Van Uyen



email ... Trang chính...

CÁI “TÀI” CỦA KẺ
LÀM NGHỆ THUẬT
KHÔNG MẤY TÀI HOA

Tâm Bút
(Trích NHỮNG MẨU RỜI DẤU ÁI
Tập IV)

.

Một cái may trong đời tôi là đã được gặp và giao thiệp với vài người vợ “thật sự là vợ” của các người bạn tôi (Văn Quang, Thế Phong, Phan Diên và Hoàng Vũ Đông Sơn). Bài viết này chỉ xin đưa ra hai người đàn bà đặc biệt trong đời Phan Diên và Hoàng Vũ Đông Sơn: chị Bonnie và chị Thanh Phương. Đó là những phụ nữ biết “làm sang cho chồng”, biết quên cái tôi của mình để chỉ nghĩ về cái tôi của chồng. Những người đàn bà Việt Nam xứng đáng điển hình cho giới nữ Việt Nam, nhất là trong vai trò vợ của một người nghệ sĩ Việt Nam –mẫu người bao giờ cũng cứ vướng mắc không nhiều thì ít cái truyền thống chồng chúa vợ tôi rất là cổ lỗ sỉ!

Bài thứ nhất xin nói về Phan Diên và người vợ anh.

 

1
.

Phan Diên trẻ nhất trong số tất cả những vị “đồng nghiệp vong niên” của tôi. Anh lớn hơn tôi chừng dăm bảy tuổi, lại sống trong cùng một tiểu bang nước Mỹ. Do đó cả hai đâm “thân nhau” một cách tự nhiên. Cái “thân” của hai người bạn sẵn sàng nói lên cho nhau nghe những lời tâm sự mà không có vấn đề nam nữ chen vào làm cho úy kỵ. (Hẳn nhiên cũng chỉ là những lời lịch sự!) Cái thân của những người có cùng sự phẫn nộ trước những điều giả tạo nhìn thấy trong giới văn nghệ hải ngoại chung quanh.

 

 

[Một điểm lạ ghi nhận trong suốt cuộc đời tôi rằng, chỉ trừ ra các người Tình, còn với những người Bạn Trai, ai cũng đều nghĩ về tôi trong vai trò một người cùng giới (!) dẫu vẫn dành cho tôi chút yêu chiều (vì dù sao tôi cũng là một phụ nữ!]

Phan Diên quý tôi và công khai phô bày sự quý ấy bằng lời nói hoặc qua những lá thư nho nhỏ. Anh hay bảo: “Tâm hồn BG trong sáng quá!” Cái trong sáng như (anh kể) “Có lần tôi đưa cuốn Tài Hoa Và Cô Đơn Như Một Định Mệnh cho một ông bạn quen. Ông này đã già, đọc xong, trả lại cuốn sách và nói: ‘Tôi chỉ cần đọc bài viết về Phạm Duy cũng đủ thấy sự trong sáng của tâm hồn cô này. Chữ nghĩa thẳng thừng nhưng không hàm chút gì ác độc.” 
         

Tánh anh dù hiền hòa nhưng cũng rất bộc trực, biểu lộ qua lối phê bình nhẹ nhàng những người những việc mà anh thấy rằng “không được”. Hẳn nhiên cái bộc trực của anh không có tính cách “sát xà phòng vào mặt” như của Thế Phong, cũng không “băng băng thẳng tuột” như của tôi; lý do dễ hiểu vì anh là họa sĩ, chỉ biết cầm cây cọ. Mà họa sĩ thì thường thiên về hình ảnh bề mặt nhiều hơn là xoáy vào bên trong chiều sâu thâm thúy như lối nhìn của một nhà văn.
         

Nói như thế không có nghĩa rằng “không có sự suy nghĩ” trong hội họa. Trái lại, đã có, và có rất nhiều. Họa sĩ “suy nghĩ” bằng màu sắc, bằng đường nét di chuyển của chiếc cọ trên nền vải, bằng mọi thể hiện phương cách mới lạ. Đó là những yếu tố cấu tạo nên “cái hồn” cho một bức tranh. Nhìn vào bức Sorrow rất đơn giản không theo qui tắc nào với những đường nét thật giới hạn của Van Gogh, chưa cần đọc đến câu chua bên dưới của họa sĩ: “Làm sao trên cõi đời này lại có một người đàn bà bị bỏ rơi bơ vơ dường ấy?” (Comment se fait-il qu’il y ait sur la terre une femme seule délaissée?”), ai cũng thấy cả một cái hồn bi thương cực độ phủ ập trên thân hình trần truồng của một phụ nữ nghèo khổ.
      

Hoặc, qua bức Au Soir de la Vie (1889) cũng của Van Gogh, với đường nét đơn giản, hình ảnh một ông già ngồi bên cạnh lò sưởi, úp mặt trong hai bàn tay, đã phô bày trọn vẹn nỗi cô đơn, nỗi buồn của một kẻ đang ở vào giai đoạn cuối của một đời người.
      

Đó là cái hồn của bức tranh được cấu tạo nên từ những “suy nghĩ” của họa sĩ.

Tuy nhiên, không phải ai cũng là Van Gogh, con người đã được chọn bởi Thượng Đế để ngay cả những khốn cùng đày đọa nhất đổ xuống trên cuộc đời họa sĩ cũng làm thành những luống rãnh nghệ thuật vĩnh cửu dẫn ra cho các thế hệ đi sau biết bao nguồn suối mát. Nỗi thống khổ càng to lớn bao nhiêu thì cái sức mạnh hoan lạc của những bước chân Van Gogh càng nhiều hơn bấy nhiêu trong cuộc hành trình dầy đặc bóng tối cô đơn.
            Phan Diên không phải là “kẻ được chọn” nên “sự suy nghĩ” trong hội họa của anh không “đạt”. Vì vậy mà qua những nét họa chân dung hay nét chữ viết đẹp một cách nắn nót, anh cũng phô diễn cho thấy điều hiền hòa tôi viết ở trên.
            Phải nói cho công bình, vào năm 1973-1974 tại Sàigòn, trong hơn 600 bức tranh dự thi cuộc triển lãm lưỡng niên hội họa toàn quốc mà chỉ có 60 bức được chọn treo ở Thư Viện Quốc Gia; thì trong số đó, có một bức của Phan Diên. Dù anh không phải là họa sĩ nhận giải, nhưng chỉ riêng bức của anh mới có cái vinh dự được mua bởi chính ngay ông Tổng Trưởng Giáo Dục Ngô Khắc Tĩnh để tặng lại cho một ông Tổng Trưởng Pháp.
            Và để nói cho công bình hơn, kể từ khi chuyên vào lãnh vực vẽ chân dung, lấy đề tài từ các nhân dáng bạn bè văn nghệ, qua đến bức vẽ họa sĩ Lê Chánh, anh đã tìm ra đường lối “phá phách” mới cho mình trên khuôn mặt người mẫu; có nghĩa, một bức chân dung loại này của Phan Diên thì cũng thật chân dung, nhưng không phải là một bức tranh “chết”. Trái lại, qua những “nét phá phách” được sử dụng bằng kỹ thuật dùng bóng tối (shadow) trong tranh mà “cái hồn” người mẫu mới thấy hiện ra. (Họa sĩ Tạ Tỵ khi nhìn bức vẽ về mình dưới nét cọ Phan Diên, đã lấy làm thích thú lắm, bật kêu: “Thế này mới đúng là Tạ Tỵ chứ!”)

Dù vậy, nói về nghệ thuật thì –dưới mắt nhìn riêng tôi—Phan Diên không đạt được cao điểm tài hoa như của bác Tạ Tỵ, không có nhiều sáng tạo trong việc xử dụng cây cọ. Anh chỉ có cái chừng mực của một người yêu nghệ thuật, yêu màu sắc. Một người cùng với số đông “bước đi trên một con đường đã được trải cho bằng phẳng” mà không phải là người ít oi ưa thích làm hành động “dọn dẹp hố hầm gai góc trên con đường mình phải bước đi.” Do đó, khi trò chuyện với nhau, tôi đã nhiều lần nghe anh kêu lên trong kinh ngạc: “Một con người với cái bản chất sống trên mây như BG mà phép lạ nào đã khiến BG đứng vững như thế?”
            Điểm kinh ngạc vừa nói đã chứng tỏ nên sự KHÔNG “đột phá” được trong anh, một cá tính rất cần thiết cho một con người làm văn chương nghệ thuật.  
            Có lần, tôi được nghe Phan Diên kể rằng từ 1961 đến 1964 anh cũng đã “làm thơ”. Khi tự thấy thơ mình “không hay” như thơ Du Tử Lê, anh đem chuyện hỏi anh chàng thi sĩ luôn kiêu hãnh ngất-trời-một-cách-rất-lố-bịch-về-mình (hai người là bạn của nhau) thì được trả lời: “Tại mày không có cái đam mê như tao!”
            Cũng lời Phan Diên kể:
            “Sau này qua Mỹ, thấy thằng Du Tử Lê làm bài Mai Này Tôi Chết Xin Đem Tôi Ra Biển hay quá, tôi chợt tỉnh ngộ nghĩ rằng mình không có được ơn thi sĩ như nó, cái số mình chắc chỉ phải lo kiếm cơm gầy dựng gia đình chứ không được làm thi sĩ. Vả lại tôi nghĩ, nếu ai cũng là thi sĩ thì trên đời này, ai sẽ làm chuyện khác? Do đó mà bỏ không bận tâm tới thi ca từ đây!”

Nghe xong câu trên về “giấc mộng thi sĩ dở dang” của Phan Diên, tôi đã quý anh, lại càng thêm quý. Cái đáng ca tụng ở đây chính là câu nói “Tôi tự biết mình không được ơn thi sĩ!” quả thật “mang tính thi ca” hơn bất cứ bài thơ nào tôi từng đọc. Một điều kiện tối yếu “ắt có” cho thi sĩ khi đặt bút thành thơ để những vần thơ của mình có thể làm rung động trái tim độc giả chính là lòng khiêm nhượng trong tâm hồn thi sĩ đó. Câu nói trên của Phan Diên nghe vừa xót xa trong sự nhẫn nhịn khiêm nhường, cũng thật đáng khâm phục trong chữ “TRI” không phải là dễ học.
            Điều đau khổ chung cho cái nhìn của kẻ thưởng ngoạn là cứ thấy nhan nhản trong vườn hoa văn nghệ Việt Nam nội và hải ngoại ở góc nào, xó xỉnh nào cũng có quá nhiều cành hoa thiếu nhựa chen chúc nhau, chẳng vươn lên được. Các cánh hoa này chẳng những không tô điểm được màu sắc cho khu vườn, làm vướng chân người dạo bước, lại còn phiền toái những kẻ có lòng “muốn quét dọn” nó cho sạch sẽ hơn.
            Cái hay của Phan Diên là biết được cái “tôi-hoa-không-nẩy-nở-nổi” đó trong khu vườn thi ca Việt Nam để mà tự rút lui, đỡ nhọc lòng kẻ dọn dẹp!
            Với tôi, (ngay cả) từ văn chương cho đến hội họa, âm nhạc, thi ca hoặc các loại hình nghệ thuật, kẻ thưởng ngoạn chỉ cần “cảm” mà không cần vận dụng trí não suy nghĩ. Tài hoa có hay không của người làm công việc sáng tác nghệ thuật chỉ là do ở điều có hay không cái “cảm” từ cái nhìn đầu tiên của kẻ thưởng ngoạn đối với tác phẩm của mình.

Nếu định danh “tài hoa” kiểu đó thì tôi có thể nói rằng Phan Diên không phải là một họa sĩ tài hoa cho tôi mong đợi. (Điều này tôi tin nếu có nói ra bằng lời, anh nghe, cũng chỉ cười xòa bởi vì đã hiểu được người bạn anh ra sao!) Ngược lại –như một bù trừ của Thượng Đế cho riêng tôi--, nơi anh, cái “cảm” thứ nhất và kết thành dài lâu trong tôi chính đã khởi đi từ cái nét hiền của đôi mắt anh, pha chút ngơ ngác như mắt một đứa trẻ. Thượng Đế thật công bình trên nhiều điểm; nhưng kỳ diệu nhất chính ở điểm, qua đôi mắt, Ngài không để cho bất cứ kẻ nào có thể che giấu được nội tâm riêng.
            Thì cái “tâm hiền pha chút ngơ ngơ” của đôi mắt Phan Diên chính là cái “tài” làm cho tôi bị cuốn hút ngay từ buổi đầu gặp gỡ. Tôi thấy tin cậy được anh. Thấy không cần âu lo thủ thế với một con người như vậy. Đó là một cái “tài” như tôi đã viết. Và ở đây dùng chữ “tài” cũng không phải là sai. Cái “tài” chinh phục được trái tim tôi, cảm nghĩ tôi và lòng quý trọng trong tôi. Cái “tài” cởi bỏ giùm tôi những nỗi sợ hãi đã thành một ấn tượng đậm nét theo cái giới sống của những con người làm văn nghệ ở hải ngoại. Trong giới này, thật phải nói, chẳng ai có được cái “tài” như Phan Diên đã có. Với ai, tôi cũng dễ dàng tìm ra cái “giả” (nai) của họ, cho đến một ngày cái “giả” ấy biến thành cái “thiệt” mà ló hẳn “đuôi chồn” ra trước mặt tôi!

 

2
.

Cái tánh tôi cũng rất “bạc” trong vấn đề giao thiệp. Tôi không thích những cuộc xã giao hời hợt và thường tắt điện thoại để tránh sự mất thì giờ. Cũng chẳng khi nào nhận lời đi đến những nơi có nhiều khuôn mặt của cái giới chỉ ưa chuyện thị phi qua hình thái nghệ thuật văn chương.

Vậy mà với Phan Diên, điều này trái ngược. Những cú điện thoại vì “nhớ BG quá!” vẫn gọi đến tôi, chia xẻ cho tôi các câu chuyện chữ nghĩa, đời sống, luôn cả tâm tình riêng biệt. Đó là những dịp cho tôi “nghỉ xả hơi” sau cả ngày miệt mài nơi cái dương cầm hay bàn viết. Là điều mà khi nhìn vào caller ID, tôi đã không thấy e ngại trong ý nghĩ “tiếc thì giờ quý báu!” Cũng lại điều không hề khiến tôi mang ý nghĩ “tâm sự với cái đầu gối của mình coi bộ thú hơn!”

Anh là người bạn rất chí tình. Cái chí tình của anh được thể hiện chẳng những qua lời nói mà còn cả qua hành động.

Lấy ví dụ, dạo tháng 8/2001, tôi và Âu Cơ xuống Santa Ana, điện thoại mời Phan Diên đi ăn. Bữa đó anh đem theo một người bạn thân Trung Hoa, giới thiệu với tôi tên Lý Văn Hoa, một trong 165 thư pháp gia Trung Hoa nổi tiếng nhất thế giới, hiện đang sống ở Canada.

Anh Lý Văn Hoa sau đó trở lại Canada, nói chuyện về tôi với một thi sĩ Trung Hoa hữu danh ở đó. Vị thi sĩ này đâm ưa thích câu chuyện kể (lời Phan Diên: “Có lẽ ông ta ‘giao cảm’ được với cái trong sáng trong tâm hồn BG?”) nên đã từ cái tên Thu Vân của tôi mà đặt hai câu thơ:

 

“Thu thủy văn chương trần bất nhiễm
               Vân sơn tráng lệ mộng vô hằn.”
            Hai câu này được viết lại thành cặp liễn đối bằng nét chữ anh Lý Văn Hoa rồi gửi sang Mỹ, nhờ Phan Diên đem tặng tôi.
            Một năm sau, vào ngày 9/9/2002, sau khi đã đem bồi cặp liễn, Phan Diên cùng vợ lái xe từ San Diego, tự tay mang lên San Jose cho tôi. Tôi không đọc được chữ Nho, nhưng nhìn nét bút anh Lý Văn Hoa, thấy đúng là rồng bay phượng múa, nên treo trong nhà như hai bức tranh cổ. (Tự nghĩ, hai bức này, nếu Nguyễn nhìn thấy, sẽ rất thích thú!)

 

 

 

[Mấy lúc gần đây có xuất hiện ông Vũ Hối, một người Việt Nam, trước là họa sĩ, nhưng thấy không bán được tranh vì chúng trông vô hồn quá, bèn nhảy sang lãnh vực “thư họa” và được rất nhiều kẻ ca tụng là nhà thư họa “có tài”, viết chữ quốc ngữ bằng bút lông mực xạ theo cái lối tượng hình kiểu chữ Nho. Cuốn thơ cuốn sách nào mới ra lò cũng thấy có ít nhất một trang chữ ông này viết. Hẳn nhiên ông ta “hốt bạc” cũng lắm theo cái trò thời thượng đó!
                Riêng tôi nhận thấy chữ Việt Nam là loại phát sinh từ các mẫu tự Tây Phương mà nếu dùng bút lông mực xạ tô lại theo kiểu chữ Nho thì quả là dơ dáy rườm rà, mất cả cái thanh tao của chữ Việt Nam! Mỗi lần nhìn các cuốn sách có chua ngay trang đầu giòng chữ của ông Vũ Hối (sau này cũng rất nhiều   người bắt chước!), tôi chỉ thấy hiện ra trong đầu bốn chữ “DƠ DÁY, RƯỜM RÀ”.
               

Kể từ khi có trong tay cặp liễn tặng của nhà danh thư họa Lý Văn Hoa mà lỡ có nhìn các bản viết tiếng Việt bằng mực xạ bút lông của ông Vũ Hối, rồi nhìn vào cặp liễn đối bằng nét bút rồng bay phượng múa, sắc cạnh rõ ràng như một bức tranh rất đẹp từ một người Trung Hoa chính hiệu viết chữ Nho chính hiệu, luôn luôn tôi thấy hiện thêm trong mình cảm giác MẮC CỠ đi kèm theo sau ý nghĩ “dơ dáy rườm rà” kia!]

Có lần ngạc nhiên với ý nghĩ tại sao lại dành cho Phan Diên một mối hảo cảm đặc biệt như vậy; thử tìm hiểu thì tôi thấy ngay câu trả lời cho chính mình. Ngoài đôi mắt hiền khiến tôi tin tưởng được cái tâm lành của anh, vẫn còn có hai lý do quan trọng để cho tình bạn không bị cái “bạc” của tôi chen vào quấy rối:


1/ Anh là người biết lắng nghe, biết đặt câu hỏi để khơi dậy mạch nguồn câu chuyện. Những cuộc điện đàm với anh rất thú, tôi cứ có cảm tưởng như đang được nhìn vào đôi mắt ngơ ngơ trong từng vấn đề đặt ra từ đôi môi anh. Đôi mắt của “một cậu học trò” khiến cho tôi có bổn phận giảng giải những điều cậu “chưa biết” mà không úy kỵ theo ý nghĩ có thể bị cho rằng tôi muốn phô trương kiến thức hiểu biết riêng!

[Đôi mắt tôi, ngay từ Vũ của năm tôi 18 tuổi cho đến mãi về sau qua những nhận định của những người đàn ông yêu tôi, đã được tiếng “dại khờ”, nhưng là cái dại khờ của một kẻ sống trên mây, triền miên sử dụng cái đầu cho những vấn đề của khối não để những thực tế chung quanh đâm trở thành ngỡ ngàng xa lạ.
           

Có ba kỷ niệm đáng nhớ về “đôi mắt dại khờ” ấy. Một lần trong thời lưu diễn Cải Lương, ban Tân Nhạc có dịp ở chung với một soạn giả đã lớn tuổi, được chúng tôi gọi là chú. Chú thường hay nhìn tôi cách đặc biệt. Có lần, trong một bữa ăn với tổ Tân Nhạc, chú hỏi tôi: “Nếu con không buồn, có thể cho chú đặt một câu hỏi?” Tôi cười, Dạ chú cứ hỏi. “Có bao giờ con rơi vào hoàn cảnh hút xì ke?” Tôi phá lên cười: “Nhiều người đã hỏi con câu ấy, nhưng con thành thật trả lời chú rằng chưa bao giờ bị dính vào ‘cái đó’. Trái lại, luôn luôn con vẫn ghê tởm khi nghĩ đến xì ke với sự nguy hại một cách tàn tệ của nó, chẳng những cho mình mà cho cả những người thân mình.

Rồi tôi đặt câu hỏi trở lại: “Nhưng tại sao chú hỏi con điều ấy? Có phải chú thấy con vẫn hút thuốc lá? Hay vì thân hình con gầy quá?” Chú lắc đầu: “Không phải hai điều vừa nói mà chính vì đôi mắt con.” Tôi ngạc nhiên thì chú gật: “Phải. Con có đôi mắt rất đặc biệt. Khi thì nó thật linh động sáng quắc, lúc lại vô hồn và trông rất xa xăm. Đó là trạng thái của kẻ hút hoặc một người trở nên điên vì sự suy nghĩ quá độ của mình.” Tôi lại phá lên cười: “Chắc con ở trường hợp thứ hai vì trường hợp thứ nhất đã bị loại.” Chú trầm ngâm: “Chú cũng sợ vậy. Chỉ mong con cứ nghĩ mọi thứ trong cuộc đời đều tầm thường không có gì đáng cho mình bận tâm cả.” Năm đó tôi mới 27 tuổi, không bao giờ nghĩ mình sẽ là một nhà văn ở tương lai!
                Một kỷ niệm khác: Một lần lái xe vào một bãi đậu ở San Jose; đang loay hoay tìm chỗ, bỗng thấy một người đàn ông Ấn Độ đứng trên lề, đưa tay chận tôi lại. Tôi tưởng ông ta hỏi đường, nên quay kiếng xuống. Ông chồm đầu vào xe, nói: “Đừng nên suy nghĩ nhiều quá, nếu không sẽ chẳng tránh được điều điên loạn cho cô!” Và ông cười, bỏ đi.

Dạo 2003, cô em gái bị bệnh tâm thần phải nằm nhà thương, hằng ngày tôi và Âu Cơ vẫn vào bệnh viện thăm em. Ở đây, có một cô gái điên khác nằm cùng phòng với em gái tôi, cũng rất ưa thích tôi. Mỗi chiều tôi vẫn đem bánh trái vào ăn và chuyện trò với hai cô. Một bữa, khi đang ngồi với nhau, cô gái kia chợt nói với tôi: “Chị có cái nhìn lạ quá. Em và Mỵ là hai con điên mà cũng không có cái nhìn như chị.” Tôi hỏi: “Lạ ở chỗ nào?” Cô cười: “Chị cứ nhìn đăm đăm một chỗ như thể nhìn mà cái đầu nằm ở đâu đâu!” Tôi thật kinh ngạc với nhận xét này từ một cô gái loạn thần kinh!]

So sánh giữa hai đôi mắt của tôi và của Phan Diên thì thấy anh may mắn hơn ở cái “ngơ ngơ” đó nên mới “được” tôi kết làm bạn. Trong đời, tôi CHỈ nể trọng và ưa thích giao thiệp với những con người “Biết thì thưa thì thốt, không biết thì dựa cột mà nghe!”

So sánh giữa hai đôi mắt của tôi và của Phan Diên thì thấy anh may mắn hơn ở cái “ngơ ngơ” đó nên mới “được” tôi kết làm bạn. Trong đời, tôi CHỈ nể trọng và ưa thích giao thiệp với những con người “Biết thì thưa thì thốt, không biết thì dựa cột mà nghe!”

2/ Điểm thứ hai quan trọng hơn trong mối hảo cảm tôi dành cho Phan Diên: Anh có bà vợ rất tuyệt, không bao giờ tỏ ra buồn phiền nếu chúng tôi có chuyện trò với nhau hằng giờ dài chưa dứt!Nêu ra điểm này, các vị độc giả của tôi có thể ngạc nhiên; chứ còn tôi thì không chút nào ngạc nhiên cả.
Thật sự, không biết từ bao giờ mà tôi đâm ra “rất e ngại” các người phụ nữ. Phải nói rằng, trong đời tôi chưa từng có người bạn gái nào thân thiết đến độ tâm giao như đã có với vài bạn trai. Các phụ nữ đến với tôi đều chỉ bằng cái lối xã giao hời hợt –theo tánh cách thông thường của họ, mà tánh tôi thì lại không thích cái gì hời hợt, do đó mà tình thân cho phụ nữ đã không tìm thấy.

            Nhưng để cho chính xác hơn, lại phải nói rằng, tình thân cho phái nữ, tôi có thể tìm thấy từ những cụ già lớn tuổi cỡ tuổi bố mẹ tôi, nhìn xuống tôi bằng tấm lòng trìu mến; hoặc ở những cô em nhỏ trong hàng em út, con cháu, nhìn lên tôi bằng tình cảm ngưỡng mộ. Với những người này, tôi không bị bận tâm bởi lòng ganh ghét đố kỵ, do đó mà cũng tự cởi bỏ cho mình cái mặc cảm sợ hãi phụ nữ như đã nói ở trên. 

Với bạn trai, tôi được quý trọng và cảm nghe rất thoải mái trong sự giao thiệp với họ. Họ không hề tỏ ra chút nào tính cách khiếm nhã với tôi. Cho dù có ngồi với nhau trong những cốc rượu, những điếu thuốc lá được liên tục đốt thì họ vẫn không cho đó là điều đáng ngạc nhiên để có được về tôi những cái nhìn sai lệch.

Trái lại, với những phụ nữ cùng trang lứa, tôi thấy như dường khó chịu, lúng túng mỗi khi hiện diện trước mặt họ. Dẫu rằng không thiếu những phụ nữ vẫn tỏ ra ưa thích khi nghe tôi đàn, hay khi đọc các bản văn tôi, thì luôn luôn tôi vẫn cứ giữ một cảm nghĩ mơ hồ rằng một lúc nào không xa, những tình cảm này sẽ biến mất theo sự đố kỵ trong lòng họ để từ đó cũng sẵn sàng “đâm lút cán dao” vào trái tim vốn đã từng rất nhiều lần bị thương của tôi!

Có những câu chuyện tức cười đã xảy ra như những chứng minh cho điều tôi viết.

 

* Một nữ độc giả quen biết bà chị dâu tôi ở bên Tây, được chị cho mượn đọc tác phẩm Nhật Nguyệt I tôi gửi qua cho chị. Đọc xong, người nữ này đâm “mê” tôi, về nhà hết lời ngợi khen TTBG và nài nỉ ông chồng cùng đọc tác phẩm. Ông này đọc xong, đâm cảm động như vợ theo vị tác giả xa lạ, nên sau khi đã đọc hết số sách của tôi từ bà chị dâu, đã dặn chị: “Hễ có cuốn nào của TTBG gửi sang, xin đừng quên cho tôi xem với nghe?” Đến một hồi, chị dâu tôi không thấy vợ chồng người nữ độc giả kia liên lạc nữa; tìm hiểu mới biết, cái tên TTBG và những gì liên quan đến TTBG từ lâu đã phải bị “cấm” không được thốt ra nơi miệng ông chồng!

 

* Một anh nhà văn (xin được giấu tên) trước khi đi Mỹ theo diện HO, đã từ Thế Phong mà đọc các bản văn của tôi, đâm“ái mộ” tôi lắm! Qua Mỹ trước một mình, anh (và Phan Diên, dạo Phan Diên mới quen tôi) vẫn thường liên lạc    điện thoại với tôi để đàm luận chuyện văn chương. Nào dè bẵng đi thật lâu, không thấy anh gọi, điện thoại đến nhà anh cũng không ai bắt. Mùa hè 2000 về Dalat, kể chuyện này cho Thế Phong và Đông Sơn nghe, tức thì Đông Sơn bật ngay tiếng cười khà khà: “Bị cấm rồi! Đương sự viết thư về cho tôi, có câu thế này: ‘Bà vợ tôi đã sang. Từ nay nếu có thư cho tôi xin đừng nhắc gì đến bông giấy hay bông bụp nữa!”

* Một anh nhà văn ở San Jose, viết chẳng được hay nhưng có bà vợ “quá hay” trong việc kềm giữ chồng. Anh giao thiệp với tôi trong tính cách một tay viết cho tờ Văn Uyển. Đến một hồi, không thấy anh xuất hiện tại nhà tôi nữa, có gặp ngoài đường thì đành thú thật: “Vợ tôi nó ghen quá, cấm tôi không được giao thiệp với chị, không được gửi bài cho Văn Uyển. Chị bỏ lỗi cho tôi!”

* Lại một thi sĩ ở Houston, quý những dòng văn chương tôi mà làm quen và gửi các bài thơ đến đăng trên Văn Uyển. Một bữa anh xin tôi một tác phẩm vì “tôi không thể kiếm được cuốn nào mang tên TTBG trong các hiệu sách ở Texas!” Cảm tấm lòng anh, tôi gửi cho anh nguyên một bộ tác phẩm của mình. Sau đó, anh gọi, (rồi lại gọi, lại gọi) để nói rằng sách không thấy tới. Đến một lúc anh chưng hửng la lên: “Thôi! Lại là cái trò của con vợ tôi! Nó chưa hề gặp BG, cũng không đọc chữ nào của BG mà cứ ghen lồng ghen lộn theo BG. Tôi có nói với nó: Cuộc đời người ta đau khổ không hết, còn tâm trí nào tính chuyện yêu đương mà bà ghen với người ta.” Lần khác, anh thú nhận: “Thùng sách BG gửi, nó nhận từ tay ông bưu diện, đem quăng vào thùng rác lâu rồi. Bữa nọ gây gỗ, nó mới xì ra hết với tôi!”

Trên đây chỉ là những điển hình chứng minh giùm cho cái tánh sợ đàn bà của tôi. Cái chuyện “tàn nhẫn quăng sách TTBG vào thùng rác” để khỏi tới tay ông chồng ái mộ TTBG cũng là chuyện quen thuộc.
Người vợ Phan Diên thì không thế. Tuy chỉ gặp chị hai lần tại San Jose, nhưng nơi chị, nụ cười rất ấm đã đánh tan ngay giùm tôi cái ấn tượng sợ hãi đàn bà. Ở lần gặp thứ nhất, cái ý nghĩ: “Phan Diên chẳng những có tài chinh phục được lòng quý mến của mình, lại còn cả tài ‘tề gia’ nữa!” vụt qua trong đầu tôi, đã được củng cố mạnh hơn ở lần gặp thứ hai từ người vợ Phan Diên hoặc qua các lần chị bắt điện thoại tôi, đưa lại cho anh.

Tuy nhiên nếu nói cho công bình, thì chẳng phải chỉ riêng Phan Diên, mà cả người vợ anh cũng “có tài” nữa. Cái tài của chị nằm ở chỗ “biết làm sang” cho chồng trong sự chịu đựng cái tánh “trăng hoa” của chồng, biết đè nén lòng ghen thông thường của phụ nữ để giữ vững mái gia đình được hòa thuận ấm êm cho tới ngày hôm nay. (Một cái tài mà muôn đời tôi không vói được bằng chị.)
Anh bạn tôi tuy không “tài hoa” nhưng lại rất “đào hoa”! Anh đi đâu là có người đẹp theo tới đó.

Bà vợ hai ở Sàigòn có một đứa con với anh, tôi cũng đã gặp trong bữa tiệc cưới con gái Thế Phong mùa hè năm 2000. Ngồi cạnh chị trong bữa tiệc, ngạc nhiên thấy chị còn duyên dáng xinh xắn mà lại phải chịu cảnh phòng không gối chiếc, tôi hỏi chị: “Sao chị có thể chịu đựng được cảnh nghìn trùng xa cách trong tình chồng vợ như thế?” Chị chỉ cười: “Duyên nợ cả cô à!”

Về Mỹ hỏi chuyện Phan Diên, anh cũng cười: “Lén lút yêu nhau, có con với nhau, 17 năm sau mới gặp lại, thấy bả vẫn ở vậy nuôi con, nên thuyền & bến sáp lại với nhau!”“Thế chị Bonnie có biết?”“Biết chứ! Nhưng bả thật tốt, không nói gì vì biết tánh tôi không thể bỏ rơi con tôi. Lại còn cho phép tôi mỗi năm về Việt Nam ở với bà kia một tháng!” (Chị Bonnie là người đến trước nhưng không có con với anh.) 

Rõ là tài tình, anh bạn tôi! Nói theo kiểu Thế Phong thì “Nhờ con mắt ngơ ngơ mà lại chứa đầy một khối thông minh nên Phan Diên mới làm cho cuộc đời đào hoa của mình suýt trở thành hoa đào rã cánh!”
Cái “suýt bị”“không bị” cũng đã chính nhờ ở tay chị Bonnie. Phan Diên đã thật may mắn có được bên mình một người vợ như chị Bonnie. Viết ra điểm này, tôi không phải là đang đi vào bước chân “áo thụng vái nhau” của giới văn nghệ, mà là “một sự thực không thể chối bỏ” như cái tựa của một tác phẩm, nguyên nhân cho bài viết khởi đầu bước văn nghiệp của đời tôi, cách đây gần hai mươi năm(*).

Cái Đẹp không chỉ nằm ở một khía cạnh nơi con người hay cuộc đời, mà là ở khắp mọi nơi trên con người và cuộc đời ấy. Với con người, phần trái tim quan trọng hơn hết. Phan Diên và vợ đã có cơ duyên nắm được trong tay và hiểu rõ cái Đẹp của lòng chung thủy trong tình chồng vợ. Đó là một cái Đẹp của trái tim, điều đáng giá hàng vạn lần so với rất nhiều thứ khác trong cuộc đời. (Lại phải trở lại với chữ “tài” ở trên tôi viết.)

Người xưa bảo: “Nhất âm nhất dương chi vị đạo”.
      

Một họa sĩ hiểu được cái đạo làm người”, đã dùng cây cọ tâm hồn để vẽ nên một bức tranh của đời sống đôi lứa –căn cơ của mọi điều trong cuộc sống— phô bày cái đẹp của lòng chung thủy, ca tụng cái nghĩa tào khang tấm mẵn, thì có cần gì sử dụng cây bút lông để tìm kiếm thêm cái đẹp từ những bức tranh cụ thể khác. Sự công bình của Thượng Đế tỏ rõ trên con người và cuộc sống bạn tôi, chính ngay từ điểm “Tài” này mà đi.
            “Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ Tài”
            như Nguyễn Du viết, là thế!

 


(*)Một Sự Thật Không Thể Chối Bỏ”, một cuốn sách của Đào Văn Bình, được TTBG phê bình và vạch ra những cái dở trong tác phẩm vào năm 1988, mở màn cho loạt bài mang chủ đề Sự Thật kể từ đây trong các tác phẩm TTBG.

 

3
.

Cũng như Phan Diên mê hội họa, Hoàng Vũ Đông Sơn, tác giả cuốn Tháng Hai Buồn Đọc Lại Lỗ Tấn (NXB Văn Uyển, 2002) cũng là một “người bạn đồng nghiệp vong niên” của tôi, rất mê chữ nghĩa. Khổ nỗi, mê không có nghĩa là “có tài” trình bày ra trong chữ nghĩa riêng cái mê của mình để thu hút kẻ khác. Cái lối viết văn của anh cũng khề khà như các câu chuyện anh nói, đâm làm mất tính chất sinh động cần thiết phơi bày trên trang giấy. Tánh anh lại “lề mề lễ mễ” kiểu các ông già Bắc Kỳ cổ, một cá chất vẫn làm đề tài cười cợt cho lũ em út ở Dalat của tôi. Anh cũng biết điều đó, nhưng không hề giận nếu thảng hoặc có nghe tôi hoặc đứa em Dalat nào bực mình theo sự đợi chờ anh lâu lắc trong một cuộc chơi, để đưa ra nhận xét về anh như thế. Nhờ vậy, trong cả đám, những mùa hè tôi và Âu Cơ về Dalat, ai cũng thấy “sự có mặt của anh Đông Sơn là cần thiết trong các cuộc vui của tụi mình”. 
Một ngày cuối tháng Sáu trong mùa hè 2000, khi vừa cùng Âu Cơ bước chân ra khỏi phi trường Tân Sơn Nhất lúc 11:45 khuya là tôi đã được một người đàn ông cao lớn, khuôn mặt phương phi, cái dúm tóc được búi tó sau gáy, cùng với Thế Phong, tiến đến bắt tay tôi: Hoàng Vũ Đông Sơn.  Để rồi cũng ngay khi ấy, anh và Thế Phong --theo lời mời của tôi trong các lá thư gửi từ Mỹ—đã “khăn gói lên đường trực chỉ hướng núi cao” cùng với đám em Dalat và mẹ con tôi.

 

Trên đoạn đường thiên lý giữa khuya, suốt những câu chuyện nổ như bắp rang trong kỳ gặp gỡ thứ nhất của Thế Phong và tôi, anh chỉ ngồi im trong thái độ rõ ràng rất hưởng ứng. Cũng từ đó, điều “khăn gói tháp tùng” này trở thành thông lệ không bỏ của hai anh trong các mùa hè Việt Nam của mẹ con tôi.

Cũng như Phan Diên, Thế Phong hoặc Văn Quang, Đông Sơn là người “rất có lòng” với mẹ con tôi. Anh hay “chiều” theo những cái gì tôi thích. Biết tôi ưa ăn cà pháo mắm tôm, trong các bữa ăn tại nhà anh, món gì cũng có thể thiếu chứ hai món này phải là món hàng đầu mà người vợ anh khi đi chợ “sẽ không bao giờ quên đem về.”
Có điều, cũng vì cái tánh “lễ mễ lề mề” đáng bực mình nhưng cũng đáng yêu đó mà nhiều khi “trật đường rầy” cho tôi trong sự chiều đãi. Ví dụ:

 

Một lần mùa hè 2001, anh đưa tôi đi thăm khắp Sàigòn trên chiếc xe gắn máy cà tàng của anh, đến công viên đối diện nhà thờ Đức Bà, anh dừng xe ghé vào một quán rượu lề đường, gọi một xị rượu và dĩa mồi khô. Tôi đang chưa hiểu gì thì anh đã nói:
                “Để cho cô có dịp tìm lại thời gian đã mất!”
                Lúc ấy mới ngẩn ra:
                “Ý anh muốn nói câu chuyện Trân Sa với các quán rượu Con Rùa hay quán rượu ông già?”
                Anh gật thì tôi phá lên cười:
                “Xưa hơn dĩ vãng rồi anh Đông Sơn ơi! Trân Sa bây giờ chỉ nằm trong tim hay trong sách BG chứ đâu còn nằm ở đây mà anh giúp BG đi tìm thời gian đã mất?”
(Một thoáng thật nhanh thấy ra cái trật đường rầy của anh trong hai hình tượng ngộ nghĩnh: Anh đâu phải là Nguyễn và Sàigòn bây giờ đâu phải là Sàigòn của tôi với Nguyễn ngày xưa!)

*
* *

            Khi biết ra câu chuyện “Uyên Thao vì sợ cháy thành vạ lây, đã đòi rút tên khỏi tác phẩm Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga tôi đang viết; nhờ đó mà tôi xóa bỏ trọn vẹn 518 trang cũ để làm thành hơn 800 trang hoàn toàn mới như hiện tại”, Đông Sơn tỏ ra “ngưỡng mộ” điều ấy lắm. Trong một cuộc điện đàm Cali-Sàigòn, tôi nói với anh:
            “Sự việc xảy ra giống như cái lần anh em mình cùng đi Dalat, lên tới Đèo Chuối tưởng là cao, tới Bảo Lộc thấy cao hơn một bậc, chừng tới đỉnh Lâm Viên, nhìn lại Đèo Chuối mới thấy thấp lè tè còn hơn một bụi chuối! Thì trong cái rủi luôn luôn có cái may, anh ạ. Đèo Chuối là ví nhân vật kia ở 518 trang LÚC CHƯA BỊ HỦY, còn đỉnh Lâm Viên là ví hình ảnh ông bà già BG với tác phẩm hơn 800 trang đang HOÀN TẤT trong tay. Nhờ thế mà vô cùng cám ơn nhân vật đòi rút tên để từ đó mới thấy được cái đỉnh Lâm Viên như hiện tại.”
            Bất thần giọng Đông Sơn vang lên bên kia đầu giây:
            “Người ta được làm Đèo Chuối đã không chịu; còn Đông Sơn rất mong được làm một bụi chuối trong Điệu Múa Cuối Cùng Của Con Thiên Nga lại chẳng xong!”
            Tôi ngớ người. Lại nghe anh cười khà khà:
            “Nhưng có là nằm mơ bởi vì cho đến hết đời, Đông Sơn cũng đâu dám nghĩ đến chuyện đứng chung hàng ngũ với các ‘đại gia’ văn nghệ.”
            Qua cái ngớ người, tôi bật cười to:
            “Sao lại không? Đây là tác phẩm ‘trả nợ ân tình’ của BG mà! Nó được ví như một bữa tiệc BG mở ra, mời mọi người Thân người Bạn, người Tình đã từng đi qua đời mình cùng nhập cuộc. Trong bữa tiệc sẽ có anh mặc áo rách, có anh mang áo veste, nhưng điều quan trọng là ai cũng được mời ngồi ngang hàng trong bàn tiệc. Riêng anh, dù áo rách hay veston thì cũng là bạn BG, anh vẫn có quyền ‘đòi quyền lợi’ cho mình chứ!”
            (Nói, tức là tự trói mình vào lời nói, tôi ngồi xuống viết bản văn  này ngay sau khi dứt cú điện thoại với Đông Sơn sáng sớm hôm qua).
           

 

4
.

            Tình thân giữa Đông Sơn và tôi nẩy sinh hẳn nhiên là từ những kỷ niệm Dalat với nhau, nhưng trên hết, chính là nhờ vào tấm lòng chị Thanh Phương, người vợ anh, mà cái độ thân mới kéo dài được lâu như vậy. Chính cái tính cách rất dễ thương của chị đã vô tình làm cho “chữ nghĩa chẳng mấy tài hoa” của Đông Sơn trở thành không quan trọng trong tình bạn từ tôi, (một con người chẳng những khó tính trong chuyện kết bạn, lại còn rất khó tính trong chuyện văn chương nữa). Từ những lời nói ân cần của người đàn bà vóc dáng gầy mỏng ấy đã làm dậy lên trong tôi sự ngưỡng mộ theo một mái ấm mà anh bạn tôi đang có được trong tay.

            [Tôi có cái tánh lạ, dẫu rất thẳng thắn với đàn ông nhưng lại vô cùng nhỏ nhẹ với phái nữ. Luôn luôn tôi nghĩ về đàn bà như những con chim mỏng manh cần được bảo bọc và tha thứ những cái gì họ không suy nghĩ tới. Nếu nói rằng “thành công với tình cảm đàn ông” là điều quen thuộc, thì bên cạnh lòng đố kỵ ghét bỏ của RẤT NHIỀU phụ nữ đã dành cho, tôi cũng còn có được lòng quý trọng hiếm hoi nhận lãnh từ “những người đàn bà thật sự là đàn bà.”] 

            Có thể nói trong đời, tôi không hề có một bữa ăn giấc ngủ đàng hoàng theo tính cách một người định cư cuộc sống. Điều đó nảy sinh từ cá tính RẤT KHÔNG MÀNG đến hai thú vui lớn nhất của con người thế này. Tuy được mẹ dạy cho nấu ăn từ khi mới lớn, nhưng suốt đời tôi chưa bao giờ đem thực hành cụ thể những gì đã học trong cuộc hành trình đôi lứa. Bảy năm làm vợ Trần Nghi Hoàng thì cũng chỉ giống như mười năm sống đời độc thân cùng mẹ già và Âu Cơ trong hiện tại; suốt thời tuổi trẻ phiêu bạt với cây violon thì cũng y hệt như bây giờ đang cúi mình bên bàn hằng ngày với cây viết.
            Trên các lãnh vực thuộc về ẩm thực, tôi sống y hệt một người khách trong đời mẹ tôi, trong đời các đứa em tôi, và sau này trong cả đời sống các người tình, người bạn. Từ thuở nhỏ, mẹ tôi (kể lại) đã không bao giờ hỏi tôi “Con có ăn cơm không?” vì biết rằng luôn luôn tôi sẽ đáp “Dạ không!” y hệt một người khách –dù tôi đang đói bụng cỡ nào chăng nữa! Vì vậy, muốn cho tôi ăn cơm, bà phải bảo người làm hoặc các đứa em tôi: “Lên mời chị xuống dùng cơm!” hay, “Con ăn cùng với mẹ cho vui!” y như cách đối xử cùng một người khách!

                [Trong cái duyên chồng vợ với Trần Nghi Hoàng có điểm khôi hài như sau: Khi mới gặp nhau, biết cái cá tính “rất  khách kiểu giang hồ lang bạt” của tôi, hoàn toàn xem nhẹ vấn đề ăn uống, nên để giữ chân tôi (có lẽ?!) Trần Nghi Hoàng đưa ra lời thật (hay phủ dụ?!): “Mình khỏi cần mất thì giờ với chuyện nấu ăn mà chỉ nên để thì giờ làm chuyện văn chương. Nếu muốn ăn ngon, cứ ra tiệm!” Tôi tin và rất hài lòng theo điều tin này.
                Trong suốt 7 năm, tôi cũng nhiều lần chui vào bếp nhưng chỉ với tính cách thích thú nhất thời theo một món ăn vừa mới học lóm, cần đem ra thử nghiệm cái học, hoặc vì thích tiếp đãi bè bạn.v…v mà không là công việc hằng ngày như một bổn phận của một người vợ. Cho đến hồi cơm hết lành canh hết ngọt, Trần Nghi Hoàng phàn nàn với mẹ tôi rằng tôi “Không biết làm vợ, không chịu nấu ăn!” thì tôi bảo Trần Nghi Hoàng: “Cứ việc đi tìm người đàn bà thích nấu ăn,      chẳng cần làm cái hành động phản bội những lời đã giao ước để bào chữa cho sự MUỐN bỏ đi của mình!”
                Ngay với Âu Cơ mười năm qua cũng vậy, tôi cũng chỉ là “khách” với nó trong lãnh vực đó. Thích thì hai mẹ con “mời” nhau đi tiệm; còn không thích, mẹ một góc phòng, con một góc phòng, mỗi người “ăn với cuốn sách” của mình chứ không phải là bữa ăn chung giữa mẹ con.
                Chỉ riêng mẹ tôi, phải thú nhận, vì cá tính “khách trong việc ăn uống” không thay đổi được của mình mà tôi rất đau lòng khi phải nhìn thấy bà ngồi ăn một mình lặng lẽ. Tôi viết ra điều này như một lời thú tội cùng mẹ, mong bà tha thứ cho tôi. Chính vì đã mấy chục năm trôi qua, tôi không hề –hay rất ít khi—ăn cơm gia đình với mẹ tôi mà đã tập thành trong tôi một thứ phản ứng kỳ cục: tôi cũng KHÔNG TỰ CHO PHÉP mình làm điều ấy với những người đàn ông của tôi, với Trần Nghi Hoàng và bây giờ Âu Cơ. Tôi nghĩ, người trên hết đáng phải nhận những săn sóc thật là nữ tính thế này chính là Mẹ tôi mà đã không được, thì chẳng bất cứ trên ai đời sẽ được tôi làm cho điều ấy, sau bà.]

            Phải nói rằng, cả hai người bạn tôi –Phan Diên và Đông Sơn—đều là hai người “có tài” trong việc “tề gia (mà khỏi cần “trị quốc, bình thiên hạ!”) Và hai người vợ bạn là hai kẻ “thẩm thấu được với lòng ngưỡng mộ” hơn bất cứ ai trên đời cái “tài” của hai đấng ông chồng mình. Cũng vì thế mà họ đã vô tình biến thành những đối tượng thật đáng ngưỡng mộ dưới mắt tôi, một kẻ hoàn toàn bất tài trên mặt xây dựng cuộc sống hôn nhân.   
            Anh chị Đông Sơn là những con người sinh ra để làm công việc góp phần vào sự tồn tại trên mặt nhân sinh của xã hội. Vì vậy, tính cách “khách” của tôi đã được thỏa mãn tối đa trong những mùa hè được mời dùng cơm chung ở mái lầu căn chung cư Cư Xá Thanh Đa. Ở những buổi chiều như thế, khi ngồi nhâm nhi cốc rượu đế rượu thuốc cùng anh Đông Sơn, nhìn ra bóng tối bắt đầu giăng trên thành phố, nhìn vào thấy chị Thanh Phương đang lui cui bày các thức ăn lấy từ bếp, quả thật không có sự thú vị nào đáng so sánh hơn trong cái tâm hồn lang bạt kỳ hồ của tôi. (Chị là người có biệt tài nấu ăn, nhất là các món Bắc, trong khi lại xuất thân vùng Bình Định. Đó cũng là một điểm rất khéo trong tính cách làm vợ một anh “Bắc kỳ cục” như bạn tôi). Đặc biệt những hôm trời mưa, trong cái không gian nhỏ hẹp mà ngồi nghe những giọt mưa đập mạnh lên mái tôle, làm thành những âm thanh giận dữ, tôi thấy lòng thật ấm khi được hòa nhập chung trong một bối cảnh êm đềm như vậy, có một người đàn ông như vậy, một người đàn bà như vậy. Hạnh phúc một đời tôi tìm kiếm, rốt lại chỉ nằm trong hai chữ “bình thường” của cuộc sống như cuộc sống hai người bạn đang bày ra trước mắt. Nhưng cái hạnh phúc đó, tôi chỉ thích đóng vai trò người khách một lúc nào dừng chân nhìn ngắm, chứ không bao giờ muốn đặt mình vào vị trícủa anh hay chị Đông Sơn. (Chỉ thoáng nghĩ  điều kia, tôi đủ phải rùng mình!)    

 

5
.

Con người tôi kỳ cục thì cái lối giáo dục con cái của tôi cũng rất kỳ cục.

[Với Vân San, một đứa con trai, tôi luôn để cho nó “tự học bài học kinh nghiệm” sau khi đã nhận những lời chỉ bảo của tôi. Lấy ví dụ: Lúc bé, Vân San thấy người lớn ăn ớt, rất tò mò thích thú. Tôi phải giảng cho nó nghe cái nguy hiểm của sự ăn ớt, nó vẫn không tin. Một bữa, thấy nó đòi, tôi đưa cho nó cắn một trái ớt hiểm. Nó chảy nước mắt. Từ đó không bao giờ muốn ăn ớt nữa, cho đến tận bây giờ!
Với Âu Cơ, tôi hay trò chuyện như kiểu hai người bạn ngay từ khi nó còn rất nhỏ; dạy cho nó những điều hơn thiệt của cuộc sống bằng chính kinh nghiệm sống dầy đặc của mình; tập cho nó cái thói quen yêu sự đọc sách, yêu lối viết Nhật Ký bằng cách đọc vào cassette tất cả những gì hằng ngày nhìn thấy, xong viết giúp nó xuống thành bài theo nguyên văn những lời trong cassette, đăng trên Văn Uyển trong mục “chữ nghĩa trẻ thơ.”
Cái lối huấn luyện đó trên Âu Cơ, ngày trước rất được Trần Nghi Hoàng ngưỡng mộ. Nhưng cũng chính từ các bài nho       nhỏ viết ra từ cassette trên tờ Văn Uyển mà sau này, “nghe theo lời phê-bình-đỏng-đảnh-làm-dáng-hiểu-biết-trí thức-nửa-mùa” của bà tình nhân nhà-văn-đỏng-đảnh, Trần Nghi Hoàng quay lại “lên án” tôi là “đầu độc tâm trí con nhỏ”, và dùng đó như “một trong nhiều cái cớ” để đặt tờ giấy ly dị trước mặt tôi!]

            Tôi vẫn thường dạy Âu Cơ:
“Mọi người trong đời, ai cũng đều có một cái tài riêng! Vì vậy, đừng bao giờ khinh thường ai hết. Biết đâu sau này, chính ngay kẻ bị mình khinh thường đã nổi bật vì cái tài của họ, nhìn lại, mình sẽ thấy tự rất mắc cỡ.”

 

            [Như đã nói, kể từ khi “trở cờ” thì Trần Nghi Hoàng hay lên án tôi đầu độc tâm hồn Âu Cơ bằng cái lối giáo dục như vậy. Nhưng tôi không nghĩ thế. Trong hai đứa con, tôi sẽ không bao giờ nói được với Vân San những lời như đã nói cùng Âu Cơ. Âu Cơ thâm trầm sâu sắc hơn anh rất nhiều ở mặt suy nghĩ, nếu không nhận từ mẹ những lời chia xẻ kiểu đó, hóa ra rất uổng và chính tôi là kẻ có tội. Ngọc quý phải được mài giũa đúng cách, nếu không, hoặc là sẽ bể, hoặc sẽ không sáng; thì những điều ấy chẳng phải lỗi tự ngọc mà là lỗi ở người giữ ngọc đã không biết cách mài cho nó đừng bể, hoặc làm cho nó sáng ra.]

Thì có lần, để “trả đũa” câu nói tôi, nó hỏi ngược:

“Mẹ bảo ai cũng có tài, vậy chú Hiếu có tài gì?”

 

[Hiếu là một thanh niên trẻ, sống độc thân, tâm tính hiền lành, yêu nghệ thuật và biết quý trọng người tài. Có một dạo khá lâu, cậu cưu mang Đăng Lạt, anh bạn họa sĩ tài hoa của tôi, trên mặt đời sống vật chất. Khi đến ở trọ một căn phòng trong nhà tôi, cậu cũng vẫn rất đàng hoàng nghiêm chỉnh. Đùng một cái, thấy tiền nhà bắt đầu bê trễ, mọi thức ăn miếng uống đều xuống xin của mẹ tôi, ai cũng ngạc nhiên vì cậu, nhưng không lưu ý.

Một bữa, Hiếu nhờ tôi: “Sáng mai chị lên phòng em, đánh thức em dậy giùm, kẻo thôi em lại trễ buổi phỏng vấn của một sở làm mới.” Tôi thấy lạ, nhưng không hỏi. Sáng mai đúng giờ, lên đánh thức giùm Hiếu, khi mở cửa, thấy nồng mùi khai thối bốc ra từ phòng cậu. Đợi cậu đi rồi, tôi lại lên hé cửa nhìn vào thì kinh ngạc nhìn thấy mấy chục cái ly thủy tinh trong nhà tôi, có những cái dùng đãi khách, rất đẹp --bấy lâu tự dưng biến mất—bây giờ đang nằm thành hàng dài trong phòng. Bên trong mỗi ly đều có chứa đầy một chất nước màu vàng. Tưởng nước trà, lại chỉ là nước tiểu!

Cái điều mọi người nghi ngờ cậu vướng vào hút xách, lúc này được xác định là thật. Vì thế mới có cái chuyện bê trễ tiền nhà, chuyện cứ đêm đêm cậu lại mò xuống đường chờ một kẻ nào đó dừng xe gặp cậu rồi đi ngay, chuyện cậu đổi sở làm liên tục, chuyện không thấy đi lại sinh hoạt với gia đình tôi như trước... Hóa ra vì “phi tận mây xanh” nên ngay cả chuyện vào toilette cũng chỉ được thế bằng những cái ly uống rượu trong nhà tôi.]

            Trở lại câu hỏi Âu Cơ; biết nó “hỏi khó” mình về chuyện chú Hiếu, tôi bật nói trớ:
            “Chú Hiếu cũng có tài chứ! Tài đái trong ly! Thử hỏi con và mẹ hoặc bất cứ người nào trong nhà mình có làm được như chú?”
            Nó lắc đầu le lưỡi.      
             Biết là cưỡng ép với con, nhưng tôi vẫn nói như trên để giữ vững niềm tin tốt đẹp về con người trong nó. Thấy nó gật gù ra vẻ công nhận, tôi giải thích thêm:
             “Cái tài là điều nói lên sự đặc biệt nào đó của một người mà kẻ khác không có. Tùy theo sự sử dụng thế nào mà cái tài riêng của từng người sẽ trở nên có ích hay không cho mọi người. Ví dụ nếu con đem cái tài trong con đặt vào chuyện học hỏi nghệ thuật thì sẽ trở nên một họa sĩ, một nhà văn, hay một nhạc sĩ làm lợi ích cho kẻ khác. Còn nếu con đem vào chuyện xấu, cái tài đó sẽ biến thành việc ‘đái trong ly’ như chú Hiếu, chẳng ích lợi cho ai, mà còn làm phiền mẹ phải tốn tiền để mua những cái ly.”
              Đó chỉ là câu chuyện vui giữa mẹ con!

            Trong cuộc sống ở Mỹ, đặc biệt giới văn nghệ, tôi đã gặp nhiều người “tự nhận mình có tài” nhưng phẩm hạnh hoàn toàn không có thì cái tài ấy, theo tôi, cũng chỉ đáng liệt vào loại “tài đái trong ly!”

               [Một câu chuyện:

Dạo Trần Nghi Hoàng mới bỏ đi, vì không muốn để mẹ tôi nghĩ rằng tôi bị ảnh hưởng theo điều đó, nên mỗi cuối tuần, tôi vẫn “mở cửa tiếp các văn nghệ sĩ”. Rất nhiều vị ở San Jose, đàn ông cũng như đàn bà, hưởng ứng các cuộc vui ở phòng khách nhà tôi. Đó là cái bến của những phụ nữ lỡ làng đi tìm “một tình nhân trong giới văn nghệ”. Đó là những dịp cho tôi được nghe những câu chuyện “ngồi lê đôi mách” của đàn ông thuộc cái giới này. Cũng là dịp giúp tôi càng lúc càng khám phá thêm những điều khác biệt giữa tôi và họ.

Một bữa, ngồi chung trong cuộc rượu chừng 10 người, toàn là những khuôn mặt “nổi” của giới trí thức văn nghệ San Jose, thi sĩ Dương Diên Nghị hỏi tôi, điệu rất hí hửng:

 

“BG không bao giờ đi ra khỏi nhà nên chắc không biết chuyện tò tí giữa ông Hà Thượng Nhân với bà thi sĩ Huệ Thu, vợ ông nha sĩ Bùi Ngọc Tô, ở San Jose đang nổ lớn?”
(Thật sự tôi biết rõ chuyện đó đã lâu do từ một anh bạn văn cứ ưa bảo tôi nên viết ra trong Một Truyện Dài Không Có Tên câu chuyện “họa qua họa lại như một lối trao tình đú đởn” (lời anh bạn) các vần thơ đăng trên các nhật báo giữa hai nhân vật này, nhưng tôi từ chối.) Dù vậy, với Dương Diên Nghị buổi đó, vì không muốn làm cụt hứng anh, tôi nói: “Em chỉ nghe phong phanh. Còn anh, sao lại biết?”

               Dương Diên Nghị ưỡn người, giơ tay chỉ chỉ vào ngực mình, giọng kiêu hãnh: “Chính anh có mặt trong các lần gặp của họ. Cả thằng Dzạ Chi nữa.” (Anh quay sang Dzạ Chi, một tay làm thơ ở San Jose. Dzạ Chi gật đầu.)

               “Này nhé”, Dương Diên Nghị tiếp, “cứ mỗi lần muốn gặp nhau là bà Huệ Thu lại lái xe đến chở anh tới nhà ông Hà Thượng Nhân; bà đậu xe chờ, cách một quãng đường. Phần anh vào xin phép bà Hà Thượng Nhân cho ông đi cùng với anh, đến một sòng mạt chược. Bà Hà Thượng Nhân chỉ tin anh thôi! Trong ý nghĩ bà, hai người bọn anh đi bộ ra trạm xe buýt, mà thật thì đến cái xe của Huệ Thu đang chờ. Lên xe, chở đến nhà Dzạ Chi cho hai người tình tự, xong lại chở trở về, có anh đem ông Hà Thượng Nhân vào giao lại cho khổ chủ!”

Tôi nghe xong, trong lòng nổi lên cảm giác rất khinh ghét nhưng ngoài miệng vẫn chỉ là một cái cười lãnh đạm. Dương Diên Nghị và mọi người như cùng đắc ý với sự việc “TTBG ngu ngơ quá!” Một cái tin “động trời!” như vậy mà cũng không biết!

Vẻ mặt Dương Diên Nghị rất hớn hở ra điều kẻ cả: “Là nhà văn, BG phải nên đi ra ngoài để tường trình mọi sinh hoạt chung quanh!”

Tôi cười lạt: “Em đâu cần đi ra ngoài làm chi cho mất thì giờ mà vẫn biết hết mọi chuyện từ các anh đó chứ? Vậy thì từ nay em có quyền gọi anh là thi sĩ ma cô, còn Dzạ Chi là thi sĩ chủ chứa phải không?”

Tức thì sự chưng hửng đổ xuống rõ rệt trên từng khuôn mặt các người hiện diện. Tất cả im lặng, đôi mắt ai nấy đều ánh lên tia thảng thốt. Tôi tỉnh bơ nói tiếp:

“Không đúng sao? Một người như ông Hà Thượng Nhân đã quá già mà còn vướng vào chuyện tình ái thì đó là cái nghiệp của ổng phải trả ở kiếp này chưa dứt. Còn các anh, những người tự nhận văn nhân thi sĩ, sao cũng gánh vào mình việc làm thị phi tổn đức kia? Nếu đã gọi là bạn ông Hà Thượng Nhân thì nên khuyên nhủ ổng đừng làm như vậy, sao lại tiếp tay cùng ổng. Còn như muốn vì lòng riêng(*) mà ‘trả thù’ ổng, thì dẫu không thương ổng được, cũng nên thương giùm vợ con cháu chắt nội ngoại xui gia hai đàng của ông ta? Sao lại đem kể tùm lum câu chuyện của ổng như đang kể cho em nghe hôm nay? Em là người cuối cùng biết chuyện như các anh nói, vậy trước cái cuối cùng này, cả khối thiên hạ đã biết từ miệng lưỡi rắn độc của các anh!”

Hai ông khách, một vị đã già lắm, và Lê Đình Cai, một vị có bằng Ph.D (về ngành gì đó, tôi không rõ?) ở San Jose, sau một hồi im lặng, đã gật gù bày tỏ: “Bông Giấy nói đúng!”]

            Từ đó, tôi đóng cửa hẳn với giới văn nghệ hải ngoại, phần lớn chỉ có tài “đái trong ly”, không muốn cho những cái RÁC tự tìm đến mà làm bẩn căn nhà tôi nữa.
            []

(San Jose, thứ hai, Oct 3/2005)
[]

 


(*) Giữa thi sĩ Hà Thượng Nhân và thi sĩ Dương Diên Nghị đã từng xảy ra một trận bút chiến, công kích nhau dữ dội, dằng dai nhiều kỳ trên các báo tại San Jose; không hiểu sao sau đó lại bắt tay huề và cứ ưa rủ nhau đi đánh mạt chược!?

 

© 2008 www.tranthibonggiay.net