lên cơn của bệnh động kinh, biểu thị bằng một tiếng hét lớn, tứ chi mặt mày co giật, miệng sùi nước bọt, thở rống lên, mạch đập ngắn, nhanh và nhỏ. Cơn động kinh kéo dài khoảng 15 phút. Tiếp theo đó là trạng thái yếu ớt, tri giác hồi lại.

          Năm 1853, cơn động kinh xảy ra lần thứ hai và kể từ đó cứ xảy ra vào mỗi cuối tháng.”]

 

 

          Bốn năm trôi qua trong trại trừng giới ở Omsk, Dostoievski vẫn không quỵ ngă. Nhà văn đối diện h́nh phạt khổ sai bằng cái năng lực kỳ lạ như đă từng phô bày trong tám tháng biệt giam và trong các lần hỏi cung gay gắt dạo trước. Kinh nghiệm đớn đau và bản chất nghệ sĩ đă mang được cho tâm tư nhà văn một nỗi trầm lặng trên sự ḥa hợp với ngoại tại. Dần dà, nhà văn trở nên quen thuộc với mọi thống khổ tinh thần, dày ṿ thể xác, và với những kẻ tù tội trên đủ mọi tầng cấp.

 

 

          [Thư viết cho Mikhail:

          “Bốn năm trong tù, cuối cùng em đă t́m ra ‘những con người đúng nghĩa’ giữa đám phạm nhân giết người cướp của. Anh có tin rằng nơi đây từng hiện hữu những bản chất thật sâu sắc, mạnh mẽ và cao quư? Quả là tuyệt vời khi ḿnh chợt khám phá ra một lớp vàng bên dưới cái vỏ ṣ cứng ngắc, thô nhám. Nhưng không phải chỉ một, hay hai, mà nhiều lắm anh ạ. Có vài người ḿnh không thể không kính trọng, vài kẻ khác lại rơ ràng đáng quư.

          Em có dạy đọc và viết tiếng Nga cho một chàng Cô-dắc trẻ tuổi, bị lưu đày v́ ăn cướp có vũ khí. Anh ta tỏ lộ với em cả một tấm ḷng biết ơn sâu sắc. Một phạm nhân khác đă khóc khi bị đổi đi xa      khỏi em. Em thường cho người này tiền, nhưng có đáng là bao: ḷng tri ân của anh ta trả lại cho em quả t́nh vô hạn.

          Có hàng loạt những kiểu mẫu con người và cá chất khác nhau mà em dần dần trở nên thân thiết. Em sống đời sống của họ đến nỗi em tin rằng đă hiểu họ rất rơ.

          Em nhận biết được điều này anh ạ: ‘Con người phải cưu mang đau khổ’. Đau khổ cần thiết để làm cho tâm hồn trở nên thanh khiết. Đau khổ là phương cách cứu chữa tất cả mọi tội lỗi con người đă làm.

          Biết bao câu chuyện về những kẻ vô lại với muôn h́nh vạn trạng bày ra trước mắt em, không che đậy giấu diếm. Nói chung là những kẻ nghèo, những kẻ cùng khổ, sự hiểu biết của họ đủ cho ḿnh         viết thành một bộ sách lớn. Đó thật là những con người tuyệt diệu! Em không chút nào lăng phí th́ giờ trong việc học biết về người dân Nga, những người Nga thật sự, giống như chỉ vài kẻ hiếm hoi trên đời đă được biết về họ thôi.]

 

 

          Nhà văn chẳng những không mất niềm tin về cuộc đời và con người, trái lại, c̣n an ủi Mikhail, kẻ duy nhất thật sự thân thiết với ông, qua những bức thư hai anh em trao đổi:

          “Chưa từng bao giờ em cảm nghe trong ḿnh sôi sục một tinh thần phong phú như hiện tại. Chưa           bao giờ em nhận biết nhiều đề tài nảy sinh dồi dào, như lúc này chúng đang rộn ràng nhảy múa    trong trí năo em. Cuộc đời em bây giờ đă đổi thay anh ạ. Em được tái sinh trong một thể thức mới. Em thề với anh rằng sẽ không để mất hy vọng và sẽ giữ tâm trí ḿnh trong sạch ngay thẳng.

          Từ bây giờ, đó là tất cả nguồn sống, đem an lạc hạnh phúc cho em.”

 

          Khởi đầu ở cái tuổi 28 để rồi trải qua bốn năm liền vô cùng khủng khiếp trong trại tù ở Omsk, mặc cho những cơn động kinh, mặc cho t́nh trạng cơ khổ cực kỳ trên cả tinh thần lẫn thân xác, Dostoievski vẫn không hề tỏ ra mất niềm tin về con người, ngay cả đối với những người tù khổ sai tâm tính tàn ác c̣n hơn cả loài cầm thú.

          Ông t́m an ủi trong sách Phúc Âm và trong tấm ḷng của những kẻ đồng cảnh ngộ.

          Cuối cùng, một mẫu người đầy năng lực nơi Dostoiev- ski dần dần hiện rơ. Những kinh nghiệm trải qua trong bốn năm ở Omsk đă dự phần rất lớn trong sự khai triển tâm trí nhà văn. Tại đây, hơn bao giờ, ông thành công trong sự học hỏi, cảm nhận và phân tích về tâm hồn những kẻ bị tổn thương và bị sỉ nhục.

          Trên nhiều mặt, phải nhận rằng, Tây Bá Lợi Á chính là ngôi trường duy nhất đào tạo mỹ măn bản chất của một đại văn hào trong con người Dostoievski.

          []

 

 

 

 



(1) Pierre Joseph PROUDHON (1809-1865) nhà chính trị học (Pháp).

(2) Charles FOURIER (1772-1837) nhà xă hội học (Pháp).

 

(3) Tài liệu về sự giao thiệp của nhà văn với nhóm Petrashevski không được lưu lại nhiều. Có một nỗi nghi ngờ sâu xa đă ngăn cản nhà văn tránh viết những lá thư thời gian này, luôn cả với Mikhail khi ấy đă dời về sống ở Pétersbourg. Nhờ thế, sau khi bị bắt, Dostoievski dễ dàng tầm thường hóa sự giao thiệp của ông với cả nhóm. Với hội đồng đề h́nh, nhà văn được ghi nhận không phải là “một kẻ hay nói vớ vẩn, ngay khi với chỉ vài ba người bạn trong khách thính nhà Petrashevski”, và “chỉ phát biểu ba lần trên chủ đề bản ngă cá nhân”.

(4) Viên mật vụ Antonelli được gài vào nhóm Petrashevski đă viết trong bản áo cáo: “Toàn nhóm bị mê hoặc.” Nhưng trước hội đồng đề h́nh về sau, Dostoievski không nói ǵ về sự thành công của ḿnh trên vấn đề này; chỉ xác nhận rằng ông đă đọc “toàn thể” thư từ trao đổi giữa Gogol và Belínski mà không ngă về phe nào cả. Dù vậy, ai cũng biết rằng lập tức sau buổi đọc thư đó, nhà văn để cho rời khỏi tay lá thư mà theo các viên chức công tố là “đầy những công bố liều lĩnh chống lại các giới chức cao cấp và Giáo Hội Chính Thống” và nó được sao chép lại thành nhiều bản.

(5) Có chuyện kể rằng, Petrashevski đă cho dựng ngay trên điền thổ riêng của ḿnh một địa điểm tụ họp dành cho các nông nô của ông, và lập tức sau đó, chính những người này đă nổi lửa đốt đi nơi chốn tụ họp đó.

(6) Viên mật vụ Antonelli đă đệ tŕnh rất tỉ mỉ báo cáo về buổi họp ngày 1/4/1849 tại nhà Petrashevski như sau: “Tại buổi họp ngày 1/4/1849, cuộc bàn căi xoay quanh vấn đề tự do báo chí, sửa đổi thủ tục luật pháp và giải phóng nông nô. Golovinski đưa ra ư kiến, điều cần thiết trước tiên là nông nô phải được tự do. Trong khi đó Petrashevski biện luận rằng sự cải cách hệ thống luật pháp th́ ít nguy hiểm, chắc chắn và gần trong tay hơn. Theo chiều hướng này, Golovinski lại bảo sự thay đổi chính phủ không thể th́nh ĺnh thực hiện và điều trước tiên cần chuẩn bị là một chế độ độc tài. Petrashevski phản đối mạnh mẽ ư kiến ấy và trong phần kết thúc buổi họp đă nói rằng ông là người đầu tiên giơ tay lên chống lại sự độc tài.”

(7) Méphistophélès là nhân vật trong tác phẩm Docteur Faust của Goethe, hiện thân cho quỷ Satan, xuống trần gian để thỏa măn những đam mê của Faust.

(8) Décembristes: (c̣n gọi là Décabriste, phiên âm từ Nga ngữ “Dekabr” (có nghĩa “tháng 12”), là tên gọi của một nhóm nhỏ trong cuộc nổi dậy lật đổ Nga hoàng ngày 26/12/1825, gồm các người trong giới quư tộc có tư tưởng tự do và các sĩ quan trẻ muốn thực hiện những cải cách xă hội và chính trị cho nước Nga kể từ sau cuộc xâm lăng của Napoléon năm 1812. Cuộc chính biến xảy ra nhân dịp lên ngôi của Nicholas I (1825-1855), nhưng bởi sắp đặt lủng củng và thiếu sự ủng hộ của quần chúng, cuộc nổi dậy tức th́ bị dập tắt và những thành viên phải nhận lănh những h́nh phạt rất nặng. Trong số 121 người bị đưa ra xét xử trước một phiên ṭa đại h́nh, năm người bị treo cổ, 102 người bị lưu đày khổ sai Tây Bá Lợi Á. Nhưng dù thất bại, cuộc nổi dậy cũng đă gây một ấn tượng rất mạnh trên quần chúng và được các thế hệ sau nh́n nhận như một bước mở đầu cho cuộc cách mạng trong lịch sử cận đại của nước Nga. Trong những thập niên kế tiếp, giới chính trị và các nhà tư tưởng cấp tiến vinh danh nhóm Décembristes như những người tiên phong trong cuộc tranh đấu giải phóng nông nô. Họ cũng cố gắng, trên cách của họ, theo sau bước chân nhóm Décembristes.

(9) Cardinal de Richelieu, giám mục và cũng là chính trị gia người Pháp (1582-1635).

(10) Thời gian ngắn sau đó, Natalya Fonvizina, người sẽ gặp Petrashev -ski nơi thị trấn Tobolsk trên đường lưu đằy, đă được nh́n thấy tận mắt vết bỏng nơi ngón tay Petrashevski

(11) Nếu cảnh sát không bắt giữ cả nhóm Petrashevski, rất có thể những thành viên nhóm Durov sẽ nhúng tay thật sự vào hành động cách mạng. Ngay thời điểm ấy, chàng tuổi trẻ Dostoievski cảm nhận sâu xa một sự cần thiết phải thay đổi xă hội ở Nga. Tuy vậy, cho đến cuối đời, Dostoievski tỏ ra không chút nào tin tưởng theo những điều mà ông đă ôn ḥa tŕnh bày trước hội đồng đề h́nh, căn nguyên cho mọi tranh đấu hăng say dường nào của ông khi đó.

(12) Kư ức về những năm ghê gớm này đă là những chất liệu rất dồi dào cho quyển tiểu thuyết Căn Nhà Của Thần Chết và đoạn kết tác phẩm Tội Ác Và H́nh Phạt mà Dostoievski sẽ viết về sau.